đặc điểm nghệ thuật thơ tế hanh thời kỳ chống mỹ - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MAI THỊ CHÂU PHA

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TẾ HANH
THỜI KỲ CHỐNG MỸ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 5.04.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PSG.TS PHÙNG QUÝ NHÂM

TP. HỒ CHÍ MINH - 2003


2


LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp luận văn hoàn thành tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với
phòng Sau Đại Học, Quí Thầy Cô cùng các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian qua. Đặc biệt tôi xin ghi nhớ công ơn của thầy PGS. TS Phùng Quý Nhâm, người
đã trực tiếp hướng dẫn và hết lòng chỉ dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Tôi
xin ghi nhận những đóng góp quí báu cho luận văn và sẽ cố gắng tiếp tục phấn đấu hơn nữa
để vấn đề nghiên cứu có thể được mở rộng và hoàn thiện một cách toàn diện.
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 9 năm 2003.
Người thực hiện luận văn
Mai Thị Châu Pha


1.4.2. Thể thơ 7 chữ, 8 chữ có những cách tân thể hiện sự nhuần nhuyễn:....................80
1.4.3. Thơ lục bát với những cách tân hiện đại:..............................................................84
1.4.4. Thơ tự do có những tìm tòi bước đầu: ..................................................................89

CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ TẾ HANH. ........................................................................................ 91
2.1. Không gian nghệ thuật: .............................................................................................91
2.1.1. Không gian địa lý:.................................................................................................91
4


2.1.2. Không gian nỗi niềm: .........................................................................................105
2.1.3. Hình tượng không gian: ......................................................................................115
2.2. Thời gian nghệ thuật: ..............................................................................................118
2.2.1. Thời gian hiện thực: ............................................................................................119
2.2.2. Thời gian hồi tưởng, thời gian hoài niệm: ..........................................................129
2.2.3. Cảm thức về thời gian trong thơ Tế Hanh: .........................................................132
2.2.4. Phương thức tổ chức thời gian: ...........................................................................142

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 153

5


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Tế Hanh là một trong những cây bút tiêu biểu
cùng với Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hữu "góp vào và tạo nên những đỉnh cao
trong ngũ hành thơ ca (68, tr.40).

2.1. Phạm vi của đề tài:
Văn học là một lĩnh vực của hoạt động nghệ thuật. Tác phẩm văn học bao giờ cũng
được tồn tại trong một hình thức nhất định với một nội dung tương ứng. Tìm hiểu tác phẩm
văn học phải tìm hiểu cả nội dung lẫn hình thức. Vì mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
trong đó là hai mặt gắn bó mật thiết nhau.
Nhưng vì thời gian và điều kiện có hạn, trong luận văn này chúng tôi không đi sâu vào
vấn đề nội dung của thơ Tế Hanh mà chủ yếu là đi sâu tìm hiểu về đặc điểm nghệ thuật thơ
Tế Hanh. Mỗi một nhà thơ mang phong cách riêng. Do đó các sáng tác cũng nổi lên những
đặc điểm nghệ thuật không giống nhau. Đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh có nhiều vấn đề
cần nghiên cứu nhưng chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề nổi trội và tâm đắc là:
ngốn từ, thể thơ, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật.
Tế Hanh là người tận tụy với nghề. Sáng tác xuyên suốt hơn nửa thế kỉ của nhà thơ đã
để lại cho đời hơn 14 tập thơ. Trong đó chúng ta cũng thấy giai đoạn chống Mỹ cứu nước
1954 - 1975 thì tài năng nghệ thuật ở nhà thơ mới thực sự nở rộ. Chúng tôi chỉ tìm hiểu đặc
điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh giai đoạn này với hy vọng đây sẽ là những nghiên cứu bước
đầu góp phần cho nghiên cứu toàn bộ thơ Tế Hanh sau này.
Do điều kiện bản thân cùng lượng thời gian có hạn chúng tôi xin được tìm hiểu vấn đề
chủ yếu trên cơ sở các tập thơ: Gửi miền Bắc, Hai nửa yêu thương, Tiếng sóng, Khúc ca
mới, Câu chuyện quê hương, Đi suốt bài ca, Theo nhịp tháng ngày và một số bài thơ của tập
Lòng miền Nam được trích trong tuyển tập thơ Tế Hanh Nhà xuất bản văn học Hà Nội 1997.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng thám khảo các sáng tác của Tế Hanh ở giai đoạn trước và
sau thời gian đó như: Hoa niên, Con đường và dòng sông, Giữa những ngay xuân, Bài ca sự
sống và các bài thơ trong tuyển tập thơ/Tế Hanh cũng như một vài tác phẩm sáng tác sau
này.
2.2. Phương hướng nghiên cứu:
7


Để hoàn thành luận văn này trước hết chúng tôi đọc, tham khao toàn bộ tài liệu có liên
quan, dựa vào những sáng tác của Tế Hanh chủ yếu là các tác phẩm thuộc giai đoạn chống

trước và sau đó.
Người viết còn vận dụng phương pháp tiếp cận thi pháp để đi sâu tìm hiểu các đặc
điểm nghệ thuật cụ thể của thơ Tế Hanh thời chống Mỹ như: hình ảnh, thể loại, thời gian
nghệ thuật, không gian nghệ thuật,...
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu luận văn còn sử dụng một số thủ pháp, biện pháp
như: thông kê, lập biểu mẫu, phân loại nhằm nắm bắt cụ thể hơn về thể thơ, ngôn từ thơ,
hình ảnh thơ,...Từ đó làm nổi bật hơn sự sáng tạo về nghệ thuật thơ Tế Hanh. Điều đương
nhiên là các phương pháp trên được thực hiện phối hợp nhau trọng quá trình khảo sát, đánh
giá các vấn đề ở nội dung của luận văn.
Tóm lại, văn học gắn liền với sự nhận thức đồng thời gắn liền với tình cảm. Xuất phát
từ đối tượng nghiên cứu, từ mục đích của luận văn người viết chú trọng cách tiếp cận từ văn
bản. Cách tiếp cận này đòi hỏi phải chú ý đến ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm. "Đây là
một hướng nghiên cứu cần thiết, có khả năng tăng cường tính khách quan trong khoa học"
(30, tr.40).

4. Lịch sử vấn đề :
Tế Hanh thuộc lớp nhà thơ cuối cùng của phong trào thơ Mới, là một trong những cây
bút tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ ông xuất hiện khá muộn trên thi đàn so
với các nhà thơ cùng thời. Nhưng ngay từ tập thơ đầu tay ra đời đã tạo nên ấn tượng khó
phai trong mắt của giới nghiên cứu bấy giờ.
Tập thơ đầu tiên Nghẹn ngào ( Hoa niên) ra đời năm 1939, Nhất Linh đã cho hay: "Tế
Hanh có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu sắc và diễn tả tâm hồn ông
có đủ nghệ thuật về cách đặt câu, tìm chữ..." (68, tr.283).
Đến 1941, Tế Hanh được Hoài Thanh trân trọng giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam
và nhận thấy "Tế Hanh là một người tinh lắm. Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về
cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm
thanh như mảnh hồn làng trên cánh buồm giương như tiếng hát của hương đồng quyến rũ
con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy
9


Năm 1966, Khúc ca mới ra đời. Sau đó, trên Báo Văn nghệ số 224 , ngày 11-8-1967,
hai nhà nghiên cứu Lê Tố, Nguyễn Xuân Nam đã chỉ ra trong đó "ngọn lửa thôi thúc hành
động". "Bên giọng yêu thương ngọt ngào quen thuộc Tế Hanh đã có thêm những khúc hát
11


chiến đấu". Và "hào khí trong thơ Tế Hanh đã có phần mạnh hơn so với các tập thơ trước".
Các nhà nghiên cứu cũng thấy "Tế Hanh sử dụng ngôn ngữ, vần điệu khá thành thục" " ít
khi gặp phải những vần điệu trúc trắc, sạn sỏi", "không bị gò bó vào một khuôn khổ nào của
thơ". Câu thơ "rất dễ đàng, lưu loát". Khi cảm xúc đến là nhà thơ có được những lời và vần
điệu trong sáng, bình dị.
Nghiên cứu "Đường thơ của Tế Hanh", Thiếu Mai ở Tạp chí Văn học số 2-1969 đã
khẳng định: "cái hay của Tế Hanh là một cái hay dễ cảm thấy mà rất khó nói". "Đặc điểm
nổi bật trong phong cách thơ của Tế Hanh là lòng chân thành, cảm xúc dồi dào ý nhị”. Qua
từng chặng đường, Tế Hanh đã "cố gắng tránh sự đơn điệu trong hình thức biểu hiện, làm
cho phong cách thơ của mình đa dạng hơn" và tạo được "những hình ảnh độc đáo" "dạt dào
cảm xúc" "khỏe chắc và chứa một nội dung khá sâu".
Khi Đi suốt bài ca xuất bản, trên Tạp chí Tác phẩm mới, số 10 tháng 12, 12 -1970,
Thiếu Mai nhận xét: "Vế hình thức diễn đạt, Tế Hanh có nhiều tìm tòi", "hình thức câu thơ 8
chữ được nhà thơ phát triển thành câu 9, 10 chữ". Nhưng những tìm tòi của nhà thơ "chưa
tạo thành những nét mới, ổn định trong sự phát triển tất yếu của phong cách thơ Tế Hanh".
Tế Hanh vẫn là nhà thơ "nắm bắt cái đẹp và nhạy" "lời thơ dào dạt cảm xúc".
Anh Tố trên Báo Văn nghệ số 337, ngày 1-1 -1971 cũng đưa ra cảm nghĩ của mình khi
đọc Đi suốt bài ca. "Cái giàu xúc cảm chân thực được thể hiện qua những lời thơ trong trẻo,
giản dị". Tế Hanh "không đeo đuổi những hình ảnh cầu kỳ, hoặc suy tư triết lý", "giọng thơ
Tế Hanh là một giọng thơ đôn hậu, không cao đạo. Thơ anh giàu tình cảm hơn là giàu hình
ảnh. Câu thơ thường mang dáng dấp chân thực, trong sáng, gần gũi quần chúng". "Tình của
Tế Hanh ...có gì thiết tha, đầm ấm,...thâm trầm, thắm thiết". Tuy nhiên ngôn ngữ thơ còn
dàn trải, "Tế Hanh thường thành công nhiều trong thể loại lục bát, hoặc thơ 5, 7, 8 chữ quen
thuộc". "Thơ tự do...Tế Hanh chưa tạo được một thế hài hòa giữa lời và cảm xúc, giữa ý và

những bước chuyển khá mạnh. Suy nghĩ đằm lại, chiều sâu tư tưởng tăng lên .. lời thơ tiết
kiệm đi". Vì vậy, "ông là một trong vài ba cây bút lão thành ít bị cũ trước chuyển động của
thơ hôm nay".
"Nghĩ về một câu hỏi của anh", Ngô Quân Miện trên Báo Văn nghệ số 23, ngày 8 -61991 đã nhận ra "Tế Hanh có một khả năng cảm nhận và truyền cảm khá nhạy bén và tinh
vi" "tứ thơ có chiều sâu".
Anh Ngọc trên Báo Thể thao và Văn hóa số 37, ngày 14 -9 -1991 đã thấy 55 năm ấy,
thơ Tế Hanh đã chia làm hai nửa rõ rệt cả về nội dung lẫn hình thức. "Nửa thứ nhất ...là
những bài làm sơ lược, cảm xúc nghèo nàn, hình thức cũng thô sơ, cạn cợt". Nửa thứ hai
14


"giọng thơ da diết có cái cốt lõi là tình cảm thơ chân thực" "Tế Hanh đã thành công ở nghệ
thuật cấu trúc: cấu tứ và lập ý", "khéo đưa những quan sát tinh tế vào thơ mình". "Tế Hanh
vẫn bảo toàn được chất riêng của mình qua mọi biến thiên của thời cuộc khiến cho dòng thơ
ông, dẫu có lúc đầy vơi song không bao giờ đứt đoạn hay lạc dòng".
Tìm hiểu đôi nét đặc trưng thơ Tế Hanh, Trường Lưu trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
số 8, 1994 thấy "bút pháp trữ tình thiết tha và chân thật" của "một tâm hồn trong
trắng,...hình ảnh mộc mạc, cụ thể được thi vị hóa thành thơ rất thật và rất gần gũi đời
thường", "lời thơ chân thành dịu dàng".
Vương Trí Nhàn trên Báo Thể thao và Văn hóa số 29, ngày 20-7 -1996 đã khẳng định
Tế Hanh có "một cuộc đời sống trọn vẹn với thơ,...là một nhà thơ chuyên nghiệp.. .giọng
thơ thường từ tốn, lưng chừng" nhưng "có sức truyền cảm riêng do cái vẻ hồn nhiên bột
phát của nó".
Tế Hanh trọn đời cho thơ là nhận xét của Ngô Văn Phú trong Các nhà văn mới được
giải thưởng Hồ Chí minh, Nhà Xuất Bản Hội nhà văn Hà Nội, 1997. Và nhà nghiên cứu
thấy "thơ tế Hanh là một giọng riêng, hồn thơ, cốt cách, con chữ, cách nghĩ đằm hơi thơ,
giọng điệu của quê hương xứ sở mà những nét hiện đại vẫn rất rõ. Thơ ông có vẻ giản dị,
thậm chí có lúc dễ dãi nhưng nhiều bài tính triết lý lại rất cao". "Tâm hồn và tình cảm của
ông đối với thơ, với đời vẫn thiết tha đằm thắm".
Mã Giang Lân ở. Tuyển tập Tế Hanh, tập II, Nhà Xuất Bản Văn học, Hà Nội, 1997

Hương đã khám phá giọng điệu thơ Tế Hanh và thấy rằng "chất giọng chủ đạo, quán xuyến
của thơ Tế Hanh là: giọng tâm tình giãi bày" có lúc nghẹn ngào, day dứt, suy tư.
Qua các bài nghiên cứu trên, chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu đã khai thác từng
phương diện, từng tập thợ, từng chặng đường thơ mà Tế Hanh đã đạt được. Từ góc độ đó,
người nghiên cứu, người đọc có điều kiện hiểu rõ hơn tầm vóc, tài năng nghệ thuật, sự sáng
tạo không ngừng cống hiến quan trọng, lớn lao ở nhiều phương diện của Tế Hanh đối với sự
phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.
Tóm lại, từ những góc nhìn vấn đề không hoàn toàn giống nhau nhưng các tác giả
nghiên cứu ít nhiều đã:
+ Khẳng định Tế Hanh là nhà thơ tận tụy, có những tìm tòi sáng tạo đóng góp cho nền
thơ ca hiện đại Việt Nam.
16


+ Khẳng định tài năng thơ, những sáng tác độc đáo của thơ Tế Hanh về nghệ thuật. Tế
Hanh có một hồn thơ chân thực, tinh nhạy, giàu cảm xúc.
+ Khái quát những đóng góp nổi bật ở từng tập thơ và sơ lược những chặng đường
phát triển của thơ Tế Hanh. Từ đó khẳng định những bước tiến, những cách tân nghệ thuật ở
một vài phương diện của thơ Tế Hanh.
Tiếp thu theo cách kế thừa và phát huy những thành quả của các cồng trình nghiên cứu
đi trước cũng là để góp phần nhận thức, khám phá thấu đáo hơn, toàn diện hơn về đặc điểm
nghệ thuật thơ Tế Hanh thời kỳ chống Mỹ.

5. Cấu trúc luận văn:
Trong luận văn này, sau khi trình bày Mở đầu chúng tôi đi vào Nội dung. Nội dung
luận văn được trình bày trong hai chương:
Chương 1: Đặc điểm ngôn từ và thể thơ trong thơ Tế Hanh.
Chương 2: Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong thơ Tế Hanh.
Sau đó chúng tôi Kết luận. Và cuối cùng là trình bày Tài liệu tham khảo.


18


dân, một nhận thức mới về tiếp thu truyền thống và sang tạo. Từ đó sáng tác của Tế Hanh
đáp ứng được nhu cầu thực tế và đạt hiệu quả nghệ thuật.
Người đọc nhận thấy trong thơ Tế Hanh hàng loạt những tên sông, tên đất, tên
người,... số liệu, thời gian xuất hiện một cách chân thực, cụ thể. Những tên đất quen thuộc:
Quảng Ngãi, Mỏ Cày, Phú Lợi, Mộc Châu, Bình Định, .... những dòng sông Trà Bồng, Trà
Khúc, Nậm Rôm, Hiền Lương, sông Lam, sông Mê Kông, sông Mã... gắn với những địa
danh ấy là những cách gọi tên người bình dị của làng quê: chị Duyên, anh Hải, chị Diệu, chị
Lý, anh Vịnh, chị Vân, em Ái, Thủy, Yên, ... Lớp từ này xuất hiện với mặt độ khá dày đặc
trong tác phẩm góp phần làm cho lời thơ cụ thế, gần gũi với cuộc sống. Và cái chân thật đến
không ai ngờ được khi đọc những câu:
Một chấm đỏ trên bản đồ nước Việt
Một chấm xanh trên bãi Thái Bình Dương.
(Tiếng sóng)
Dừng chân dưới một quả đồi
Gỡ từng sợi cỏ, tôi ngồi nhìn thu .
(Thu)
Cách nói thẳng, bộc trực như vậy giúp lời thơ thêm rõ ràng trong sáng, không cầu kỳ
mà giản dị, tự nhiên. Khi lòng căm thù sục sôi, lời thơ Tế Hanh như lời nói hàng ngày đầy
căm phẫn:
Chúng tao chi có câu này
Thề cùng giặc Mỹ có mày không tao
...Nơi chúng bay giết người
Thì chúng bay phải chết...
(Câu chuyên quê hương)

19


Lời thơ kể chuyện tự nhiên mà có sức truyền cảm. Chẳng hạn đoạn cụ già vớt được xác anh
Hải trong Chị Duyên anh Hải:
Chị Duyên ơi! trời chẳng phụ người hiền.
Nên chúng tôi vớt được anh lên:
Anh ở với bà con, nghe anh Hải!
Mặt khác, hệ thống những từ chỉ thời gian ước định như: thuở trước, ngày trước, hôm
đó, xưa kia, cách đây mười năm, mười năm về trước, ngày mai, ngày nào, mới ngày
nào,...giúp ngôn từ thơ Tế Hanh có tính khái quát đồng thời mang đậm sắc thái dân gian phù
hợp với phong cách khẩu ngữ quen thuộc của người dân.
Cuộc đời thuở trước lênh đênh
Mẹ cha không tấm lưới mành nuôi con.
(Hai lời rủa và một khúc ca)
Chiếc cầu Pháp đổ năm xưa
Chiếc cầu Mỹ cũng lại vừa nổ tung
(Ba chiếc cầu ở Đông Hà)
Cũng như các nhà thơ đương thời, giai đoạn chống Mỹ hiện thực cuộc sống đi vào thơ
Tế Hanh ngày càng phong phú, đa dạng. Ngôn từ trong thơ Tế Hanh không những gần với
tiếng nói của quần chúng lao động mà có cả một lớp ngôn ngữ của thời chiến mang dấu ấn
của thời đại như các loại: bom, đạn, pháo, súng, khẩu hiệu chiến tranh,...
Khi quân thù đem tre cọc, thép gai
Dồn dân chúng trong khu trù mật
...Hay mới đây trong những trận càn
Ấp chiến lược, mẹ còn không hỡi mẹ.

21


(Mẹ mãi còn)
Đặc biệt những sự kiện, những chiến công được ghi lại rõ ràng trong từng thời gian cụ
thể. Có bài thơ lời thơ ngắn gọn chứa những số liệu cụ thể như lời nói thông thường nhưng

chúng làm cho gần gũi hơn, lời thơ cũng mộc mạc như lời nói hàng ngày bởi việc sử dụng
toàn ngôn ngữ thuần Việt mang dấu ấn của thời chiến, cách ngắt nhịp, chấm câu thay đổi.
Tiêu biểu như bài Mẹ:
Mẹ tám mươi. Con nghĩ không còn
Giặc ném quê mình mấy trận bom
Sáng nay mẹ nhắn tin ra.- Mẹ!
Mười sáu năm trời chớ giận con.
Thơ lục bát cũng được bình thường hóa như câu nói văn xuôi thông thường bởi ngôn từ giản
dị, hiện tượng vắt dòng, chấm câu giữa dòng...
Tứ về. Giữa khoảng trời đêm
Vành trăng như thể mắt em soi đường.
(Mùa thu tiễn em)
Ngoài ra, thơ Tế Hanh còn có khá nhiều những từ có tính cụ thể hóa rõ nét tính chất,
trạng thái, mức độ của sự vật, hiện tượng góp phần làm cho lời thơ vừa rõ ràng vừa chân
chất. Với Tế Hanh đã sáng thì là sáng trưng, sáng rực, sáng chói, sáng ngời, ...trong thì
trong trẻo, trong vắt, trong xanh, trong veo,.. .trắng thì trắng trẻo, trắng phau, trắng bệch,...
xanh thì xanh biếc, xanh lam, xanh lơ, xanh rờn, xanh non, xanh già, xanh um,...mát lừng,
23


mạt rượi, đen nhánh, đen sì,... Và Tế Hanh cũng thành công trong việc vận dụng từ láy làm
cho ngôn từ thơ cụ thể, giàu hình tượng như : long lanh, bát ngát, rộn ràng, ríu rít, rì rào,
nơi nơi, mênh mông, lấp lánh,...
Anh nhìn ra bát ngát từng không
Thấy mặt em hiện giữa mênh mông
Rừng cây dài hay tóc em đen nhánh
Và dòng suối trong ánh trăng lấp lánh.
(Cảnh!)
Hơn nữa, cách nói thẳng, nói thật, việc sử dụng rất nhiều những thán từ: ối, ơi, hỡi,...
đã gợi lên nỗi lòng của nhân vật trữ tình đồng thời thấy được vẻ hồn nhiên chân thực của

nói thực, lời thơ như tiếng nói của trái tim, có sao nói vậy.
Anh thấy em như thấy lại quê nhà
Anh tưởng như vừa từ giã hôm qua.
Có thể nói ngôn ngữ thuần Việt giản dị, gần với lời nói hàng ngày là nét độc đáo trong
ngôn từ thơ Tế Hanh đồng thời cũng là nét chung của thơ ca kháng chiến. Trong số những
cây bút đại thụ làm nên những đỉnh cao của "ngũ hành thơ ca" thì thơ Huy Cận rất gần với
thơ Tế Hanh. Đặt Tế Hanh bên cạnh Huy Cận sẽ thấy được những nét độc đáo làm nên
phong cách của hai nhà thơ cùng thời. Bên cạnh những nét chung thì nổi lên những nét
riêng. Mỗi nhà thơ mang một phong cách riêng trong sáng tạo nhất là việc xây dựng thế giới
hình tượng trong tác phẩm. Ngôn từ thơ Huy Cận trong giai đoạn này cũng tự nhiên, mộc
mạc, gần với hiện thực không kém, câu thơ Huy Cận nhiều lúc cũng như câu nói:
Chuyện không nhớ năm nào
25


Trích đoạn Ngôn từ giàu sức biểu hiện, mang chất khỏe khoắn và giàu có của ngôn ngữ đờ Hình ảnh thực, khỏe khoắn, dung dị, nồng đượm hơi thở của cuộc sống Hình ảnh so sánh, tượng trưng: Hình ảnh đẹp, giàu sáng tạo: Hình tượng không gian:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status