MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
VĂN XUÔI 1975-2000
MỞ ĐẦU
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi mở ra cho đất nước một thời
kỳ phát triển mới - thời kỳ tiến lên xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Hòa chung trong
1/ 18
không khí ấy, văn học cũng có nhiều thay đổi. Sự chuyển tiếp từ thời chiến sang thời
bình với những quy luật của nó, nhất là dưới tác động của công cuộc Đổi mới do
Đảng khởi xướng đã dẫn đến những bước phát triển quan trọng của văn học. Văn
xuôi giai đoạn 1975-2000, cùng với sự đa dạng về đề tài, chủ đề là những tìm tòi,
cách tân của các thế hệ cầm bút về nghệ thuật, được thể hiện chủ yếu trên các
phương diện: thể loại, ngôn ngữ, cốt truyện và kết cấu.
NỘI DUNG
1. Thể loại
Từ sau năm 1975, văn xuôi Việt Nam phát triển khá đồng đều về thể loại,
trong đó nổi bật hơn cả là phóng sự, ký, truyện ngắn và tiểu thuyết.
1.1 Phóng sự
Phóng sự, báo chí là nguồn động lực quan trọng tạo đà, mở đường cho công
cuộc đổi mới văn học. Những năm 80 của thế kỷ XX, vai trò to lớn của báo chí,
phóng sự đối với công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới nền văn học được khẳng
định, nhấn mạnh. Chúng ta đã có được một kho tàng rất phong phú về báo chí hiện
đại. Cho đến thời điểm này thì nước ta đã có tới gần 700 tờ báo và tạp chí với nhiều
hình thức phong phú: báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử… Những vấn đề thời sự
bức xúc nhất của văn học bao giờ cũng được báo chí “khơi ngòi”, báo chí luôn là
thành phần giữ vai trò khởi xướng. Đảng cộng sản Việt Nam phát động công cuộc
đổi mới văn học cuối thế kỷ XX có lẽ được bắt đầu từ những phóng sự đăng trên báo
Văn nghệ như : Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc, báo Văn nghệ, 1986), Lời
khai của bị can (Trần Huy Quang, báo Văn nghệ, 1987)…
Sau sự bùng nổ của phóng sự là những tiểu thuyết - phóng sự ăm ắp tư liệu
mẽ.
Báo chí, phóng sự cung cấp cho nhà văn rất nhiều tư liệu quý báu, trong đó
phần lớn là những vấn đề nóng, không những giúp cho nhà văn viết tốc độ hơn mà
còn có nhiều cơ hội để nhìn thẳng vào sự thật hơn, nói thẳng và nói thật hơn. Báo
chí trở thành cầu nối quan trọng giữa tác phẩm của nhà văn với công chúng. Tính
thời sự của báo chí làm cho văn học thêm tốc độ góc cạnh, sắc sảo, linh hoạt, bút lực
của nhà văn cũng trở nên lớn hơn. Rõ ràng sự gặp gỡ giữa báo chí và văn chương đã
tạo ra một nguồn năng lượng rất to lớn để có thể bùng nổ những tài năng của nghệ
sĩ. Báo trong văn sẽ làm cho văn chương sắc hơn nhưng ngược lại văn trong báo lại
làm cho báo thêm sâu hơn, nhân tình hơn. Ta tìm thấy được mối quan hệ giữa tính
thông tấn của báo chí và tính thẩm mĩ của văn chương. Tính thông tấn của báo chí là
3/ 18
nhằm thu thập những tin tức để cung cấp cho công chúng những thông tin bổ ích. Vì
tính quần chúng của nó mà những bài viết, những thông tin trên mặt báo đều mang
đậm tính thẩm mĩ, tức là nó phải mang nội dung bổ ích, câu văn phải được trau
chuốt kỹ lưỡng. Tính thông tấn của báo chí và tính thẩm mỹ của văn chương quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tính thẩm mỹ sẽ tạo nên được những bài viết hay, và
tính thông tấn sẽ truyền tải đi những thẩm mỹ ấy để từ đấy hình thành trong độc giả
những ý thức thẩm mỹ đúng đắn và tích cực.
1.2 Ký
Ký thường được coi như thể loại trung gian giữa văn báo chí và văn sáng tác,
nó thiên về thông tin cập nhật, số tác phẩm đạt nghệ thuật cao còn hiếm. Dù vậy
đây cũng là thể loại mang bản chất lịch sử rõ nhất, ký sau năm 1975 cho thấy nó tự
khác với chính mình ở giai đoạn trước rất nhiều. Thể ký trong văn xuôi Việt Nam
giai đoạn 1975- 2000 tiếp tục đá phát triển của văn học 1945-1975 và gặt hái được
những thành tựu nhất định. Nếu như thể ký trong giai đoạn văn học 1945-1975 , các
nhà văn của chúng ta cũng có phần coi trọng nội dung xã hội - lịch sử cụ thể, coi nó
như cơ sở chất liệu chủ yếu để xây dựng tác phẩm. Tuy nhiên, họ lại thiên về việc
nhào nặn, chế biến lại tư liệu mà ít chú ý đến việc vận dụng. Tư liệu còn lại trong
tác phẩm không phải là tư liệu “thứ thiệt”, tư liệu “chính cống” nữa mà chỉ là sự
Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn
1.3 Tiểu thuyết
Giai đọan 1975-2000, tiểu thuyết vẫn là thể loại giữ vai trò chủ đạo, nó bộc lộ
được ưu thế của mình trong cách nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con
người sau cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước trong sự vận động và phát triển của
xã hội
Tiểu thuyết từ sau năm 1975 được đánh giá qua hai mốc thời gian: 1975-1985
và 1986-2000. Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết vẫn được viết theo
lối cũ: nghiêng về các sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng, những
nguyên tắc chuẩn mực của phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa chi phối, cảm
hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể mà chưa có sự sáng tạo mới mẻ nào: Năm 75
họ đã sống như thế nào (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Đồng
bạc hoa xòe (Ma Văn Kháng)… Bước sang thời kỳ đổi mới - những năm 1986, trong
không khí của dân chủ của đời sống văn học thì tiểu thuyết mới thực sự bùng phát,
thăng hoa và gặt hái được một mùa bội thu. Chính sự đổi mới này đã làm cho tiểu
thuyết có một diện mạo mới. Thể tài và kiểu dạng trở nên phong phú và đa dạng
5/ 18
hơn. Trên phương diện thể tài, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã triển khai và đi sâu vào
cái hiện thực hằng ngày, cái đời thường của đời sống cá nhân. Vấn đề con người,
vấn đề cái riêng trở thành mối quan tâm của nhà văn. Thể tài chiến tranh, cách mạng
và dân tộc dần nhường chỗ cho thể tài thế sự và đời tư. Nhà văn tiến sâu vào hiện
thực đời sống, vào thân phận và cuộc đời của con người: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),
Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc
Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), … Nhà văn
đã mạnh dạn nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch của con người: Hai
Hùng trong Ăn mày dĩ vãng, Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, Vạn trong Bến không
chồng,… đồng thời nhà văn cũng mạnh tay mổ xẻ, phơi bày nó bằng những cái nhìn
trung thực, táo bạo. Thể tài của văn học giai đoạn này nghiêng hẳn về thế sự, đời tư,
Đây có thể coi là một giai đoạn có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt
Nam. Truyện ngắn giai đoạn này có những khác biệt rõ rệt so với trước đây. Những
năm 60 từng để lại những truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình. Truyện ngắn
thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn. Điểm nổi bật của truyện ngắn giai đoạn này
là dung lượng truyện ngắn nặng trĩu. Có những truyện ngắn chỉ mươi trang thôi mà
sức nặng còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên. Bước qua lời nguyền của Tạ
Duy Anh, gói gọn trong mươi trang cả một cuộc đời, một kiếp người, mấy kiếp
người vừa là tác giả vừa là nạn nhân của những bi kịch xã hội đằng đẵng một thời.
Truyện ngắn Khách thương hồ của Hào Vũ,chỉ dưới một nghìn từ mà nén chặt cả số
phận hai con người quờ quạng đi tìm một chút hạnh phúc muộn mằn, cả hai đều là
nạn nhân ở cả hai phía của chiến tranh. Sở dĩ truyện ngắn có được sức nặng như vậy
là vì nó được cả một giai đoạn văn học của phóng sự và tiểu thuyết tích lũy và chuẩn
bị cho nó.
Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài là hai cây bút nổi bật hơn cả trong
truyện ngắn. Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trong trào lưu đổi mới của văn học Việt
Nam, là một hiện tượng tiêu biểu nhất của trào lưu đó. Nguyễn Huy Thiệp là người
khởi xướng ra trong văn học Việt Nam hiện đại cái gọi là dòng văn học tự vấn. Tự
vấn là hướng nội. Nếu văn học phơi bày, tố cáo chủ yếu hướng ngoại, thì văn của
Nguyễn Huy Thiệp là văn hướng nội. Có thể nói lần đầu tiên trong văn học, con
người Việt Nam tự phơi mình ra trước con mắt cật vấn của chính mình quyết liệt
đến vậy. Chúng ta có thể kể đến một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Huy
Thiệp như Không có vua, Tướng về hưu, Giọt máu, Những người thợ xẻ, Không
khóc ở California… Bên cạnh Nguyễn Huy Thiệp là Phạm Thị Hoài - một cây bút
truyện ngắn sắc sảo và quyết liệt không kém. Sự tự vấn ở Phạm Thị Hoài tập trung
vào một đối tượng mà chị cho là quan trọng nhất của xã hội và dân tộc: tầng lớp ưu
7/ 18
tú, tầng lớp trí thức. Bằng một hệ thống chữ nghĩa sắc như dao và một thái độ không
chút khoan nhượng, thậm chí đôi lúc đến mức đanh đá, chị xoáy sâu vào những ung
nhọt vẫn bị che giấu của cái tầng lớp thường đầy ảo tưởng về chính mình đó, mổ xẻ
không thương tiếc cái tầng lớp là đại diện của xã hội, tự đặt nó đối diện với thực
liệu mình có phải là người chiến thắng? Những ám ảnh về chiến tranh cứ dằn vặt
họ, nỗi đau cứ dày vò theo năm tháng. Lúc nào họ cũng phân vân, suy nghĩ về số
phận mình, nên nhân vật được xây dựng với ngôn ngữ nước đôi, tự vấn là điều dễ
hiểu. Người kể chuyện trong văn xuôi hiện đại không còn đảm nhận vai trò của một
vị quan tòa phán xét tất cả. Điểm nhìn trần thuật không thuộc về riêng tác giả nên
tránh được cái nhìn cực đoan, phiến diện về cuộc sống và con người. Nhiều khi
trong một tác phẩm bây giờ có nhiều giọng kể, từ nhiều phía, khiến cho câu chuyện
trở nên sinh động hơn. Đọc Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của
Nguyễn Minh Châu, hay Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Ta có thể dễ dàng
nhận thấy những điều ấy. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh với hệ thống ngôn ngữ
nhiều cảm giác, Nỗi buồn chiến tranh - câu chuyện của quá khứ được quy tụ qua
cảm giác sống động, tươi mới của hiện tại. Đó là một hệ thống ngôn từ với lời kể
thiên về miêu tả, đầy các từ láy, từ diễn tả tâm trạng, cảm giác, tả thiên nhiên, với
những lời bình phẩm, đánh giá không giống ngôn từ nặng về hành động, sự kiện
của truyện truyền thống.
Ngôn ngữ đa thanh cũng được nhiều nhà văn chú trọng. Hiểu một cách đơn
giản thì đa thanh có nghĩa là lời văn đa giọng trong phát ngôn của nhà văn hoặc của
nhân vật. Nguyễn Huy Thiệp đã vận dụng và sử dụng rất thành công hình thức đa
thanh trong truyện ngắn của mình. Trong tác phẩm của mình, nhà văn tạo ra nhiều
tiếng nói của nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau trong một môi trường xã hội nhất
định để tạo ra cuộc đối thoại không khoan nhượng giữa các nhân vật. Ở đây, nhà văn
đứng bên ngoài tác phẩm, để nhân vật của mình tự do hành động, tự do thể hiện cá
tính theo logic nội tâm nhân vật. Cùng nói về một vấn đề nhưng tác giả và các nhân
vật của mình đều đưa ra cách hiểu riêng. Nhà văn không còn dùng uy thế của mình
mà bắt nhân vật hay độc giả phải theo ý mình mà ở đây có sự ngang hàng, độc giả
có thể lựa chọn cho mình cách hiểu hợp lý nhất. Như truyện ngắn Nạn dịch tả trong
chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát nói về ngôi mộ của Lù và Hếnh - nạn nhân
của dịch tả. Người già và trẻ nhỏ đã đưa ra cách nhìn nhận của mình như sau: “Ngôi
mộ chôn Lù và Hếnh bây giờ là một đụm đất khá cao, trên mọc đầy những cây song,
cây mây gai góc, những người già ở bản Hua Tát đặt tên là mộ tình chung thủy, còn
như hoàn toàn mất hết quyền lợi, ông không hề lên tiếng bênh vực hay tố cáo bất cứ
ai mà chính những hành động và ngôn ngữ của nhân vật đã nói lên điều đó.
10/ 18
Như vậy, văn xuôi giai đoạn 1975-2000 có nhiều đổi mới, cách tân về mặt
ngôn ngữ. Rất nhiều nhà văn đã áp dụng lối cách tân trong ngôn ngữ vào tác phẩm
của mình một cách nhuần nhuyễn và đem lại thành công cho tác phẩm.
3. Cốt truyện
Trong loại hình văn xuôi nghệ thuật, cốt truyện đóng vai trò quan trọng. “Cốt
truyện là hệ thống những biến cố và sự kiện được liên kết chặt chẽ tạo thành nội
dung của một tác phẩm với một trình tự nhất định về không gian và thời gian. Qua
cốt truyện, nhà văn thể hiện những xung đột của đời sống xã hội, mối quan hệ qua
lại giữa các tính cách nhân vật trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, để từ đó bộc lộ
tư tưởng và chủ đề tư tưởng của tác phẩm”
(Từ điển bách khoa toàn thư)
Chính cốt truyện hay đã nâng tầm cho tác phẩm, và sự đa dạng của cốt truyện
cũng cho ta cái nhìn rộng hơn về hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ. Khi nhìn nhận lại
chặng đường văn xuôi trước đây, ta thấy cốt truyện có sự vận động và phát triển, đi
từ cốt truyện lịch sử - sự kiện đến cốt truyện lịch sử - tâm hồn.
Nếu những tác phẩm ở giai đoạn trước, nhà văn xây dựng cốt truyện dựa trên
những biến cố, trong đó nổi bật là sự kiện, nhân vật chỉ là phương tiện, ít được quan
tâm thì trong những tác phẩm ở giai đoạn này, câu chuyện diễn ra không theo mạch
sự kiện nào hết mà theo mạch cảm xúc của nhân vật. Xung đột bên ngoài chuyển
hóa thành xung đột bên trong tâm hồn. Ta có thể dễ dàng lý giải điều này, vì văn học
trong giai đoạn 1945-1975 là văn học thời kháng chiến, con người được nhìn nhận
trong mối quan hệ với cộng đồng, với non sông, đất nước và với sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc: Cửa biển (Nguyên Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Vùng mỏ
(Võ Huy Tâm)… Nhưng kể từ sau 1975, đất nước ta đã bước ra khỏi cuộc đấu tranh,
bảo vệ đất nước, đang dần chuyển sang giai đoạn xây dựng và phát triển, con người
cũng ý thức rõ hơn về cái tôi cá nhân của mình. Nhà văn thường chú ý đến đời sống
nội tâm, những biến đổi tâm lý diễn ra bên trong tâm hồn nhân vật. Họ muốn đi sâu,
cô con dâu lại có phong cách bà chủ, còn anh con trai thì thản nhiên ngồi hút thuốc
Galan… Ông không thể bắt nhịp kịp với thời đại, không thể nào sống hòa hợp được
với tất cả mọi người. Câu chuyện kết thúc bằng cái chết của ông Thuấn, cũng từ đó,
nếp sống sinh hoạt của gia đình anh con trai trở lại bình thường…
Còn khi đến với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, cốt truyện không còn là
một cái khung cố định mà nó là những dòng chảy bất định của tâm trạng con người.
12/ 18
Cốt truyện vẫn tồn tại song bắt đầu bị biến dạng và phân rã. Có thể dựa vào biến cố
lịch sử để chia cuộc đời Kiên thành ba giai đoạn: trước chiến tranh, trong chiến
tranh và sau chiến tranh. Tuy nhiên, thực tế tác phẩm cho thấy cuộc đời đứt đoạn,
đau khổ này còn bị chia ra thành những mảnh vỡ phức tạp hơn. Không theo trật tự
thời gian, từng mảnh đời nhân vật bị chia cắt ra, bị phân tán vào ký ức lộn xộn,
chắp nối và rời rạc của nhân vật chính. Cốt truyện trong Nỗi buồn chiến tranh là một
bức tranh lắp ghép mà các mảnh vỡ bị đảo lộn lên, không theo một thứ tự nào. Nhân
vật Kiên trong tác phẩm cũng được khai thác theo chiều sâu tâm lý với “đầy những
vết dập xóa trên thân thể tâm hồn”. Cả cuộc đời Kiên là những nỗi đau nối tiếp:
Trước chiến tranh là nỗi mất mát tình thương với mẹ, sự xa cách với cha, trong
chiến tranh và hòa bình là nỗi đau nặng nề hơn về sự hủy diệt mất mát của tình
người, sựu hy sinh của đồng đội và những khoảng trống không thể lấp đầy trong tình
yêu với Phương.
Có thể nói, trong giai đoạn này, cốt truyện của văn xuôi Việt Nam không
hoàn toàn biến mất mà mỗi người viết, mỗi nhà văn có thể sáng tạo nó bằng nhiều
cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có
hiệu quả. Như vậy, với cốt truyện lịch sử - tâm hồn, văn xuôi giai đoạn 1975 -2000
đã có sự kế thừa và những bước phát triển rõ rệt, tạo đà cho sự phát triển của văn
xuôi giai đoạn sau này.
4. Kết cấu
Nếu như văn học giai đoạn văn học 1945-1975, kết cấu tác phẩm theo sự
kiện, thời gian tuyến tính để phù hợp với cốt truyện lịch sử - sự kiện, tức là các sự
kiện được tái hiện lại theo trình tự thời gian diễn biến, thì đến văn học giai đoạn
làm mai táng cho Sương, là cái bất ngờ đến choáng ngợp ngày ông gặp Tư Lan -
người giống Sương như hai giọt nước…
Còn trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, ngoài câu truyện về cuộc đời
của Kiên, chúng ta còn thấy rõ những lát cắt tiêu biểu về cuộc đời của Phương- cô
người yêu của Kiên. Cuộc đời của Phương đã theo lời kể và những con sóng cảm
xúc của Kiên mà hiện lên khi anh kể về chính cuộc đời mình. Đó là từ ngày Phương
và Kiên yêu nhau, ngày Kiên ở chung khu nhà với cha con Phương, ngày Kiên nhập
ngũ rồi trở lại thăm Phương khi tiện đường hành quân qua quê nhà, rồi Phương
cùng với anh nhảy tàu để đuổi theo đơn vị Kiên. Cũng chính trên chuyến tàu định
mệnh ấy mà Kiên và Phương phải ngậm ngùi dời xa nhau, để đến khi gặp lại
Phương, Kiên không còn nhận ra Phương của ngày xưa nữa. Phương ngày xưa
ngoan hiền và mạnh mẽ, Phương của bây giờ lại mang dáng vẻ bất cần, sống thu
mình lại trong vỏ ốc của chính mình. Đó chính là kiểu trần thuật phi tuyến tính với
14/ 18
những đảo lộn thời gian và kỹ thuật đồng hiện. Có thể nói trần thuật phi tuyến tính
trở thành một trong những đặc điểm cho thấy sự đổi mới tư duy tiểu thuyết khi cảm
thức hiện tại, khi khát vọng làm chủ thời gian trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Một trong những hình thức tổ chức lại trình tự trần thuật trong Nỗi buồn chiến
tranh là từ hiện tại, quay ngược về quá khứ để kể chuyện. Nhân vật Kiên- một cựu
chiến binh trở về sau ngày hòa bình đã kể lại cuộc chiến đã qua, một cuộc chiến
tranh chưa từng được biết tới, như thể đó là cuộc chiến của riêng anh. Nhân vật
Kiên thuật lại những sự kiện đã qua, đã thuộc về quá khứ từ điểm nhìn của chính
mình. Có thể nói, trong Nỗi buồn chiến tranh, sự đồng hiện thời gian được thể hiện
rất rõ. Phá vỡ trật tự thời gian thông thường. Do kết cấu lắp ghép và phân mảnh dẫn
đến trong tác phẩm có kiểu “truyện lồng truyện” hay “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”.
Nỗi buồn chiến tranh là sự song hành hai cuốn tiểu thuyết đó là cuốn tiểu thuyết của
nhà văn và tiểu thuyết của nhân vật Kiên. Bản thảo của nhân vật được lồng vào
trong tác phẩm chính, đó là nơi nhà văn vừa viết vừa suy tư về tác phẩm của mình,
là nơi nhân vật cũng được trao quyền sáng tạo như nhà văn. Dạng tiểu thuyết này
làm cho một nhân vật sống trong nhiều thế giới như thế giới thực, thế giới của kí ức,
trong chủ đề, đề tài, cảm hứng thì nghệ thuật văn xuôi cũng có những khám phá
đáng kể từ thể loại, ngôn ngữ đến cốt truyện và kết cấu. Văn học một mặt vẫn tiếp
nối dòng chảy của giai đoạn trước đó, một mặt phục vụ cho công cuộc xây dựng
Chủ nghĩa Xã hội, bảo vệ Tổ quốc, hướng vào tạo dựng một nền văn chương phong
phú cả về đề tài, chủ đề và biện pháp nghệ thuật… Các tác giả Việt Nam đương đại
đã có ý thức cách tân và đổi mới tư duy làm cho văn xuôi ngày càng khẳng định
được vị trí của mình, đánh dấu sự trưởng thành của nền văn học nước nhà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Việt Thắng (1999) Bình luận truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.
2. Bùi Việt Thắng (2005, tái bản 2006). Tiểu thuyết đương đại, NXB Quân đội
nhân dân, Hà Nội.
3. Chu Lai, Ăn mày dĩ vãng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.
4. Khôi Vũ, Lời nguyền 200 năm, NXB Thanh Niên, Hà Nội.
5. Nhiều tác giả (2006) Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu
và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội.
16/ 18
6. Nhiều tác giả (2006) Những vấn đề mới trong nghiên cứu và giảng dạy văn
học, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
7. Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn (Đồng chủ biên), Văn học Việt Nam sau
1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (2009), NXB Giáo dục.
8. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam NXB
Giáo dục, Hà Nội.
9. TS Nguyễn Văn Kha, Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt
Nam 1975-2000 (2006), NXB ĐHQG TP.HCM.
10.Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2005), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.
11.Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XX giai đoạn 1976-2000 - Tập III (2003), NXB
Kim Đồng, Hà Nội.
17/ 18