Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Quang Thanh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ BÍCH HỒNG
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ
BÙI QUANG THANHLUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ BÍCH HỒNG
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ
BÙI QUANG THANH
Chuyên ngành văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Biện Minh Điền
NGHỆ AN, 2014
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Người Việt Nam rất yêu thơ, đặc biệt là những bài thơ về quê
hương mình. Hà Tĩnh cũng không nằm ngoài niềm yêu thích đó. Thơ Hà
Tĩnh có đặc sắc riêng, đằm thắm tình quê hương, sâu lắng tình người, tình
đời…
Hà Tĩnh nói riêng, xứ Nghệ nói chung là vùng đất nổi tiếng về truyền
thống yêu nước, cách mạng và bề dày văn hóa, văn học. Theo dòng chảy

hướng về tương lai…
6
Không chỉ thế, nhìn rộng ra, trong dòng thơ trữ tình đương đại Việt
Nam, và cả ở bộ phận thơ viết cho thiếu nhi, Bùi Quang Thanh cũng cũng
thực sự đã ghi được những dấu ấn đẹp, rất đáng trân trọng, tôn vinh…
Rất cần có những công trình tìm hiểu, nghiên cứu thơ Bùi Quang
Thanh, từ đây có thể tìm thấy những bài học quý giá cho sáng tạo và tiếp
nhận thơ ca
2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi
Quang Thanh
2.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát toàn bộ thơ Bùi Quang Thanh
Văn bản thơ Bùi Quang Thanh dùng để khảo sát luận văn dựa vào:
- Bùi Quang Thanh, Một thời sao lãng quên, Hội VHNT Hà Tĩnh,
1994.
- Bùi Quang Thanh (in chung), Miền tâm tưởng, Nxb ,1995.
- Bùi Quang Thanh, Hạt đắng, thơ, Nxb Thanh niên, 1998.
- Bùi Quang Thanh, Đò dọc sông đêm, Nxb Hội Nhà văn,2002.
- Bùi Quang Thanh, Ngọn gió dòng sông, Nxb Hội Nhà văn, 2003.
- Bùi Quang Thanh, Mật ong vàng lũng núi, Nxb Hội Nhà văn, 2007.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3.1. Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu thơ Bùi Quang Thanh.
Việc nghiên cứu về các tác phẩm thơ Bùi Quang Thanh cũng đã có
khá nhiều bài viết, bài giới thiệu (hoặc riêng lẻ đăng trên một số tờ báo, hoặc
bài phê bình trong một số công trình về văn học xứ Nghệ và Hà Tĩnh). Nhìn
chung các bài viết cũng đã phần nào thể hiện cái nhìn đáng trân trọng và có
những khám phá, kiến giải về đặc điểm thơ Bùi Quang Thanh trên một số
phương diện.

8
Con đi. No tròn ba lô con cóc sau lưng. Hoa cỏ may găm đầy quần bộ binh
đũng chấm ngang đầu gối Bài thơ đã đoạt giải thưởng của Tạp chí Văn
nghệ Quân đội, ghi nhận một bước trưởng thành trong "nghề" thơ của anh”
[61, 2].
Các bài viết về thơ Bùi Quang Thanh mới chỉ là những cảm nhận,
những phê bình mang tính chất giới thiệu. Tuy nhiên, có thể xem đó như là
những gợi ý đáng tham khảo. Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào tìm
hiểu nghiên cứu thơ Bùi Quang Thanh một cách đầy đủ, hệ thống. Luận văn
của chúng tôi là công trình đầu tiên đảm nhận công việc này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát, tìm hiểu thơ Bùi Quang Thanh, luận văn nhằm xác định
những đặc điểm thơ ông, khẳng định những đóng góp của ông cho thơ Hà
Tĩnh nói riêng, thơ Việt Nam hiện đại nói chung; từ đây đề xuất một số vấn
đề về việc nghiên cứu và tiếp nhận sáng tác của các nhà thơ, nhà văn "cắm
chốt" ở các Hội Văn nghệ địa phương.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1. Đưa ra một cái nhìn chung về thơ Bùi Quang Thanh trong bối
cảnh thơ Hà Tĩnh nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung.
4.2.2. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm thơ Bùi Quang
Thanh trên phương diện nội dung, cảm hứng.
4.2.3. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm thơ Bùi Quang
Thanh trên phương diện phương thức thể hiện.
Cuối cùng rút ra một số kết luận về thơ Bùi Quang Thanh
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong
đó có các phương pháp chính: phương pháp thống kê - phân loại, phương
pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp
cấu trúc - hệ thống

Bách
Các tác giả Hà Tĩnh cũng đóng góp cho thơ ca hiện đại Việt Nam
nhiều tác phẩm đỉnh cao và ít nhiều trong số tác phẩm thành công đã tạo nét
riêng cho dòng thơ xứ Nghệ. Các nhà thơ xứ Nghệ là những cây bút cự
phách trong các thể loại lục bát, năm chữ, thơ tứ tuyệt, thơ tự do có mặt
hầu hết trong các tuyển thơ trong Nam cũng như ngoài Bắc.
Với một đội ngũ đông đảo như vậy, thơ Hà Tĩnh đã hòa nhịp được với
nền thơ cả nước. Bắt rễ trên vùng đất văn vật giàu truyền thống văn hóa, thơ
Hà Tĩnh thời gian qua vừa tiếp nối rất tự nhiên nguồn mạch truyền thống,
vừa có những cách tân theo hướng hiện đại. Nếu những năm đầu sau ngày
thống nhất đất nước, thơ còn mang lối mòn quen thuộc mà biểu hiện rõ nhất
là cảm hứng sử thi còn rất đậm, thì về sau, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, thơ
đã phát triển theo chiều hướng ngày càng phong phú. Điều đáng mừng là
thơ đã trở về với tiếng nói riêng tư, thầm kín nhất của mình. Ý thức cá nhân
của chủ thể sáng tạo đã được đề cao. Nó mở ra cho thơ hướng phát triển
đúng đắn, phù hợp với đặc trưng thể loại. Nếu trước đây, trữ tình chính trị,
trữ tình công dân giữ vị trí độc tôn, thì giờ đây bên những cảm xúc ấy, trữ
tình riêng tư đã có chỗ đứng xứng đáng trong thơ.
Nhớ những năm sáu mươi, cùng với những khuôn mặt thơ như Bằng
Việt, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương, rồi sau đó Phạm Tiến Duật, Thanh
Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm,Trần Đăng Khoa, Hà Tĩnh có Xuân
Hoài, Lê Duy Phương, Duy Thảo, Minh Nho với những bài thơ sống mãi
trong lòng bạn đọc (Những ngôi sao, Nơi giấu xe, Mừng chiến thắng trời
quê, Bài học từ Hương Phúc). Thời đó, các tác giả Hà Tĩnh được đón chào
đón rất nồng nhiệt. "Thuộc thơ các anh lúc bấy giờ như là một biểu hiện của
trình độ văn hóa. Các anh lúc bấy giờ không có điều kiện để gọt rũa chăm
11
chút câu chữ, nhưng thơ các anh vẫn mới mẻ và có giọng điệu riêng, khó
nhầm lẫn. Phải chăng nhờ vào một nền tảng văn hóa tích lũy cổ kim Đông
Tây bao nhiêu năm trên ghế nhà trường, cộng với một vốn sống phong phú,

kém chất suy nghĩ. Phan Duy Đồng chân thật, nhuần nhuyễn trong thể tài
lục bát và thơ cho các em
Một bộ phận đáng kể là thơ viết cho thiếu nhi và thơ tuổi học trò. Viết
thơ cho lứa tuổi học trò cắp sách đến trường không hề đơn giản. Nó đòi hỏi
người viết có tâm hồn trẻ trung, biết nhìn các sự vật, hiện tượng trong đời
sống bằng cái nhìn hồn nhiên, ngỡ ngàng và kiểu liên tưởng ngộ nghĩnh với
đôi mắt trẻ thơ. Một số tác giả đã dành nhiều tâm huyết trên những trang thơ
viết cho thiếu nhi. Xuân Hoài có hai tập Sen lên và Những cây dù đỏ. Thơ
Xuân Hoài trở thành những dòng sữa ngọt lành bồi đắp tâm hồn tuổi thơ,
giúp các em có những cảm xúc tốt lành về cuộc đời, về tự nhiên. Thái Vĩnh
Linh với các tập: Hai mặt trời, Mưa sao ngân hà, Cánh cò trắng, Phố trong
bản Phần lớn thơ Thái Vĩnh Linh dành cho lứa tuổi nhi đồng. Thơ ông nhẹ
nhàng, đơn giản trong cấu tứ và hình ảnh, mang âm hưởng đồng dao, thiên
về những phát hiện độc đáo, ngộ nghĩnh, bất ngờ, hợp với tâm lí, lứa tuổi.
Nhìn trên đại thể, thơ Hà Tĩnh trong nhiều năm qua có ba xu hướng
chính. Xu hướng thứ nhất trung thành với lối viết truyền thống (chiếm số
đông). Viết theo hướng này, thơ thiên về biểu cảm, ý thơ rõ, mạch thơ lộ, tứ
thơ câu nệ vào sự việc, thậm chí nhiều lúc sa vào kể lể, nhạc điệu thơ du
dương, thể thơ đắc dụng là lục bát, tám chữ, bảy chữ, năm chữ , ảnh hưởng
của dặm vè, của ca dao dân ca xứ Nghệ khá rõ. Người viết thiên về xu
hướng này có thể đáp ứng số đông độc giả, nhất là đại chúng. Tiêu biểu cho
xu hướng này là Xuân Hoài, Duy Thảo, Minh Nho, Nguyễn Trọng Bính và
nhiều cây bút khác.
Xu hướng thứ hai thuộc về những người có khát vọng đổi mới, nhưng
đặt yêu cầu cao ở sự đổi mới về tư tưởng, cách nhìn, quan niệm về cuộc
sống và sự kết tinh nghệ thuật chứ không quá câu nệ về hình thức câu thơ,
13
bài thơ. Thơ của họ thiên về suy tư, giàu sức gợi. Nguyễn Sĩ Đại, Lê Quốc
Hán, Phan Tùng Lưu, Bùi Quang Thanh, Quỳnh Như thuộc xu hướng này.
Xu hướng thứ ba là xu hướng muốn cách tân nghệ thuật, tiếp cận với

và phức tạp của nó đã từng bước được khám phá. Hồi ức chiến tranh được
trở đi trở lại qua nhiều trang viết đủ các thể loại. Cảm hứng sử thi đã dần
dần được thay thế bằng cảm hứng thế sự. Âm hưởng hùng tráng không hề
lấn át tiếng nói cảm thấu những nỗi đau, những mất mát lớn lao của bao
nhiêu thế hệ người Việt Nam. Những vết thương trên thân thể có khi không
nhức nhối bằng những vết thương trong tâm hồn. Đã từng say sưa miêu tả
những chiến thắng vinh quang, từng ngợi ca anh hùng của những thế hệ nối
tiếp nhau viết "bài thơ trên báng súng", văn học còn không quên khắc họa
bộ mặt khủng khiếp của chiến tranh và cảm nhận sâu sắc sự trả giá của dân
tộc mình cho chiến thắng. Bởi vì:
Chiến tranh không đẻ ra làng hoa
Không đẻ ra làng lúa
Chiến tranh đẻ ra làng góa bụa
Đẻ ra làng Lòi
Những thanh niên xung phong cam khổ
Lớn lên không mảnh tình vắt vai
(Chuyện tình ở một làng Lòi - Hồng Chinh Hiền)
"Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", đó là truyền thống, lẽ sống còn của
dân tộc Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên viết về cuộc chiến tranh đã qua,
âm điệu buồn là phổ biến trong ở các tác phẩm. Chỉ những ai vô tâm, hời
hợt mới không biết xót đau trước những hi sinh lớn lao của hàng triệu con
người, đặc biệt khi nỗi đau mất mát đó thể hiện trong mỗi ngày ta sống:
Chiến tranh đi qua hơn hai chục năm rồi
Bao khuôn mặt vẫn trẻ trung tươi rói
Những khuôn mặt lại "nhắn tìm đồng đội"
Đêm hiện về màn ảnh nhỏ thiết tha
Giá bây giờ họ đang sống bên ta
15
Thì là bác, là ông, là chú
Là con cháu ấm tình đoàn tụ

Tĩnh) mang những đặc điểm vừa nêu. Con người là một phức thể văn hóa,
liên quan khăng khít, chịu sự chi phối của môi trường sống (cả tự nhiên và
xã hội). Nó hình thành nên những tình cảm tự nhiên sâu đậm cũng như ý
thức về bổn phận của con người đối với nơi mà mình được sinh ra và lớn
lên. Mặt khác, Hà Tĩnh là một trong những miền quê còn bảo lưu những đặc
trưng văn hóa làng xã - yếu tố nổi bật của nền văn hóa nông nghiệp cổ
truyền Việt Nam. Nó chi phối sâu sắc đời sống tâm hồn, tác động mạnh mẽ
đến sự hình thành nhân cách của người sáng tác. Cho nên dù viết về bất cứ
vấn đề gì, dù hướng tới đối tượng nào của đời sống hiện đại, thì trong thẳm
sâu tiềm thức của mình, các nhà thơ Hà Tĩnh vẫn dành một phần tình cảm
chân thành, tha thiết cho quê hương xứ sở. Mỗi người viết có riêng một
dáng vẻ, một cách thức góp thêm vào sự khắc họa hình ảnh một miền quê.
Nói đến Hà Tĩnh là nói đến vùng đất khổ nghèo, lam lũ. Ấy là miền
của gió Lào cát trắng, của đá sỏi, đất cằn, đồng chua nước mặn. Bao nhiêu
khốc liệt khó khăn dồn tụ ở dải đất hẹp này. Đã qua rồi cái thời lạc quan
nông nổi đầy màu sắc ảo tưởng, giờ đây các nhà thơ có đủ bản lĩnh và sự
điềm tĩnh để khám phá, thấu hiểu bản chất và bản sắc quê hương mình một
cách chân thực:
Nắng chang chang rát mặt gió Lào
Trưa đứng bóng, can lạch đầm nứt nẻ
Từng mảng bùn khô bết phủ lưng trâu
Cỏ héo úa, nghĩa địa làng hoang vắng
Bao kiếp người yên nghỉ giữa đồng khô
Ngỡ nằm xuống sẽ qua đi tất cả
Nắng vẫn nung nghiệt ngã những nấm mồ
Cây lúa hạn đội rãnh cày để sống
Lưng trần che muôn thủa những túp nhà
17
( Một vùng quê - Nguyễn Huy Hoàng)
Nằm trên dải miền Trung nhỏ hẹp, Hà Tĩnh thường xuyên đối mặt với

từng bữa ăn ngày no, ngày đói:
Mưa tháng tư
Mưa gạo
Mẹ nấu cơm
Khói trắng đòng đòng
Bát canh
Trần lưng sống khế
Con tép mòi
Nghi ngút nắt đen
(Tháng tư - Trần Nam Phong)
Viết về quê hương, người viết giàu tâm huyết gửi cả hồn mình vào
từng hình ảnh đơn sơ mà thân thuộc, vào nỗi buồn, niềm vui, nỗi mong ước
bình dị của con người. Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình tượng mẹ với bao
nỗi vất vả, nhọc nhằn được thể hiện trong thơ văn luôn gắn liền với những
tình cảm thương mến quê nghèo. Qua mẹ, ta thấu hiểu hơn về quê hương:
Mẹ cắm cây mạ xuống bùn
Cắm nỗi lo vào đất
Cây mạ thẳng cao
Lưng mẹ thêm còng
Mẹ cấy trong mưa - cằm người chạm sóng
Một trăm ngày chờ mong cây lúa chín
Một trăm đêm giấc ngủ chập chờn
(Mùa gặt - Quỳnh Như)
Lúa đỏ đuôi rồi mẹ ơi
Phất phơ đôi bờ ngực lép
Rám nắng lặn vào da mặt
Tay gầy vin mãi buồng cong
(Tiếng đồng - Bùi Quang Thanh)
Song, nếu văn học Hà Tĩnh chỉ đề cập đến một vài mặt như vừa trình
bày trên thì chắc vẫn còn phiến diện. Hà Tĩnh là một vùng đất giàu truyền

quê hương, các tác giả càng có điều kiện khám phá những giá trị tinh thần
mà cha ông để lại:
20
Câu ví dặm thấm vào cây, vào đất
Cây xanh tươi và đất mỡ màu
Câu ví dặm lặn vào trăng vào nước
Để ngàn đời trăng nước yêu nhau
( Câu ví dặm - Phan Thế Cải)
Viết về quê hương, văn học Hà Tĩnh thấm đẫm tình cảm thương
nguồn nhớ cội. Đã sống và viết trên mảnh đất này, người viết có điều kiện
thấu hiểu hơn ai hết mạch đất hồn người, thấm thía mọi niềm vui nỗi buồn
của từng ngày sống. Họ viết về quê hương với tình cảm chân thành, xúc
động. Xuân Hoài, nhà thơ gắn bó cả đời mình với mảnh đất Hà Tĩnh, vậy
mà trong thơ ông, quê hương đã trở thành một nỗi hoài niệm da diết khôn
nguôi. Ông luôn mang trong mình tâm trạng của một người xa xứ:
Người đi xa mấy năm ròng
Chưa ai quên một khúc vòng chân đê
Cỏ xanh như chính lời thề
Hai bờ đê gợi bước về vương vương
( Con đường về bến Tam Soa)
Thơ Duy Thảo thường thiên về duy cảm, trong đó tình quê luôn được
ông dành cho một vị trí quan trọng:
Nửa đời quen sống xa quê
Tóc sương giờ lại tìm về vườn xưa
Đọt bầu ngọt, bát canh chua
Trái xoan rụng, nhớ tuổi thơ bàng hoàng
Chè xanh đậm bột khoai lang
Bạn bè thấm nghĩa mênh mang vơi đầy
(Vườn xưa)
Với một hồn thơ đậm chất suy tư, Lê Quốc Hán đã thể hiện niềm

còn nhiều điều bất cập so với cuộc sống của mọi miền, Dễ bỏ phù vinh không dễ
bỏ quê nghèo, bởi vì: Mang quê hương như viên ngọc trong hồn / Máu thịt dời
22
theo trau chuốt mãi / Tôi hút nhụy trăm vùng quê xa ngái / Vẫn màu hoa râm
bụt đỏ bên lòng ( Tâm sự một vùng quê - Nguyễn Sĩ Đại).
Sông có nguồn, cây có cội, người có tổ tiên, quê hương. Do vậy,
hướng về nguồn cội với tất cả nghĩa tình sâu nặng là một trong những nội
dung nổi bật của văn học Hà Tĩnh đương đại. Những tác phẩm như vậy sẽ
còn có chỗ đứng xứng đáng trong lòng người đọc các thế hệ trên mảnh đất
này.
1.1.3. Các tác giả tiêu biểu thơ Hà Tĩnh và thơ xứ Nghệ đương đại
1.1.3.1. Nhà thơ Duy Thảo
Duy Thảo là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ của Hà Tĩnh. Ông đã đạt
rất nhiều giải thưởng: Giải Ca dao Nghệ An - 1963, giải Thơ Nghệ An 1964,
giải đặc biệt Thơ chống Mỹ Hà Tĩnh 1968, giải thưởng văn học Nguyễn Du
lần 1- 1990, Cành xanh lá xanh, giải thưởng văn học Nguyễn Du lần 2 - Lối
xanh, giải thưởng văn học Nguyễn Du lần 3- Sau mùa lá rụng, giải thưởng
văn học Nguyễn Du lần 4 - Mưa ngâu, Lộc vừng, giải thưởng của UB
LHVHNT VN năm 2008. Duy Thảo "Tuy là nhà báo lâu năm, nhưng khác
với đồng nghiệp thường tải tài năng ra nhiều lĩnh vực truyện, kịch, phóng
sự, nghị luận còn ông chăm chút dồn hết cho thơ. Đến với thơ, ông đi theo
con đường truyền thống lấy tình làm gốc, mọi tiếp cận về kỹ thuật thơ ca tân kỳ,
hiện đại đối với ông chỉ nằm trong vòng quay thứ hai, thứ ba " [38, 137.] Ông
cùng thế hệ và lối viết có thể xếp chung dòng với Xuân Hoài, Nho Liêm,
Phan Duy Đồng , tuy nhiên có sắc thái riêng. Thuộc thế hệ nhà thơ chống
Mỹ, trưởng thành từ những năm chống Mỹ nhưng thơ ông trải dài trên suốt
cả thời kỳ xây dựng sau này và cũng chính thời kỳ sau này con đường Thơ
của ông chuyên nghiệp và khẳng định mình hơn. Âm hưởng thơ ông bởi vậy
có sự tiếp nối nhưng có những đặc điểm riêng của hai chặng đường, hai
cách nhìn, hai mối cảm xúc về lịch sử, cũng như những vấn đề trữ tình cá

chữ, thơ lục bát, tứ tuyệt đâu cũng gặp một cách nói ấy: chân thật, giản dị,
24
không khoa trương, màu mè, không hô to gọi giật ngay cả khi viết chiến
công, viết về Đảng, về lãnh tụ (Gửi trọn niềm tin, Trước ảnh Bác). Mảng
thơ tứ tuyệt ghi dấu một thành công của ông. Đặc biệt các bài thơ về hoa lá
cây cảnh. Hàm súc và chân tình. Cốt cách thơ của ông hình như hợp với loại
thơ này. Bài Thời mộng du với ngôn ngữ thơ tự nhiên, tứ thơ sâu kín, hình
tượng thơ đầy day dứt lòng người:
Bao nhiêu nuối tiếc qua rồi
Ta về xếp kín một thời mộng du
Xin làm chiếc lá chiều thu
Để ai lãng đãng sương mù chớm đông
( Thời mộng du)
Thiên nhiên vốn trong sạch và vô tư. Người xưa khi tránh đời "đục"
hay tìm về với thiên nhiên. Duy Thảo khi mệt mỏi cũng tìm về với thiên
nhiên để nghỉ ngơi:
Chân mỏi gót trần lên thiền viện
Bỗng nhẹ thênh lòng một tiếng chim
( Tiếng chim)
Đời không bình yên, nhà thơ tìm về với hoa lá mong nhận được một
sự thủy chung để rồi ngẫm nghĩ sự đời đầy vẻ nghiệm sinh xoáy vào tâm tư
người đọc:
Thủy chung còn lại nhành hoa bưởi
Thơm mát góc vườn giữ tuổi xuân
(Hoa bưởi)
Duy Thảo nói về sự hi sinh mất mát của những bà mẹ, người chị trong
chiến tranh:
Ngày báo tử chị khóc không thành tiếng
Rồi hóa thân hàng xóm gọi bằng bà
(Mưa ngâu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status