Khảo sát một số đặc điểm nghệ thuật thơ chữ hán Cao Bá Quát - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------------

ĐOÀN DUY LINH

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

đã động viên và khích lệ chúng tôi trong quá trình học tập
và viết luận văn.
Xin chân thành cảm ơn tất cả!
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Thơ chữ Hán chiếm phần lớn trong tổng thể sáng tác của Cao Bá Quát. Con số hơn 1267 bài
thơ đủ để khẳng định ông là cây bút sáng tác bằng chữ Hán nhiều nhất trong lịch sử văn học dân tộc,
nhà thơ lớn của văn học trung đại. Việc nghiên cứu, khảo sát bộ phận thơ này là một việc cần thiết
và là niềm vinh hạnh cho người đi sau. Trước nay, qua vă
n học đã có nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến tư tưởng, quan niệm của Cao Bá Quát ở mảng thơ chữ Hán. Nhìn chung, các công trình
này thường nhằm mục đích giúp minh họa và soi sáng cho cuộc đời Cao Bá Quát hơn là xem thơ
chữ Hán như một đối tượng nghệ thuật cần nghiên cứu. Các tác giả chủ yếu tiếp cận từ góc độ tiểu
sử, hành trạng về tư liệu, về con người và nộ
i dung thơ văn, tập trung ở một số bài quen thuộc. Đến
đây, chúng tôi tiến hành khảo sát 418 bài thơ chữ Hán trong tổng số 1267 bài thơ. Số lượng lớn
những bài thơ này thể hiện những tâm tư – tình cảm, nỗi niềm, khát vọng từ những cảm hứng nghệ
thuật của chính Cao Bá Quát trước cuộc đời.
Mặc khác, việc đi tìm một hệ thống giải mã tương đối hữ
u hiệu cho thế giới nghệ thuật thơ
chữ Hán Cao Bá Quát nhằm phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy cũng là vấn đề cấp thiết.
Bên cạnh đó, còn có sự ham mê hứng thú của người viết với tác gia này. Những thế giới nghệ
thuật còn nhiều tiềm ẩn từ những câu thơ, hình ảnh, ngôn ngữ… cứ như khêu gợi, thôi thúc người
viết. Mong muốn hiểu bi
ết thì nhiều. Song khả năng lại có hạn. Người viết nghĩ nếu thực hiện tốt đề
tài này sẽ là sự đóng góp, bổ sung hiểu biết về tác gia lớn Cao Bá Quát, giúp việc giảng dạy, học tập
tốt hơn.
Đó là lý do thực hiện đề tài: Khảo sát một số đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát.
2. Mục đích nghiên cứu:

lí trong thơ Cao Bá Quát”, Cao Bá Quát – Tham luận Hội thảo, Nxb. Văn học – Trung tâm Nghiên
cứu Quốc học.
- Nguyễn Huệ Chi (1961), “Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát”, tạp
chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 6.
- Nguyễn Huệ Chi (2003), “Tiếp cận nghệ thuật với hai chủ đề độc đáo trong thơ Cao Bá
Quát”, Tạp chí Vă
n học, Số 5.
- Đinh Thị Thái Hà (2003), “Lương tâm và khí phách qua thơ chữ Hán Cao Bá Quát”, Luận
văn thạc sỹ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hồ Sĩ Hiệp (2005), “Thi tiên trong thơ Thánh Quát”, tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2.
- Tố Hữu (2001), “Cao Bá Quát - Một khí phách hào hùng, một nhà thơ lỗi lạc của dân tộc”,
Văn nghệ, số 17.
- Nguyễn Hữu S
ơn (2004), “Cao Bá Quát và những câu hỏi trong thơ”, Văn nghệ, số 35, 36.
- Nguyễn Hữu Sơn (2005), “Cao Bá Quát và những suy tưởng trong thơ”, tạp chí Nghiên cứu
văn học, số 2.
- Nguyễn Tài Thư (1980), Cao Bá Quát con người và tư tưởng, Nxb. Khoa học Xã hội, H.
- Phạm Quang Trung (2003), “Bước đầu tìm hiểu quan niệm văn chương của Cao Bá Quát”,
tạp chí Văn học, số 10.
………………
Những công trình này thường đi vào một số bài thơ tiêu biểu cho khí phách, lương tâm, tình
cảm … trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát.
Hướng đi vào từng bài cụ thể: có một số bài viết sau:
- Trịnh Bích Ba (2004), “Đọc bài Dương phụ hành của Cao Bá Quát”, in trong Cao Bá Quát
- Tham luận Hội thảo, Nxb. Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.
- Lê Bảo (1991), “Bài ca cái roi song”, trong sách Những bài thơ hay, Nxb. Hà Nội.
- Mai Quốc Liên (2005), “Một bài thơ kỳ tuyệt, một số phận khác thường”, Văn nghệ, số 19,
20.
- Nguyễn Thu Phương (2001), “Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát với thi pháp văn học
trung đại qua Bài ca ngất ngưởng và Dương phụ

m vi nghiên cứu:
Luận văn khảo sát toàn bộ 418 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát trong cuốn Cao Bá Quát
toàn tập, tập 1, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nhà xuất bản Văn học, 2004.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở những vấn đề liên quan đến văn bản trong một số đặc
điểm nghệ thuật nổi bật được tìm thấy như hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật…
5. Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ mục đích và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp so sánh… kết hợp với các thao tác như phân loại, thống kê, phân tích, so sánh đối
chiếu, phân tích tổng hợp… Các phương pháp và thao tác này này được dùng suốt ở các chương.
Đầu tiên là phân loại đối tượng, tiếp theo là thống kê các yếu tố có tính chất lặp đi lặp lại
nhiều lần. Sau đó, ở tùy từng loại, chúng tôi khảo sát theo nhữ
ng phương diện khác nhau, kết hợp
phân tích từng đối tượng, khái quát và rút ra những kết luận, đặc điểm quan trọng.
Trong quá trình khảo sát, nhận xét, đánh giá đối tượng, chúng tôi còn so sánh đối chiếu từng
phương diện với các tác phẩm của các tác giả khác để làm rõ thêm sự khác biệt cũng như những nét
đặc sắc nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát.
6. Những đóng góp của luận văn:
6.1. Luận văn bướ
c đầu khảo sát những đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát ở
phạm vi rộng - 418 bài thơ.
6.2. Luận văn đi sâu vào khảo sát từng phương diện trong thế giới nghệ thuật thơ chữ Hán
Cao Bá Quát. Qua đó, rút ra được những nét đặc sắc về quan niệm nhân sinh, về sáng tạo nghệ thuật
của tác gia lớn Cao Bá Quát.
6.3. Từ những kết quả đạt được có thể áp dụ
ng vào thực tế giảng dạy, vào lĩnh vực tiếp nhận
và cảm thụ tác phẩm thơ chữ Hán Cao Bá Quát.
7. Kết cấu luận văn:
Phần mở đầu.
Chương 1: Thời đại, con người và sự nghiệp sáng tác của Cao Bá Quát.
1.1. Thời đại.

Phần kết luận.
Chương 1:
THỜI ĐẠI, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA CAO BÁ QUÁT

1.1. Thời đại:
Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, lịch sử Việt Nam có nhiều biến chuyển lớn lao. Họ Mạc
sụp đổ. Vua Lê lên trị vì, dẫn đến sự phân chia Đàng ngoài, Đàng trong. Ở Đàng ngoài, Chúa Trịnh
lộng quyền dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với vua Lê, nội bộ nhà Chúa lại tranh giành quyền hành lẫn
nhau. Trong Đàng trong, nhà Nguyễn cùng nhân dân khai khẩn đất hoang, đời sống khó khăn, khổ
cực, lầm than. Cuộc khởi nghĩa của anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ như một “trận mưa
nhuần” dẹp yên “thù trong giặc ngoài”, lập nên triều đại Tây Sơn tiến bộ vào bậc nhất trong lịch sử
phong kiến. Thành quả quý báu ấy lại nhanh chóng bị hủy hoại trong tay vị vua trẻ Quang Toản ít
tài lắm tật, tin tưởng nịnh thần.
Năm 1802, nhờ sự viện trợ của nhà Thanh, Nguyễn Ánh đánh đổ nhà Tây Sơn thống nhất
giang sơn, thành lập vương triều Gia Long. Một vương triều nói như Nguyễn Tài Thư “có một
không hai trong lịch sử” cai trị.
Về chính trị, các thế hệ nhà Nguyễn luôn chuyên chế, độc đoán, vị kỷ. Mọi quyền hành đều
tập trung vào nhà vua: quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và kiểm soát trong tay. Quy định “bốn
không” cũng đượ
c ban hành: không đặt chức tể tướng, không lập hoàng hậu, không lấy đỗ trạng
nguyên, không phong tước vương cho người hoàng hoàng tộc. Không chỉ vậy, pháp luật nhà
Nguyễn còn dã man, bạo tàn với “bộ luật Gia Long” tư thù, phản động và một đội quân khát máu
dùng trong những cuộc đàn áp nông dân.
Đối nội là vậy, còn đối ngoại thì triều Nguyễn trước sau vẫn giữ thái độ “thần phục” nhà
Thành, “bế quan tỏa cảng” với Phương Tây. Nhiều chính sách, thi
ết chế chính trị, tư tưởng văn hóa
xã hội của nhà Thanh được các vua triều Nguyễn tiếp thu, vận dụng một cách rập khuôn, cứng nhắc,
xem nó như là “khuôn vàng thước ngọc” trong cai trị. Trong khi ấy, triều đình nhà Thanh đã lỗi thời
trước sự phát triển của lịch sử, bản thân đang gặp nhiều khó khăn bởi “thù trong giặc ngoài”. Thần
phục mù quáng nhà Thanh, nhà Nguyễn ra sức ngăn chặn các trào lưu phát triể

hành động. Nếu trước kia, nông dân khởi nghĩa vì không chấp nhận sự thống trị của tân triều thì nay
họ đấu tranh chính vì bản chất phản động trong cai trị của triều Nguyễn. Thời Gia Long (1802 -
1819) mới chỉ có khoảng 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, như
ng đến Minh Mệnh (1820 – 1840) đã có
trên 200 cuộc, sang Thiệu trị (1841 – 1846) chỉ có 7 năm mà có gần 50 cuộc khởi nghĩa… Giới trí
thức Nho học cũng có những mối bất mãn sâu xa, những nỗi thất vọng chua chát với nhà Nguyễn.
Họ không tha thiết với việc làm quan: Ví như Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (Nam Định) đương chức
sử quan, nhân bàn luận về sử không hợp ý mà cáo quan về; Tiến sĩ Ngô Thế Vinh (Nam Định) vì
can việc trườ
ng thi bị cách hết quan chức, trở về lành dạy học, viết sách; Nghè Tân Nguyễn Quý
Tân (Hải Dương) làm Tri phủ nhưng rồi chán việc quan, bỏ đi chơi, phải bãi chức; Nguyễn Văn
Giai (Hà Nội) học rất giỏi mà không thiết gì thi cử đỗ đạt, sống rất phóng túng theo khuynh hướng
lãng mạn, châm biếm, làm cho giới tay mắt ở Hà Nội hồi ấy phải điên đầu về những trò chơi ngông
củ
a ông… Hoặc họ có thái độ bất đồng với đồng liêu, khinh khi những con người bất tài, luồn cúi,
nịnh bợ như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Lạc; hoặc miệt thị cả vua như Phan Văn Trị… Một số
Nho sĩ khác mạnh mẽ hơn, muốn thay đổi nước cờ, tạo dựng cuộc đời đã đứng lên khởi nghĩa như
anh em Đoàn Trưng, Đoàn Hữ
u Ái, Trương Trọng Hòa, Phạm Lương, Tôn Thất Cúc, Cao Bá
Quát…
Những phong trào khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn đã làm cho tình thế đất nước ngày một
suy yếu. Triều Thiệu Trị, Tự Đức khủng hoảng, suy sụp, nhanh chóng lụi tàn. Phương Tây đang lâm
le dòm ngó. Các Nho sĩ tan vỡ giấc mộng công danh. Họ gửi gắm nỗi niềm thất vọng vào văn thơ.
Những lời than vãn về chí nam nhi, về “hùng tâm, sinh kế” thường thấy trong văn học lúc này.
Không chỉ vậy, các Nho sĩ ti
ến bộ còn hướng đến tầng lớp bình dân, viết về thân phận con người,
nhất là người phụ nữ và thân phận của họ. Văn học nửa cuối XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX vì vậy mà
đơm hoa kết trái ngọt ngào từ mảnh đất cằn khô sự sống, nói như Mai Quốc Liên, đó là “nền văn
học có tính chất phục hưng với một chủ nghĩa nhân đạo trác tuy
ệt”; và “lần đầu tiên trong văn học,

ủ nhị kỷ nhi sơn
hà thành quách chi cựu, tam duyện kỳ biến cải…” (Với cái tuổi của ta, mới hai kỷ mà núi sông
thành quách cũ đã thay đổi đến ba lần), phía cuối bài có ghi: “Nhâm thìn mạnh thu Chu Thần thị
thuyết” (Năm Nhâm thìn, tháng mạnh thu, Chu Thần viết bài thuyết), tính ra Cao Bá Quát sinh năm
1809. Căn cứ vào một số giai thoại về tuổi trẻ, việc đi thi và về cái chết của Cao Bá Quát để tính
năm sinh của ông, cũng thấy ông sinh vào quãng này.
Xuất thân trong một dòng dõi khoa bảng nhưng cha chỉ là một ông đồ hay chữ. Ngay từ nhỏ,
Cao Bá Quát đã được bố
cho theo nghiệp nghiên bút, với mong muốn sẽ đỗ đạt, sống có ích cho đời.
Cao thông minh, học giỏi, lại sớm có ý thức về tài văn chương của mình. Câu chuyện về ba bồ chữ
mà người ta thường truyền tụng, tuy có cái kiêu căng tự phụ đáng chê trách nhưng cốt lõi là nói lên
một phần sự thật tài năng và cá tính của ông. Thêm nữa, lời khen của ông vua Tự Đức hay chữ
“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đ
áo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”; sự suy tôn của người đời
“Thánh Quát”; sự giao du thân thiện của hai ông hoàng Tuy, Tùng trong nhóm thi xã Mặc Vân và
sự ngưỡng mộ, ngâm phục của bạn bè trong giới kẻ sĩ càng khẳng định thêm cái tài hơn người của
họ Cao. Không những có tài, Cao Bá Quát còn là một con người có hoài bão, khát vọng lớn. Nối chí
của thân phụ, ông ôm ấp canh cánh một nỗi niềm thờ vua giúp nước. Cái tâm lớn ấy cùng với bản
lĩnh của mộ
t nhà nho tràn đầy khí phách luôn háo hức trên con đường đi tìm vẻ đẹp đời mình.
Cao Bá Quát còn là một người năng động, phóng khoáng, thích tự do. Bởi vậy, ông ưa làm
theo ý mình, ít khi chịu theo khuôn phép. Nết ấy, ngay từ nhỏ, ông thân sinh của Cao Bá Quát đã
nhận thấy trong lời văn của con: “…Văn của Bá Quát hơn về tài tứ nhưng kém về khuôn phép”. Sau
này, nó biểu lộ trong mọi hành động của ông: đi thi làm bài thì cứ lấy ý riêng của mình mà suy luận,
đi chấm thi thì muốn v
ượt qua những nguyên tắc của trường thi. Cao Bá Quát gặp nhiều trắc trở
trong việc thi cử và trên con đường hoạn lộ cũng bởi do tính cách này.
Chuộng tự do, cởi mở nên Cao Bá Quát hay quan sát, tìm tòi, khám phá cuộc sống xung
quanh mình. Ông đi nhiều nơi, trải qua những cảnh sóng gió trên quê hương mình, nước ngoài.
Những dịp này đã giúp Cao Bá Quát có cái nhìn sâu sắc hơn về đời sống của nhân dân mình, về

n chương Cao Bá Quát luôn nhất quán trong ý nghĩ và hành
động, trước sau như một: Tất cả vì cơm no áo ấm, vì hạnh phúc của nhân dân.
Có thể nói, suốt cuộc đời Cao Bá Quát là một cuộc hành trình không nghỉ, không ngừng, lúc
náo nức phấn khởi tràn đầy hi vọng, khi chán nản ê chề, nhưng kết quả cuối cùng là tìm được đường
đi đúng đắn cho mình để thực hiện khát vọng suốt một đời người. Dẫu kết quả là thất b
ại nhưng đó
chính là tất yếu của một Cao Bá Quát, của một thời đại nửa đầu thế kỉ XIX. Một con người từng
biết: “Thẹn mình là một nhà nho mà lại tầm thường đến thế” (Độc dạ) đã không đi theo lối mòn của
đại đa số sĩ phu để ẩn dật mà đã vùng lên khởi nghĩa. Cao Bá Quát hi sinh. Cả cuộc đời ông đã hiến
dâng cho lẽ số
ng của thời đại đang tới.
1. 3. Sự nghiệp sáng tác của Cao Bá Quát:
1.3.1. Quan niệm sáng tác thơ văn của Cao Bá Quát:
Cao Bá Quát là một cây bút lớn của văn học trung đại, một tài danh của đất Bắc “giỏi thơ văn
hay chữ”. Bản lĩnh văn chương của ông không chỉ dừng lại ở số lượng tác phẩm mà còn thể hiện ở
chất lượng tư tưởng bên trong. Cởi mở, phóng khoáng, nhạ
y bén cùng với một tinh thần chủ động
canh tân của thời đại đã hình thành nên một phong cách độc đáo, có thể nói là “phun châu nhả
ngọc” để lại những tác phẩm bất hủ cho đời, như Trúc Khê từng nói: “Cao Chu Thần là người có
một thiên tài. Điều đó, không ai còn chối cãi nữa rồi. Cái thiên tài ấy đã biểu lộ ra ở phương diện
văn chương, để lại cho văn học giới chúng ta ngày nay mộ
t tập thi ca vừa Hán văn, vừa Việt văn;
nhất là Hán văn, ta phải nhìn nhận là một áng văn kiệt xuất”.
Từng xem văn chương là “vật báu lớn” (lời của Cao Bá Quát) vô giá nên trong suốt cuộc
hành trình của đời mình, Cao Bá Quát luôn tìm thấy ở nó những ý nghĩa sự sống thật sự cần cho
mình và cho đời.
Quan niệm về thơ, Cao Bá Quát viết: “Bàn về thơ, tuy có phải trọng về quy cách, nhưng làm
thơ thì phải gốc ở tính tình”. Điều đó có nghĩa là: thơ phải gắn với “tính linh”, thơ là kết quả c
ủa
“tâm chí” được đúc thành, tức là thơ phải nói lên cái gì sâu xa nhất của tâm hồn, của chí hướng

mạc như Tô Đông Pha và Hoàng Đình Kiên vậy: “Khí phách như Tô, Hoàng bác đừng cười/ Phong
cách bình dị, mộc mạc tưởng cũng không hại gì!” (Phục dụng tiểu vận họa Di Xuân).
Cao Bá Quát phê phán lối văn chương khoa cử, ủy mị, yếu ớt, mô phỏng đề cao tính “sáng
tạo” trong thơ. Trong lời đề bạt cuối tập thơ Rừng chuối, ông viết: “Cái bản chất của cây chuối luôn
luôn làm cho bẹ mới, nõn mới. Có cái mới mà làm cho nó mới lên, đó là nghĩa vậy”. Chu Thần cho
rằng cái học của khoa cử đã xâm nhập vào lĩnh vực văn thơ nên “Tiếng vang của phong nhã hầu
như đã tắt hẳn”. Dẫn một câu của Tô Thức “không học là hơn” cũng như một câu của Khổng Tây
Minh: “Người say thơ của các nhà không biết sáng tạo thì chẳng khác gì ăn món ăn của cổ nhân mà
không tiêu hóa được”. Ông muốn nói rằng đọc thơ văn người trước là cần, nhưng người làm thơ tự
mình phải sáng tạo, phải tìm ra cái mới. Chính do vậy đối với di sản v
ăn học dân tộc, ông luôn tỏ
thái độ kính trọng, biết ơn: “Ôi! Người xưa đã đem tâm chí đúc chuốt thành lời hay ý đẹp, cốt để
chấp lòng nối cánh cho văn chương của ta, mà lại coi thường được sao?” Từ đó, ông phê phán ba
loại người thơ: một là “người kém thì khổ về nỗi nhân tuần, dễ dãi”; hai là “người có hào khí thì
mắc vào bệnh nuốt sống, ăn tươi”; còn nhữ
ng người có sức học gọi là dồi dào, hí hửng tự đắc, thì
chỉ muốn vơ vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, thành ra mô phỏng quá nhiều mà phong cốt chưa cao,
tô điểm có khéo, nhưng tinh thần còn thấp. Ba loại người này làm hỏng thơ.
Cao Bá Quát không chỉ yêu cầu tính sáng tạo của cá nhân mà còn yêu cầu nhà thơ phải là
người sống nhiều, từng trải, phải đọc nhiều, nghĩa là phải bắt nguồn từ thực t
ế với những cảm xúc
thành thật nhất. Được vậy, nhà thơ mới có cái nhìn mở rộng, không rơi vào tình cảnh: “lải nhải nhai
lại từng câu từng chữ” như “con sâu đo muốn đo cả đất trời” (Đề sát viện Bùi công Yên Đài anh
ngữ khúc hậu), như “nhìn con báo chỉ thấy một vằn” (Nhị thập nhị nhật đắc phong, hí trình chư
hữu). Thến nên, trong thơ, ông hay nói về
sự trải đời của bản thân: “Đời ta sống không bở trải đời
mà than thở” (Du Đằng giang dữ hữu nhân đăng Kim chung tự, túy hậu lưu đề, tính tự), “Tuổi tuy
còn ít, song rõ ràng là đường đời đã biết qua bờ bến” (Hí tặng Phan Sinh).
Bàn về cái hay của văn chương, Cao Bá Quát cho rằng cái hay của văn chương là do chủ thể
quyết định. Do vậy, ông không bằng lòng với cách nghĩ bao lâu nay: “Người cùng th

Kinh Dịch: “Đồng tâm chi ngôn kỳ khứu như lan” (Lời nói đồng tâm thơ
m tựa hoa lan). Mở đầu bài
thơ Cao Bá Quát viết: “Ngã đắc đồng nhân đạo/ Bằng lai dự hạp trâm” (Ta được đạo của kẻ đồng
nhân/ Bạn đến vui vầy há chẳng khuyên bảo).
Theo Cao Bá Quát, thơ có một chức năng xã hội riêng, có một sứ mệnh riêng. Thực hiện
chức năng và sứ mệnh đó là nhà thơ. Nhà thơ phải có trách nhiệm trước sự phát triển của lịch sử.
Đi
ều đó ngụ ý rằng: Văn chương có ý nghĩa lớn đối với đời. Trước đó, Lê Quý Đôn từng nói: “Văn
chương là việc lớn để sửa đời”. Thánh Quát cũng có cách nghĩ như vậy. Ông viết: “Thi tửu phá
nhàn sầu” (Thơ và rượu đánh tan nỗi buồn vẩn vơ). Tác dụng của văn chương là góp phần nâng con
người dậy, hướng con người về phía trước. Trong bài th
ơ Đông Pha Xích Bích du ông có viết:
“Ngâm lưu khởi sa châu” (Tiếng ngâm thơ còn lại làm bãi cát nhổm dậy). Ngụ ý thơ hay vượt biên
giới, nó làm cho “đá cứng gật gù”
1
, như “nói pháp củ cải cũng nghe”
2
. Tác dụng của thơ nói chung
không chỉ đối với ngoại cảnh mà con đối với con người là vậy. Tác dụng kì lạ ấy được Cao Bá Quát
diễn tả qua chính sự trải nghiệm của bản thân khi ông đọc Khúc Yên Đài anh ngữ của ông Đô sát
Bùi Ngọc Quỹ: “Rồi bỗng đang ốm, ngồi nhỏm dậy, đứng phắt lên/ Nhắm hai mắt lại, bịt hai tai lại/
Tinh thần lắng xuống, ý nghĩ
sạch lâng, lặng lẽ cho tâm hồn giong ruổi/ Tưởng như chính mình
bước chân đến tận nơi ấy” (Đề sát viện Bùi Công Yên Đài anh ngữ khúc hậu)… Cao Bá Quát đề
cập đến chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ của thơ ca, nhấn mạnh và đề cao tính tích cực

1
Truyện cổ Phật giáo Ngoan thạch điểm đầu
2
Câu nói dân gian

con số lên đến 33 đầu sách. Sau khi khảo sát và thẩm định lại thì số lượng tác phẩm của Cao Bá
Quát được xác định cụ thể như sau: Về chữ Nôm có 1 bài phú, 10 bài hát nói; về chữ Hán có 2 bài
phú, 14 câu đối, 11 truy
ện ký, 18 bài kinh nghĩa, 4 bài ký, 5 bài tự, 1 bài văn tế, 1 bài thuyết, 2 bài
văn, 1267 bài thơ.
Nhìn chung, tình hình dịch thuật tác phẩm Cao Bá Quát đến nay có thể nói là khá đầy đủ.
Chúng tôi xin mượn lời của Giám đốc tâm Nghiên cứu Quốc học – Giáo sư. Tiến sĩ. Mai Quốc Liên
chốt lại phần này:“Qua toàn bộ văn bản đã sưu tầm, dịch thuật ấy, chúng ta ngày nay có thể ôm
trọn trong tay mình cái di sản vĩ đại của một nhà thơ kỳ tuy
ệt. Nó làm hiện lên, tuy dường như đã
quen mà bất ngờ, cái tầm vóc sừng sững, ít người sánh kịp, dường như cô đơn giữa rừng tác giả thơ
hàng ngàn năm của chúng ta”.
3.1.3. Nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát:
Cao Bá Quát sáng tác bằng chữ Nôm lẫn chữ Hán, với số lượng lớn, thể loại phong phú.
Nhưng đáng lưu ý là ở thể loại thơ, nhất là thơ chữ Hán với số lượng 1267 bài.
Trước đây, qua mả
ng sáng tác chữ Nôm, nhiều người có cái nhìn lệch lạc về con người Cao
Bá Quát. Những vần thơ Nôm của ông thường hài hước, chua chát, đắng cay. Mảng sáng tác chữ
Hán, nhất là thơ chữ Hán mạnh mẽ và hùng tráng, phản ánh bản chất con người Cao Bá Quát với
khí phách và lương tâm cao cả, nói như Giáo sư. Tiến sĩ. Mai Quốc Liên: “Trong hàng ngàn bài còn
lại ấy, hiện lên chân dung, tính cách một nhà thơ vĩ đại”. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua những
nét đặc sắc v
ề nội dung và nghệ thuật trong sáng tác thơ chữ Hán của Cao Bá Quát.
Về nội dung: Thơ Cao Bá Quát phong phú nội dung cảm hứng. Trước hết, văn thơ của ông là
tiếng nói của một cá nhân trước cuộc đời, trước thời đại. Một cá nhân ý thức về mình, có trách
nhiệm với đời, lòng tràn ngập tư tưởng nhập thế tích cực với khát vọng cống hiến tài năng cho đất
nước. Một cá nhân muốn v
ươn mình lên trong cuộc sống, lạc quan, kiên trì, giàu nghị lực trong mọi
hoàn cảnh. Cá nhân đó còn là một con người có tinh thần tự do, khí phách. Thơ văn ông còn bộc lộ
tâm hồn phóng khoáng và một trí tuệ sáng suốt tiếp nhận những hương vị, những màu sắc xa lạ với

vẻ đẹp lương tâm và khí phách sáng ngời. Chương 2:
HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quan trọng của thi pháp học. Nó hướng
ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn học, trung tâm quan niệm thẩm mỹ của nghệ sỹ. Hình tượng
nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm bao giờ cũng mang tính quan niệm của tác giả. Quan niệm nghệ
thuật g
ắn liền với thế giới quan, với quan niệm chính trị, triết học nhưng nó có sự chuyển hóa từ
quan niệm triết học, chính trị sang quan niệm nghệ thuật. Và quan niệm nghệ thuật này được thể
hiện ở sự lặp đi lặp lại nhiều lần, một cách tiếp cận, cách lí giải đối với con người.
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ ch
ữ Hán Cao Bá Quát chính là tìm
hiểu quan niệm của tác giả thông qua hình tượng con người, nhân vật có mặt trong tác phẩm. Vì là
hình tượng con người, nhân vật trong thơ trữ tình nên chúng ta có thể xem xét ở nhiều góc độ: cái
tôi đối với bản thân, cái tôi đối với người khác, cái tôi đối với tự nhiên bên ngoài. Hình tượng nghệ
thuật về con người trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát phong phú và khá phức tạp khó mà tìm hiểu cặn
kẽ. Chất chứa qua lời thơ là những khát vọng, hoài bão lớn lao; nhữ
ng suy tư, trăn trở, dằn vặt;
những tình cảm, những trách nhiệm… của một cá nhân lỗi lạc “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Có thể nói đó là hình tượng con người có tầm cao rộng, thoáng đạt muốn chiếm lĩnh và thống trị thế
giới trước những thực tại với những bất công, đói nghèo, lạc hậu, những ước nguyện không thành

Ngâm bãi thất ca cánh hồi thủ
Mang mang thân thế độc du hành (Du Đằng Giang dữ hữu nhân đàng
Kim Chung tự, túy hậu lưu đề, tính tự)
(Trượng phu ba mươ
i tuổi chẳng nên danh gì!
Dạo khắp ven trời, khí bất bình chưa dịu!..
Ngâm xong bảy bài ca, ngoảnh đầu nhìn lại.
Thấn thế mịt mờ, chỉ đáng trừng mắt trong đời)
Cao Bá Quát tin tưởng ở chính mình. Ông “há chịu mặc cái áo tơ bám bụi” (Trần Ngộ Hiên
nhục hữu sở thị tẩu bút họa chi), tin vào một ngày kia đỗ đạt công danh (Phục tặng). Sau này khi
bước chân vào đời, tinh thần Cao Bá Quát vẫn vậ
y. Có đến 4 lần ông đọ sức cùng gian nan. Ông
xem khó khăn là chuyện thường tình nên thản nhiên với cảnh ngộ (Mộ phạn bất cấp hí bút ký sự).
Ông thân ốm vẫn cứ ngược xuôi (Đáp Trần Ngộ Hiên), lại muốn đọ sức với đường dài để xem ai
khỏe hơn (Thuyền hồi quá bắc dữ, dư bão bệnh sổ nhật hỹ, dạ bán đăng tường tứ vọng, thê nhiên
độc hữu h
ương quan chi cảm, nhân giản Trần Ngộ Hiên), rồi cười xòa trước gian nan, hát vang khúc
“Hành lộ nan” (Ẩm tửu đắc chư hữu gia tác tức phục tẩu bút thư nhị). Lúc ở tù, Cao Bá Quát cũng
tỏ rõ trách nhiệm với chính mình. Ông không buông xuôi mà cố vượt lên, tin rằng “Tạo vật nặn ra
mình hẳn là có ý” (Tội định – kỳ nhất), nên thay vì đau buồn đã lăn mình cùng cảnh tù đày “Đem
chí bên trong kìm giữ khí bên ngoà/ Không để cho những sự lo ngh
ĩ nhỏ nhen nó kích thích” (Chinh
nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục tỏa cấm), lại tổ chức mừng “sinh nhật” một năm
tù (Cửu nhật chiêu khách tính tự). Cao Bá Quát thật cứng cỏi, nguy hiểm không sợ, khó khăn không
chùng bước, trong hiểm nguy vẫn vươn tới. Quả đúng là “tinh thần thép”

như Thương Sơn từng
nhận xét: “Vốn có tính của cây Tùng Bách/ Không trái với tư thế hiên ngang trong buổi trời đông
giá lạnh”
3

làm người của mình trên con đường hoạn lộ. Ông ngẩng cao đầu, ngất ngưởng, bước một cách hiên
ngang, ngay thẳng trên con đường công danh.
Đạp hướng danh đồ bất điệu đầu (Trường giang thiên – kỳ tam)
(Bước lên con đường “danh” đầu vẫn ngay thẳng)
Mang trong lòng tâm chí to lớn, trong sáng, Cao Bá Quát hiên ngang ngay th
ẳng bước trên
con đường công danh với tinh thần đầy “hạo khí”
5
(tinh thần chính đại cương trực). Trong khi phần
đông những kẻ sĩ vì lợi lộc, vì háo danh mà trở nên dung tục, tầm thường. Họ thật sự đã say mềm vì
thứ rượu ngon này (Sa hành đoản ca). “Đường làm quan (như giấc mơ) ít ai tỉnh sớm”
6
, mấy ai đọc
câu thơ có mấy chữ “toại sơ y”
7
. Cao Bá Quát trong số ít những người tỉnh táo giữ được “nhất sinh
tâm”
8
trước danh lợi, không để “hình hài sai khiến lòng dạ của mình”
9
. Thậm chí, khinh thường cái

4
Truyện ngắn Một bữa no của Nam Cao
5
Bài Thứ vận Phương Đình, Hoán Phủ, Thận Tư phân vận ngũ thủ - kỳ tam)
6
Hoạn đồ tối thị tiên tinh thiểu (Bài Ký Nguyễn cố hữu hồi tịch)
7
Câu thơ của Lý Bạch trong bài Tống Hạ Giám qui Tứ Minh ứng chế

thèm lấy cái
vinh của người đời bạc bẽo trên con đường tiến thân (Đề Trần Thận Tư học quán, thứ Phương Đình
Vận - thập thất thủ). Cao Bá Quát đã 8 lần gọi bọn quan lại xu phụ, luồn cúi, mưu lợi cầu danh với
những cái tên miệt thị, khinh khi, nào là “mặt trời u ám”
17
, “đám mây đen”
18
, “bọn gà vịt”
19
chỉ biết
mưu thóc gạo quanh quẩn kiếm ăn, là “đàn quạ xúm đậu nơi vườn tốt tươi”
20
, là “chim sáo đem thân
nhốt trong lồng son, cứ thui thủi trong đám phong trần”
21
, cay độc hơn nữa chúng là những “con
rận ăn bám chuyên hút máu người dân vô tội”
22
. Cao Bá Quát khinh ghét và cự tuyệt không thể
dung hòa cùng bọn chúng. Từ ý nghĩ đến lời nói, từ cử chỉ đến hành động, Cao Bá Quát luôn tỏ ra
đường hoàng thư thái. Hành động “cúi đầu”, “chui đầu”, “cúi ngửa” theo chúng không thể nào chấp
nhận được. Cao Bá Quát có đến 4 lần tỏ rõ phẩm chất và khí phách của mình.
Đê đầu ải ốc khí bất xương (Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường
Tín kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế)
(Cúi đầu, luồn mái nhà thấ
p, nhục cả khí phách)
Đê đầu cửu yếm đạo lương mưu (Di Xuân dĩ tu trúc sinh hoa thi kiến
thị, tức tịch tẩu bút cơ dĩ đáp chi)
(Cúi đầu, đã chán ghét từ lâu cái thói mưu thóc gạo)
An năng đê đầu ải ốc, phủ ngưỡng tùy tha nhân? (Đông vũ ngâm)

(Kẻ trượng phu ở đời cốt giữ lấy ý khí,
Ra vào lòn cúi là điều bọn ta lấy làm xấu hổ)
Cao Bá Quát không thể cúi ngửa, lòn cúi theo người. Ông chính là kẻ trượng phu cốt giữ “ý
khí” làm trọng. Cách sống đó khác gì cách sống của Nguy
ễn Công Trứ tự do, “ngất ngưởng” trước
đó. Sau này, Cao Bá Quát nhiều lần bị thi rớt, bị quan trên đè nén là vậy. Ông chẳng khác nào như
“Ngọc bích trắng xưa nay thường bị sứt mẻ/ Gái mài ngài dễ bị chê bai”
23
. Con người ấy mâu
thuẫn với đại bộ phận giai cấp phong kiến, những kẻ bóc lột bề trên nhưng lại thân thiện với đồng
bào cùng khổ và những thân phận bị áp bức.
Rõ thật, cách sống của Cao Bá Quát là cách sống của bậc đại nho, cốt cách của Cao Bá Quát
là cốt cách của bậc quân tử. Ông luôn sống có trách nhiệm với chính mình. Theo thời gian, tinh thần
trách nhiệm ấy cùng với tấm lòng nhân hậu đã sả
n sinh những tình cảm, trách nhiệm lớn với xã hội,
đất nước.
Cao Bá Quát vào đời đúng với tinh thần của một nhà Nho truyền thống, mẫu mực. Niềm
mong mỏi có công danh không chỉ để vinh hiển bản thân, gia đình mà cốt yếu thực hiện hoài bão
giúp vua trị vì, giúp dân lạc nghiệp. Một vị trí cần có trong xã hội phong kiến khoa bảng là bức
thiết. Điều đó lí giải vì sao Cao Bá Quát vất vả lắm mới thi
đỗ Cử nhân lại tiếp tục dự thi Tiến sĩ
nhiều lần thất bại vẫn không nản chí.
Từng quan niệm kẻ làm trai cái chí lớn phải ở muôn dặm (Thanh Trì phiếm chu Nam hạ), lẫn
trách nhiệm với đời phải làm được việc phơi gan bẻ gãy chấn song, giữ vững cương thường, truyền
hịch định bốn phương (Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lị Thường Tín kiêm trí Lê Hy Vĩ
nh lão khế) nên
Cao Bá Quát vào đời với tinh thần trách nhiệm cao. Ông khao khát góp sức mình cho xã hội. Ông
dốc lòng mưu sự vì đạo (Tống Sơn Tây học chính Nguyễn Đài chi lỵ), gây dựng lễ trong nhân dân
(Tu lễ dĩ canh) với mong muốn mọi người sống tốt, sống có ích cho xã hội. Cao Bá Quát còn muốn
trồng một rừng mai để tạo một quang cảnh đẹp mắt cho mọi người ngắm xem (Tài mai), muốn cứu

Quát đã rút ra cho bản thân mình nhiều bài học s
ống bổ ích. Không chỉ vậy, ông còn khuyên con
người ta: “Sống với nhau không nên giữ cái tình theo thói tục”
26
mà phải thật lòng đối xử với nhau
bằng cái tình, lại khuyên người đời cũng như chính mình hằng ngày khi dỗ giấc phải thật lòng tự xét
mình “chân tỉnh sự”
27
(thật lòng xét việc) để sống tốt, sống có ích hơn, không nên sống như người
anh trong bài hành “Thượng lưu điền”
28
.
Cao Bá Quát lo cho đời có cuộc sống yên vui, thanh bình như mong mỏi nước sông Hà trong.
Trách nhiệm ấy cứ vương vấn mãi như một nỗi ám ảnh day dứt kẻ sĩ.
Tấc lòng lo đời trọc loạn,
Con mắt già chỉ mong sông Hà nước trong (Đêm trăng ở nông thôn)
Phía tây bắc tiếng xe như sấm kêu suốt đêm
Mùa xuân này không thấy nước Nhị hà trong (Cảm tác khi nghe tiếng
đập lúa)
Cao Bá Quát muốn gánh vác trách nhiệm ở đời, muốn lo tr
ước thiên hạ, vui sau thiên hạ (Lại
gửi cho Phương Đình). Tấm lòng “tiên ưu hậu lạc” ấy day dứt mãi bên ngọn đèn lẻ loi trong suốt
mười năm (Độc dạ thư hoài). Bởi vậy, Cao Bá Quát luôn “Ước ao không phụ tấm lòng xưa”
29
.
Nhưng dù “thành tâm” cống hiến cho đời, ông vẫn không có cơ may thực hiện chí nguyện của mình.
Con người trong thơ trăn trở về trách nhiệm của kẻ sĩ - nhà nho không gặp thời “Không có một sách
lược gì làm cho đời thái bình/ Thẹn cho mình là nhà nho mà tầm thường thế”
30
. Bởi vậy, Cao Bá

tâm (Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế; Vãn Lưu Nguyệt Trì
bắc hành, khuyết vi diện biệt phụng ký). Ông giống như Khuất Nguyên với ý ngh
ĩ “Cuộc đời đục
cả, một mình ta trong, người đời say cả, một mình ta tỉnh”. Cái điên của Cao Bá Quát là cái điên
cùa con người sống có trách nhiệm như Khuất Nguyên, Tiếp Dữ, Tôn Tẫn. Thế nên, ông cứ phải
xoay xở lo toan hết suy tính lại hành động (Độc dạ).
Càng có ý thức trách nhiệm, Cao Bá Quát càng đau đớn hơn khi tận mắt chứng kiến những
nỗi khổ của nhân dân mình: một người ăn xin tính m
ạng đang bị đe dọa (Cái tử); một người đói áo
rách, nón rách, dáng vẻ liêu xiêu (Đạo phùng ngã phu); một người vác hòm bất hạnh, luôn gặp tai
vạ, đang đứng ở bờ vực bần cùng (Phụ tương tử); người tát nước trên đồng bụng đói, môi run, thân
mang chiếc áo tơi ngắn, trong sương mù đang kéo đôi gàu thoăn thoắt (Hiểu lũng quân phụ); cô gái
cầm áo mua tấm cám đi về trong cả
nh trời rét (Mộ kiều quy nữ), cảnh người bồng bế nhau để được
phát chẩn (Quan chẩn); cảnh người người lưu vong, trẻ già trốn lính, đói khổ kiệt sức (Phúc Lâm
lão); rồi những nạn rét, nạn lụt cứ phát sinh liên tiếp (Độc dạ). Cao Bá Quát lắm lúc tự hỏi: Không
biết bọn vua quan có biết tình cảnh này không? Hay họ giống như thằng bé chăn con bọ ngựa, lấy
dây tơ buộc chằng chịt lên mình con bọ ngựa làm nó chết trên cành cây. Trách nhiệm của vua quan
đáng lẽ phải thông cảm với nhân dân, phải hiểu được nỗi vui buồn của từng người, phải “thuận dân
tâm” (Chính tại thuận dân tâm). Nhưng thực tế trái ngược, Chu Thần than thở: “Than ôi! Những
người có trách nhiệm chăn dân của chúng ta! Phải cẩn thận, xét đến vẻ lông mày của mọi người”
(Đồng Tử mục đường lang). Đông Phương Sóc từng nói: “Thương sinh buồn vui, nhìn vẻ lông mày
có thể xét biết được”. Kẻ chăn dân phải làm cho dân no đủ, không để cho nét buồn hiện trên lông
mày.

31
Bài Đoan ngọ

Trích đoạn Tiêu đề bài thơ: Câu trần thuật: Câu nghi vấn: Câu cầu khiến: Câu cảm thán:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status