ĐẶC điểm NGHỆ THUẬT THƠ 1975 2000 - Pdf 10

MỤC LỤC
Mở đầu
Nội dung
1. Khái quát tình hình thơ ca 1975 - 2000
2. Đặc điểm nghệ thuật thơ 1975 - 2000
2.1. Thể loại
2.1.1. Sự trở lại của thơ văn xuôi và thơ ngắn
2.1.2. Sự trở lại của thể trường ca
2.2. Những biến đổi về ngôn ngữ, giọng điệu
2.3. Thơ mang hơi thở, nhịp điệu của đời sống hiện đại
Kết luận
1
MỞ ĐẦU
Chiến thắng mùa xuân năm 1975 của nhân dân ta là một sự kiện lịch sử có
ý nghĩa và tầm vóc quốc tế, những chiến công vĩ đại ấy đã đem lại hòa bình và
thống nhất. Từ đây đất nước liền một giải, cả dân tộc cùng nhau hàn gắn vết
thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Được cổ vũ bởi chiến thắng vĩ đại nhân dân ta hào hứng xây dựng
đất nước, gieo cấy lại trên những cánh đồng hoang đầy vết tích bom đạn của giặc
Mỹ. Chiến thắng vẻ vang và sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa đã thổi vào văn
học nói chung và thơ nói riêng cảm hứng lãng mạn. Thơ chúng ta trong những
năm ấy vừa tiếp tục cuộc trường chinh giành độc lập xây dựng đất nước, vừa mở
ra những hướng phát triển mới. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, thơ xâm nhập
sâu hơn vào bên trong của tâm hồn con người, các phương thức trong thơ cũng có
sự thay đổi. Chính điều này đã giúp cho thơ Việt Nam vươn lên trong quá trình
thừa kế và phát huy thơ theo tư duy hiện đại tạo ra những bước chuyển mới trên
thi đàn dân tộc.
2
NỘI DUNG
1. Khái quát tình hình thơ ca Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000
Những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, sự vận động của tư duy thơ

Đây chính là lý do khiến một số tác phẩm thơ sau 1975 mang đậm khát vọng tìm
đến những hình thức ngôn từ mới lạ. Sau năm 1975 thì công cuộc đổi mới đất
nước đã mở rộng cánh của giao lưu, hội nhập và thơ ca thời kỳ này đã tự tìm kiếm
những mô hình nghệ thuật mới.
2. Đặc điểm nghệ thuật thơ 1975 - 2000
Thể loại
Các thể thơ trong thơ trữ tình giai đoạn 1975 - 2000 thường được sử dụng
là tự do, lục bát, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ nhưng chiếm ưu thế cao hơn là thể tự do.
Theo thống kê của tiến sĩ Phạm Quốc Ca trong bài “Mấy nhận xét về thể thơ trong
thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 2000” thì thấy rằng trong tổng số 1.144 bài thơ được
lấy làm đối tượng nghiên cứu thì thơ tự do có đến 645 bài (56%). Điều đó phản
ánh xu hướng tiếp tục tự do hóa về hình thức thơ, muốn giải phóng cho thơ khỏi
những ràng buộc của những qui tắc, luật lệ.
Không những thế mà đa số các bài thơ 8 chữ sau 1975 đều ít nhiều bị biến
thể. Có lẽ trong khi viết các nhà thơ phát hiện ra sự ràng buộc về số chữ và nhịp
điệu khá khuôn mẫu của nó ức chế sự thể hiện cảm xúc, nhịp điệu đều đặn quen
thuộc đã cản trở việc thể hiện nhịp tâm hồn đang mở ra hết mọi biên độ cảm xúc
trước cuộc sống hối hả, xô bồ hiện nay. Ví dụ như bài Trở lại Đông Hà của Lê Thị
Mây. Về cơ bản bài thơ được viết theo thể 8 chữ nhưng có một số câu có đến 9, 10
chữ như câu: “Tôi may cho người chiếc mũ trước trời xanh.”
Thể thơ lục bát cũng có sự đổi mới, nhiều bài thơ lục bát được bố trí theo
kiểu thơ tự do. Để tạo sự lạ hóa, một số tác giả đã chia câu thơ thành nhiều dòng
hoặc một dòng thành 2, 3 câu:
4
“Dập dềnh bóng núi. Đèo ngang
Mình ta
với nỗi buồn vàng
trong tay.”
(Lục bát ở Đèo Ngang - Phạm Thị Ngọc Liên)
Đó là sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống. Nếu trước đây thơ

nhân bản hơn những hiện tượng nằm trong phạm trù ý thức và vô thức của mỗi cá
thể sống. Có nhà thơ đã chỉ ra rằng thơ ca phải là cuộc đối thoại của con người với
thời đại của họ và thơ ca là phương tiện để hiểu biết và chung sống giữa những
con người thuộc các thế hệ khác nhau. Thơ ca không bao giờ là hành trình đơn
phương giữa những con người dù nó luôn phải tự dấn thân cô đơn trong sáng tạo.
Thể thơ không chỉ gắn với nghệ thuật ngôn từ mà nó được xem như là sự
biểu hiện quan niệm thẩm mĩ đối với đời sống. Thơ giai đoạn sau 1975 có sự
phong phú về thể loại, phù hợp với thời đại bấy giờ. Sau đây, chúng tôi đi vào
những thể thơ đáng chú ý trong thơ ca 1975 - 2000.
2.1.1. Sự trở lại của thơ văn xuôi và thơ ngắn
2.1.1.1. Thơ văn xuôi
Sau 1975, thơ văn xuôi được tiếp tục thể nghiệm. Hình thức thơ văn xuôi
cũng là một trong nhiều biểu hiện cho thấy sự tiếp tục xâm lấn của văn xuôi vào
địa hạt thơ như là một đặc điểm của thơ hiện đại.
Thơ văn xuôi giai đoạn này chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với các giai đoạn
trước. Sự xen kẽ các đoạn văn xuôi trong một bài thơ đã không còn là điều mới lạ,
được thể hiện qua một số nhà thơ như: Trinh Đường, Thu Bồn, Thanh Thảo,
Nguyễn Đức Mậu, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Quang Thiều, Đặng Đình
Hưng…
Thơ văn xuôi trong giai đoạn này đã có những bước chuyển mình đáng kể.
Nhiều tác phẩm đạt được những giá trị nghệ thuật nhất định và được người đọc
chấp nhận, đặc biệt là trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ chống Mỹ.
6
Trong bài Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh đã cho ta thấy được sự hi
sinh gian khổ, lòng dũng cảm, kiên cường, đồng thời còn cho thấy được muôn mặt
tình cảm trong cuộc đời của người lính:
“Chúng tôi đầy rừng tắm giặt, hái rau, đào hầm, mơ mộng sống đời thường suốt
cuộc đời chiến tranh, yêu đời lính yêu luôn gian khổ.
Lính sáu chín, lính bảy hai, lính tái ngũ còn giữ nguyên chức vụ quân hàm, ríu rít
giọng nam, giọng bắc lính xe tăng đột phá, lính pháo binh cõng lửa ra song, làm

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)
Những khó khăn, gian khổ, những ước mơ về một cuộc sống đời thường bình dị
đã được Hữu Thỉnh viết lên chân thực, cảm động.
Chiến tranh đã đi qua nhưng nó vẫn ám ảnh, vẫn chưa là quá khứ trong
cuộc đời của mỗi người lính đã từng tham gia trận mạc. Những ký ức đau thương
và thực tế khắc nghiệt của chiến tranh luôn ám ảnh họ.
“Hết phiên gác, Tội ngủ vùi trong võng. Đom đóm rơi đầy giấc mơ của lính. Tôi
đang ngủ, đang mơ. Tôi nào hay bên những gốc cây bầy mối đục mòn đêm trên
những xác người.

Chiến tranh lùi xa con đường mòn Trường Sơn bao giờ tôi trở lại? Đâu cái giếng
nước hòa máu người tôi uống trong cơn khát, gốc cây rào rào bầy mối đục mòn
đêm. Đâu măn ngôi mộ vô danh đắp bằng nỗi đau, nước mắt. Nơi cánh rừng có
nhiều đom đóm bay”.
(Cánh rừng nhiều đom đóm bay - Nguyễn Đức Mậu)
Bằng những hình ảnh đau thương, cụ thể với không gian là một góc rừng
Trường Sơn thời chống Mỹ, thời gian của cả quá khứ và hiện tại đã qua, đã xa
nhưng tất cả những nỗi đau vẫn ám ảnh họ mãi mãi khôn nguôi. Những kỷ niệm
xót thương về những người đồng đội đã hi sinh nằm lại chiến trường.
“Hãy về cùng tôi, một người lính bình thường như bao người lính khác.Việt
Nam, đồng đội tôi đã đổi bằng máu để giữ vẹn nguyên Người.”
8
(Đất nước - Phạm Tiến Duật)
Để có thể diễn đạt những trạng thái tình cảm cụ thể, phức tạp thì các nhà
thơ phải tìm kiếm một hình thức thơ văn xuôi là phù hợp nhất. Không chỉ dừng lại
ở dung lượng phản ánh lớn mà thể thơ văn xuôi rất thích hợp khi đi vào miêu tả
những trạng thái tình cảm tinh tế và nhiều sắc màu của tâm hồn con người. Đề tài
tình yêu là nguồn cảm hứng bất tận, nay các nhà thơ có thể thỏa sức thể hiện tình
cảm nồng nàn của mình.
“Khi em ngẩng đầu lên anh biết đêm đã xuống, gió thổi qua biển lớn và mưa rơi

hợp cảm xúc của cá nhân. Tức là nhà thơ có thể diễn tả rõ ràng, cụ thể cảm xúc
của mình hay của nhân vật trữ tình.
Thứ hai, nó thể hiện sự giao thoa của các thể loại. trong đó đáng kể nhất là
ảnh hưởng của chất tiểu thuyết (văn xuôi) vào thi ca.
Thứ ba, thơ văn xuôi khiến cho giọng điệu không còn mượt mà êm ái như
trước mà trở nên thô ráp hơn, nhịp điệu thơ mang nhiều tính bất ngờ hơn.
Chính vì thế nó làm cho quan niệm của các nhà thơ thay đổi, không phải có vần thì
mới gọi là thơ, thơ văn xuôi có một dung lượng lớn cho phép nhà thơ thể hiện
được những mặt phức tạp của cuộc sống.
Vậy nên thơ văn xuôi trở lại sau năm 1975 không phải là một bước thụt lùi
trong thơ ca Việt Nam mà nó là một sự tiếp nối để tiếp tục tìm tòi sáng tạo theo
hướng tự do hóa được mở ra từ phong trào thơ mới 1932 - 1945 với những thể
nghiệm của Nguyễn Xuân Sanh (Đất thơm), Phạm Văn Hạnh (Giọt sương hoa)…
2.1.1.2. Thơ ngắn
Thơ ngắn là một thể loại có hình thức khá mới lạ ở giai đoạn trước 1975,
mỗi bài chỉ có từ 2 đến 3 câu thậm chí chỉ có một câu. Chính vì thế nó rất phổ biến
cho việc đăng tải báo chí và phù hợp với cách “đọc” thơ thời hiện đại. Thơ ngắn
có những ưu thế riêng như: khắc sâu ấn tượng, đập vào cảm thức người đọc. Thơ
ngắn xuất hiện do hoàn cảnh xã hội lúc này, xã hội đổi mới thì văn học cũng đổi
10
mới. Sau 1975, thơ ngắn không là điều mới lạ trên các tờ báo mà còn rất phổ biến.
Những bài thơ ngắn là những chiêm nghiệm suy nghĩ của các nhà thơ.
Thơ trữ tình với hình thức thơ ngắn làm nên diện mạo chính của thơ Việt
Nam từ xưa đến nay. Sau 1975, thơ có xu hướng ngày càng ngắn lại. Có bài cô
đúc lại thành hai câu, thậm chí một câu. Nó phản ánh nhịp sống nhanh, hướng tới
hiệu quả tức thì của lối sống đô thị hiện đại khi không còn lấy hiện thực để phản
ánh, thơ giảm yếu tối kể. Nhịp sống hiện đại đòi hỏi mọi thể loại phải ngắn đi để
phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của bạn đọc. Nguyễn Hoa đã nói lên tâm trạng khá
phổ biến của các nhà thơ bấy giờ:
“Khát bài thơ ít chữ

Những năm một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời.”
Bài thơ cho ta thấy một cảm hứng bi tráng và đó cũng là cảm hứng chung
cho trường ca sau năm 1975 đồng thời cũng là điểm phân biệt so với trường ca
trước. Làm cho người đọc bị lôi cuốn theo dòng cảm xúc suy tưởng của người viết
như được sống trong những năm tháng “đêm trước” ngày 30/4 với những chiến sĩ
Trường Sơn.
Trường ca thể hiện cảm nhận về cuộc sống rất sâu sắc của tác giả. Đó là cái
nhìn tinh tế, đa diện về con người và cuộc sống. Trường ca Những người đi tới
biển của Thanh Thảo có thể nói rõ điều đó:
“Tuổi hai mươi
Dày như cỏ sắc như cỏ
Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ”
Những bài trường ca chống Mỹ đa phần mang cảm hứng và giọng điệu
ngợi ca, thể hiện tinh thần lạc quan của chủ thê qua hệ thống ngôn ngữ sử thi.
Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh cũng thể hiện điều đó. Đó là những chuyện
hành quân, chuyện ở hầm, chuyện sinh hoạt Trường Sơn, chuyện bà mẹ tiễn con,
người vợ đợi chồng, cùng những tử biệt sinh ly tan hợp của đời người trong chiến
tranh. Nhưng họ vẫn đẹp và mang tính chất sử thi:
12
“Chị tôi không trẻ nữa, xóm làng yêu ý tứ vẫn kêu cô
Xóm làng thương không khóc con trước mặt
Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc
Vẫn được tiếng là người đứng vậy
Nhưng anh tôi vẫn còn.”
Về ngôn ngữ ta thấy trường ca có một sự thay đổi trong giai đoạn này, nhà
thơ đã đưa vào trường ca ngôn ngữ trầm tư, độc thoại. Đó là lời của nhân vật trữ
tình nói về bản thân, về thế hệ của mình:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc

vừa dễ nhập vào người đọc, vừa có khả năng tạo nên tiếng cười trong thơ. Hay nói
cách khác là loại ngôn ngữ đời thường, suồng sã. Đây là ngôn ngữ được nhà thơ
thể hiện như một người bình thường giữa cuộc sống xô bồ, phức tạp. Tiêu biểu
cho cách nói này là nhà thơ Nguyễn Duy. Thơ Nguyễn Duy có những “kiểu “xẩm
ngọng” và giọng điệu “bụi bặm” đã khiến cho thơ trở nên “tếu táo” hơn và cũng
gần gũi với người đọc hơn”. Lời nói thông tục được tác giả đưa vào lục bát:
“Ối giời ơi … nõn nà sao
Bàn chân lóng ngóng đặt vào nơi đâu
Trắng tinh - trắng toát - trắng phau
Ngó qua thấy đẹp ngắm lâu rợn người.”
(Trắng … và trắng…)
“Tạnh men là tạnh la đà
Tạnh cơn một bóng ảo ra chính mình
Phàm trần bớt chút lung linh
Các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần”
(Kiêng)
Cách dùng từ theo kiểu của Nguyễn Duy nói riêng và của nhiều nhà thơ
khác nói chung là góp phần chứng minh thêm tính đa dạng, phong phú và khả
14
năng phát huy của lời ăn tiếng nói nhân dân. Ngôn ngữ thơ giai đoạn này hướng
đến sự giản dị, không cầu kỳ kiểu cách, với một hệ thống từ ngữ có sắc thái đời
thường, gần gũi với cuộc sống con người:
“…Buồn không mang comlê không đợi chờ ai
Mắt là hổ phách
Đẹp dữ tợn.
………”
(Buồn - Nguyễn Bình Phương)
Một số nhà thơ như Lê Đạt, Nguyễn Quang Thiều… lại có ý thức đưa ngôn
ngữ đậm chất tượng trưng, siêu thực vào thơ khiến cho nghĩa thơ trở nên nổi bật,
mang tâm thế của một hành trình văn hóa công nghiệp và hậu công nghiệp. Đó là

Từ bàn tay của má
Thổi vào hồn tôi những ngọn gió buồn
Thổi vào hư không một luồng gió gắt
Thổi vào cuộc đời bao điều day dứt.”
(Má quạt thóc bên đường - Dương Kỳ Anh)
Những từ ngữ đã gợi tả sự thức tỉnh trước những bi kịch bản thân, xoáy vào
nỗi buồn sâu thẳm, vào những đớn đau, vào những cái nhức nhối. Nó đã góp phần
thay đổi giọng điệu thơ sau năm 1975, giọng thơ có sự pha lẫn niềm ngậm ngùi:
“Mới bình minh đó đã hoàng hôn
Đang nụ cười tươi bỗng lệ tuôn
Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy
Khuấy động lòng ta biết mấy buồn.”
(Một tiếng đờn - Tố Hữu)
và cay đắng:
“Và tôi hóa kẻ nhầm - sai - khờ - dại
Vỗ tay, tôi bỗng sững sờ
Bởi yêu người đã dối - lừa - được tôi!”
(Xem ảo thuật - Thúc Hà)
16
và ngỡ ngàng:
“Ngẫu nhiên em ra đời giọt trời rơi xuống
không hề ký tên hợp đồng làm người
Giọt yêu cũng ngẫu nhiên đến từ trời
không đề cương không kịch bản không dự báo thời tiết…”
(Giọt trời - Nguyễn Duy)
Một loại ngôn ngữ không thể thiếu trong thơ ca sau 1975 là ngôn ngữ kể.
Đó là ngôn ngữ không mang đậm chất thơ, nhà thơ không quan tâm tới vẻ đẹp
ngôn từ và cũng không để lộ cảm xúc thái độ của mình:
“Giữa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

khăn chấm đỏ
bụi mưa”
(Thủy mặc - Lê Đạt)
Hay:
“Đêm xuống rồi
Ta lẻn
Đi tìm mặt mình
Đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình”
(Người đi tìm mặt - Hoàng Hưng)
Thơ ca sau 1975 không còn êm mượt như thơ ca giai đoạn 1945 – 1975 mà
trở nên trúc trắc hơn, ngôn ngữ thơ phong phú, giọng điệu thơ đa dạng hơn, tính
trong suốt và sáng rõ của ngôn ngữ thơ nhiều khi được cố ý mờ hóa tạo nên tính
đa nghĩa trong thơ. Điều đó làm cho giọng điệu thơ cũng thay đổi.
2.3. Thơ mang hơi thở, nhịp điệu của đời sống hiện đại
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta đã thoát khỏi chiến tranh,
lịch sử dân tộc ta lại mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập tự do và thống nhất
đất nước. Năm 1986, công cuộc đổi mới được khởi xướng, đây là một sự kiện
trọng đại mở ra một trang sử mới cho đất nước nói chung và văn học nghệ thuật
18
nói riêng. Các nhà thơ đã đón nhận sự đổi mới, đã dám nói thẳng, nói thật những
điều mà trước đây do nhiều nguyên nhân họ phải im lặng trong cái tôi nhiều trăn
trở, giằng xé. Cuộc gặp gỡ của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và giới văn nghệ sĩ
cả nước vào tháng 10 năm 1987 có tác động rất lớn đến tinh thần của những người
cầm bút, nhất là ý thức tự cởi trói trong lĩnh vực sáng tạo. Không thể phủ nhận
một thực tế là cơ chế thị trường đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhưng mặt
khác con người dường như sống với nhau lạnh lùng hơn, các mối quan hệ giữa các
cá nhân trong xã hội lạnh lẽo hơn. Bối cảnh lịch sử và văn hoá mới, cả mặt phải và
mặt trái của nó khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà
buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống.
Điều đó dẫn đến sự thay đổi của tư duy nghệ thuật thơ và nhịp điệu của thơ trong

đằng sau những vinh quang của một thời đã qua là những đắng cay của con người
khi đối diện với muôn mặt của cuộc sống đời thường. Và vấn đề đặt ra lúc này
không chỉ là vận mệnh dân tộc, nhân dân mà còn là số phận của từng cá nhân con
người. Cái tôi, cái cá thể của mỗi người lâu nay bị chìm khuất trong cái ta thì lúc
này đã nổi lên như một yêu cầu bức thiết của đời sống. Cảm hứng lịch sử và dân
tộc đang được thay thế dần bởi cảm hứng thế sự và đời tư. Và trong giai đoạn
chuyển giọng nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận
của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt. Nếu như trước đây, các nhà thơ còn e
ngại khi đề cập đến nỗi buồn thì giờ đây họ đã công khai bày tỏ nỗi buồn. Đấy
không hẳn là nỗi buồn kiểu thơ mới mà là nỗi buồn gắn với thực tại mới, quan
điểm nghệ thuật mới. Có nỗi buồn về thần tượng bị gãy đổ, ảo tưởng bị tan vỡ khi
nhận ra : “chúa chỉ bằng đất đá” (Nguyễn Trọng Tạo), có nỗi buồn vì cuộc sống
mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý đến chuyện tồn tại mà “xa dần truyện, bớt
dần thơ” (Nguyễn Duy), và có những trắc ẩn về riêng tư, đôi lứa:
“Em chết trong nỗi buồn
Chết như từng giọt sương
Rơi không thành tiếng”
20
(Lâm Thị Mỹ Dạ)
Chất giọng tự thú, tự bạch, những cảm thức cá nhân trước biến động nhân
thế trở thành gam giọng phổ biến.
“Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện, cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường”.
(Ánh trăng - Nguyễn Duy)
Cuộc sống đổi thay từng giờ, thế nên mọi giá trị cũng đổi thay mặc cho bao
kẻ ngỡ ngàng, mặc cho bao người nuối tiếc. Người đàn bà trong thơ Ý Nhi đi tìm
kết cục đời mình với cái nhìn độ lượng về quá khứ, rạch ròi ở hiện tại nhưng lại
khắc khoải ở tương lai.

triển, đổi mới mạnh mẽ. Điều đó góp phần vào sự phản ánh cuộc sống, tâm lí con
người thời bấy giờ. Đó là những đóng góp đáng trân trọng cho vườn thơ Việt
Nam.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nhiều tác giả, Văn học 1975 - 1985, tác phẩm và dư luận, NXB hội nhà
văn, HN, 1997
2 Vũ Mạnh Tuấn, Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định, NXB
khoa học xã hội, HN, 2001
3 Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn, Văn học Việt Nam sau 1975 - những
vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục, 2009
4. Phạm Quốc Ca, Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam sau 1975,
Luận án tiến sĩ ngữ văn, TPHCM, 2003
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status