Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
PHIM RỪNG NAUY
(Chuyển thể từ tiểu thuyết Rừng Nauy của nhà văn Haruki Murakami)
Đạo diễn: Trần Anh Hùng
Sản xuất: Kameyama Chihiro , Shinji Ogawa
Kịch bản: Tiểu thuyết : Murakami Haruki
Chuyển thể: Trần Anh Hùng
Diễn viên: Kikuchi Rinko
Matsuyama Kenichi
Mizuhara Kiko
Âm nhạc: Jonny Greenwood
Quay phim : Lý Bình Tân
Thời lượng: 120 phút
Quốc gia: Nhật Bản
Ngôn ngữ: tiếng Nhật
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
1
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
Công chiếu: 2010
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Không thể phủ nhận những thành quả mà điện ảnh mang lại trong hành trình
khám phá và phản ánh đời sống của con người, mang những câu chuyện kỳ thú
trên thế giới phiêu du ngay trước mắt người xem. Có thể nói, điện ảnh là một
loại hình nghệ thuật trẻ tuổi nhất và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các loại hình
nghệ thuật gần gũi hình thành nên một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Trong
tương quan đó, điện ảnh chịu ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ của văn học ngay từ
khi mới ra đời. Giữa hai loại hình này có mối quan hệ hết sức bền vững. Điện
ảnh lấy cảm hứng, chất liệu từ mạch nguồn phong phú của kho tàng văn học,
tiếp thu kinh nghiệm nghệ thuật và các thủ pháp biểu hiện của văn học và ngược
lại “điện ảnh cũng làm thay đổi tiểu thuyết”. Như vậy trong quá trình kế thừa
chuyện xúc động đến ngạt thở… Không nghi ngờ gì Murakami là một trong
những tiểu thuyết gia tinh tế nhất thế giới”. Đây là một câu chuyện “khắc hoạ
những khát vọng bất thành của tuổi thanh xuân, những tư tưởng quá khích, sự
lựa chọn cái chết và quá trình trưởng thành - một thứ kinh nghiệm mà ai cũng
phải trải qua trong đời. Nó vừa mạnh mẽ, vừa tinh tế, giàu tình gợi dục và cả
chất thơ”. Chính vì thế, khi đạo diễn Trần Anh Hùng chuyển thể câu chuyện lên
phim Rừng Nauy đã gây một làn sóng dư luận lớn như đã từng có khi tiểu thuyết
ra đời. Mọi người tò mò về sự hiện hình bằng hình ảnh của câu chuyện được thể
hiện như thế nào và đã chuyển tải được tinh thần của câu chuyện hay chưa?
Để bộ phim Rừng Nauy được đưa lên màn ảnh là những nỗ lực không mệt
mỏi của đạo diễn Trần Anh Hùng trong suốt bốn năm ròng thuyết phục nhà văn
Haruki Murakami cùng sự đóng góp của cả ekip làm phim. Câu chuyện trong
tiểu thuyết Rừng Nauy của Haruki Murakami được chuyển thể lên màn ảnh với
một ngôn ngữ hoàn toàn mới, ngôn ngữ của hình ảnh. Nghiên cứu nghệ thuật kể
chuyện trong phim Rừng Nauy của Trần Anh Hùng và tiểu thuyết cùng tên của
Haruki Murakami là một hướng đi mang lại cho chúng ta những hiểu biết thú
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
3
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
vị. Lựa chọn đề tài này, người viết muốn đóng góp một phần nho nhỏ trong việc
lý giải ngôn ngữ của điện ảnh so với ngôn ngữ của văn học và cách Trần Anh
Hùng dùng để chuyển thể tiểu thuyết Rừng Nauy của Haruki Murakami lên màn
ảnh.
2. Lịch sử vấn đề
Ra đời muộn nhưng điện ảnh đã có những tiếp thu khá thú vị của các ngành
nghệ thuật khác hình thành cho mình những đặc trưng riêng. Xét về nghệ thuật
kể chuyện hay còn gọi là nghệ thuật tự sự, nghệ thuật trần thuật là khái niệm
được sử dụng khá rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu của văn học và điện ảnh.
Đây được coi là ngành nghiên cứu then chốt và rất được chú trọng trong việc
phân tích và phê bình phim trong tương quan với các văn học.
giúp ta có cách nhận diện câu chuyện được kể như thế nào trên phim.
Nhà nghiên cứu Timothy Corrigan trong cuốn sách Hướng dẫn viết về phim
(A Short Guide to Writing about Film - người dịch Đặng Nam Thắng, Phạm
Xuân Thạch hiệu đính) đã giành gần như toàn bộ chương ba Những thuật ngữ
và chủ đề phân tích phim và viết phê bình phim, đề cập đến các khái niệm tự sự,
nhân vật và điểm nhìn như một sự quan tâm đáng chú ý trong công việc nghiên
cứu điện ảnh. Trong chương này nhà nghiên cứu đã đi sâu vào khai thác những
đặc điểm rất xác thực về dàn cảnh, dựng phim, âm thanh, ánh sáng,… trong
cách kể chuyện của điện ảnh mang lại cho chúng ta cái nhìn cụ thể về điện ảnh.
Ở Việt Nam, chúng tôi được tiếp xúc với công trình Những vấn đề lý
luận kịch bản phim, tác gải Đoàn Minh Tuấn, giảng viên khoa Điện ảnh trường
Đại học sân khấu điện ảnh cũng trình bày một vấn đề về Cấu trúc tự sự và
những vấn đề liên quan.
Từ đây có thể thấy, vấn đề nghiên cứu tự sự học hay chính nghệ thuật kể
chuyện trong văn học và điện ảnh được quan tâm đặc biệt. Các công trình dù
lớn hay nhỏ đều góp phần làm cụ thể hơn những lý thuyết về nghệ thuật kể
chuyện.
Đặc biệt, nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện trong mối tương quan giữa văn
học và điện ảnh cũng được quan tâm trong các công trình nghiên cứu từ sách
xuất bản đến các bài đăng tạp chí hay khoá luận. Các công trình Bàn về cải biên
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
5
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
tiểu thuyết thành phim của Hạ Diễn và Dương Thiên Hỷ, Bàn về viết truyện
phim đạo diễn phim và diễn viên điện ảnh của V.Pu-đốp-kin, Đốp-gien-cô và
điện ảnh của I.Vaisphen, Phê bình phim Sta-pa-ep của N.Alê- bê-đep,… là
những nghiên cứu sâu sắc trong mối quan hệ giữa văn hcọ và điện ảnh. Bên
cạnh đó, còn có các bài đăng trên các tạp chí đưa ra những nghiên cứu đầy hữu
ích về lý thuyết trần thuật học giữa văn học và điện ảnh:
- Bài viết So sánh mĩ học tiểu thuyết và mĩ học điện ảnh của Magnin đăng
trong tương quan với văn học được quan tâm rất mạnh mẽ.
Tuy nhiên, nghiên cứu phim Rừng Nauy của đạo diễn Trần Anh Hùng trong
quan hệ với tiểu thuyết cùng tên của Haruki Murakami thì đến nay chưa có công
trình nào. Bởi bộ phim Rừng Nauy vừa mới ra mắt chưa được bao lâu nên chỉ
có những bài bình luận trên các báo và tạp chí, trên các trang web. Với đề tài
này, người viết muốn đưa ra một đóng góp nhỏ trong việc tìm hiểu tiểu thuyết
và bộ phim chuyển thể theo hướng tiếp cận nghệ thuật kể chuyện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tác phẩm điện ảnh Rừng Nauy của
đạo diễn Trần Anh Hùng và tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Haruki Murakami.
Trong đó, người viết tập trung ở phạm vi nghiên cứu những yếu tố trong nghệ
thuật kể chuyện: cốt truyện, kết cấu, người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật,
không gian thời gian, ngôn ngữ kể chuyện.
3. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính được sử dụng trong khoá luận:
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
- Phương pháp liên ngành.
4. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của khoá luận
Vận dụng lý thuyết trần thuật học trong văn học và trần thuật học trong điện
ảnh cùng việc khảo sát cuốn tiểu thuyết và tác phẩm điện ảnh chuyển thể, người
viết muốn phân tích nghệ thuật kể chuyện của mỗi loại hình từ một câu chuyện.
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
7
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
Từ đó, làm sáng tỏ được cách mà nhà văn và đạo diễn thể hiện câu chuyện như
thế nào bằng chính những đặc trưng của loại hình thông qua các yếu tố: cốt
truyện, kết cấu, người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, không gian, ngôn ngữ kể
chuyện. Thực hiện được như vậy, khoá luận sẽ góp một phần nhỏ trong việc lý
câu chuyện mà họ quan tâm nhiều hơn cả là cách nhà văn kể câu chuyện đó.
Khái niệm Narratology (tiếng Anh) Narratologie (tiếng Pháp) được dịch là
nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật tự sự. Đây là khái niệm
thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình văn học. Nghệ
thuật kể chuyện hay nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật tự sự cũng đều là
phương thức tái hiện đời sống.
Khi bàn đến các phương tiện cơ bản của miêu tả tự sự, G.N.Pospelov trong
cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học xác định: “Đóng vai trò quyết định trong
loại văn học tự sự… là sự trần thuật học, tức là một câu chuyện về các sự kiện
xảy ra được kể từ phía người khác” [7; 66]. Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra các
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
9
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
thành phần cơ bản của nghệ thuật kể chuyện: “Với sự trợ giúp của trần thuật,
miêu tả, bình luận, lời nói nhân vật trong các tác phẩm tự sự, cuộc sống được
nắm bắt một cách tự do và sâu rộng” [7; 68].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tự sự là một phương thức tái hiện đời
sống trong toàn bộ tính khách quan của nó, tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt
truyện, gắn với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc hoạ đầy đủ,
nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình, kịch” [15; 385].
Có thể nói, nghệ thuật kể chuyện có một vai trò hết sức quan trọng trong tác
phẩm văn học bởi thông qua cấu trúc trần thuật đó người đọc không chỉ biết
được điều nhà văn muốn nói mà còn biết cách nhà văn nói ra điều đó. Để làm
được điều đó một tác phẩm văn học cần có sự đóng góp của nhiều thành tố: vai
trò của người kể chuyện, sự chuyển đổi phương thức trần thuật, điểm nhìn trần
thuật, kết cấu, giọng điệu, không gian,thời gian,… Kết cấu trần thuật gắn liền
với sự phát triển của cốt truyện. Nhà văn đã sử dụng những thủ pháp, phương
thức này để mang câu chuyện đến với độc giả, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ
cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả.
Yếu tố đầu tiên làm nên thành công cho tác phẩm văn học chính là cốt
phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh…” [ 15 ; 149 ].
Nhắc đến nghệ thuật xây dựng tác phẩm không thể không nhắc đến những
đóng góp của kết cấu tác phẩm. Đó là cách sắp xếp, tổ chức để tạo nên hình
tượng nhân vật hay cốt truyện, là sự tổ chức hình thức bên ngoài của tác phẩm.
Trong cuốn Lý luận văn học đã có định nghĩa về kết cấu trong tác phẩm văn
học: “Kết cấu là thuật ngữ chỉ sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức
nghệ thuật trong tác phẩm, kết cấu gắn kết với các yếu tố của hình thức và phối
thuộc chúng với tư tưởng. Kết cấu khiến tác phẩm mạch lạc, có “vẻ duyên dáng
của trật tự”. Việc phân bố các sự kiện và hành động trong tác phẩm thuộc kết
cấu của cốt truyện, đó chính là sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với
hành động tính cách. Nghĩa là nhà văn phải đặt tính cách vào những tình huống
nhất định, đó là những sự kiện có ý nghĩa thử thách đối với số phận, đối với
những đặc điểm bản chất của tính cách buộc phải hành động, phải phơi bày diễn
biến tâm lý của nó, phải bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của nó với các tính
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
11
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
cách khác” [10; 283]. Kết cấu của tác phẩm văn học như một cái khung được
xây dựng kiên cố để chống đỡ cho toà lâu đài nghệ thuật sáng tạo văn chương
này cũng như một ngôi nhà không có nền tảng tốt đẹp sẽ không thể được xây
dựng lên một cách vững bền. Mọi sự sắp xếp, tổ chức của các sự kiện, tình tiết,
biến cố của câu chuyện thuộc về kết cấu chính là những nỗ lực sáng tạo của nhà
văn.
Yếu tố không gian, thời gian cũng là một trong những mối quan tâm của
nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình trong việc tìm ra ý nghĩa của câu chuyện.
Không gian trong tác phẩm văn học, chịu sự chi phối một cách chủ quan của
người sáng tác hay người kể chuyện, đó là môi trường để nhân vật xuất hiện và
hoạt động. Nó thuộc về cấu trúc nội tại của tác phẩm, góp phần xây dựng hình
tượng trong tác phẩm văn học. Với tư cách là một “mã nghệ thuật”, không gian
được xem xét như một quan niệm về thế giới và con người, như một phương
chuyện, tạo nên sức hấp dẫn của câu chuyện với người đọc và phong cách sáng
tạo độc đáo của nhà văn.
Nghệ thuật kể chuyện trong điện ảnh.
Không phải loại hình nghệ thuật nào ra đời đã có thể đứng vững và phát triển
nhanh chóng. Với nghệ thuật điện ảnh cũng vậy ! Điện ảnh ra đời sau nhiều loại
hình nghệ thuật khác: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc, nghệ thuật biểu
diễn, văn học, được mệnh danh là nàng thơ thứ 10 đối với phương Tây và đứng
ở vị trí thứ bảy trong lâu đài nghệ thuật ở phương Đông. Nó đã kế thừa, hấp thụ
những tinh hoa, học hỏi kinh nghiệm của các bộ môn nghệ thuật khác làm nên
nét đặc trưng của bản thân mình. Đó là không gian trong kiến trúc, điểm nhìn
(point of view) của hội hoạ, văn học …
Đặc biệt với văn học, điện ảnh đã có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi “Giống
như kịch và tiểu thuyết, điện ảnh cũng phản ánh đời sống” [13; 39]. Tuy nhiên,
cách phản ánh hiện thực đời sống của điện ảnh không hoàn toàn giống với văn
học bởi trong quá trình phát triển điện ảnh cũng dần dần tích luỹ được những
thủ pháp nghệ thuật của mình, sáng tạo ra ngôn ngữ riêng của mình, “được liệt
kê vừa như thể loại trần thuật vừa như thể loại biểu diễn” [10; 6]
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
13
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
Nghệ thuật kể chuyện trong điện ảnh về bản chất gần gũi với nghệ thuật
kể chuyện trong tác phẩm văn học. Vấn đề cốt truyện, kết cấu, nhân vật,
người kể chuyện, điểm nhìn, không gian, thời gian, giọng điệu cũng là những
thành tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật cho bộ phim. Khán giả xem phim
cũng như độc giả đọc tác phẩm đều thưởng thức câu chuyện trên những yếu tố
cấu thành trên. Mỗi loại hình lại có cách kể chuyện khác nhau, với văn học nhà
văn kể chuyện bằng ngôn ngữ viết còn với điện ảnh được đạo diễn kể chuyện
bằng ngôn ngữ hình ảnh. Do vậy, dù có kế thừa những phương thức thể hiện của
văn học, điện ảnh cũng có những đặc trưng của riêng mình nhằm mang đến cho
người xem những thước phim đặc sắc phản ánh chân thực đời sống xã hội.
phán đoán đều tạo nên câu chuyện” [3; 97]. Có thể thấy, câu chuyện không chỉ
có những sự kiện diễn ra trên màn ảnh mà còn bào hàm cả những sự kiện khác,
nằm trong ranh giới truyện kể (diegestic) nhưng người xem không thể nhìn thấy
trên màn ảnh mà chỉ phán đoán nhờ các gợi ý trên phim.
Cốt truyện (plot) là sự sắp xếp hoặc tổ chức những sự kiện đó theo một trật
tự hoặc một cấu trúc nào đó. Hay “thuật ngữ cốt truyện được sử dụng để mô tả
bất cứ sự hiện diện một cách có thể nhìn thấy hoặc nghe thấy trên phim trước
chúng ta”. Cốt truyện bao gồm tất cả các sự kiện của câu chuyện được mô tả
trực tiếp trên phim và cốt truyện của phim có thể bao hàm các tư liệu nằm ngoài
ranh giới truyện kể (non-diegestic) như danh sách đạo diễn, diễn viên, âm nhạc,
… David Bordwell và Kristin Thomson đã đưa ra một sơ đồ giúp chúng ta hình
dung rõ hơn mối quan hệ giữa cốt truyện và câu chuyện trong phim.
Bên cạnh đó, khác với tác phẩm văn học, phim truyện điện ảnh bị giới hạn
khá chặt chẽ về thời gian trình chiếu. Một bộ phim trung bình chỉ dài từ
2700m đến 2900m chiếu trong khoảng 90 phút đến 120 phút. Trong khuôn khổ
như vậy, nhà đạo diễn phải lựa chọn những bộ khung nhất định trong chiều dài
câu chuyện, lựa chọn những chi tiết sinh động nhưng phải hàm súc tạo nên một
cốt truyện tập trung. Kết cấu cốt truyện phải thật cân đối, đường dây cốt truyện
rõ nét, hàm chứa sức mạnh tiềm tàng của hình ảnh thị giác.
Nhân vật trong phim truyện điện ảnh cũng giống với nhân vật trong tác
phẩm văn học là đối tượng miêu tả chủ yếu và quan trọng nhất “trong bất cứ
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
15
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
một phim tự sự nào kể cả phim hư cấu hay phim tài liệu, các nhân vật đều tạo ra
nguyên cớ và biểu hiện kết quả. Trong hệ thống hình thức của phim, họ làm cho
sự kiện xảy ra, làm cho chúng méo mó và làm các sự kiện xoay ngược lại” [ 3;
99]. Mỗi nhân vật trên màn ảnh là một hình ảnh cụ thể, trọn vẹn về hình thể,
tâm lý, tính cách,… nó hoàn toàn khác với nhân vật trong tác phẩm văn học
mang tính chất phi vật thể, tính không xác định. Diễn viên là người thể hiện
không gian trong điện ảnh là những khuôn hình đã được lựa chọn làm nơi thể
hiện hoàn cảnh của chính nhân vật trong phim, nơi mà hành động nhân vật diễn
ra, nơi diễn ra những xung đột, biến cố, phát triển tình huống truyện…Có thể
nói, điện ảnh đặc sắc hơn các loại hình nghệ thuật khác chính là nhờ những
không gian trên phim vừa có nhạc điệu, âm thanh, vừa có sự phối hợp của hình
ảnh, màu sắc và hơn nữa có những biểu tượng đầy tính nghệ thuật.
Như vậy có thể thấy, điện ảnh là loại hình nghệ thuật non trẻ hơn cả, nó đã
kế thừa, tiếp thu từ nhiều loại hình nghệ thuật trước nó nhưng vẫn luôn tạo cho
mình một đặc trưng riêng. Thế giới của những câu chuyện trên màn ảnh với cốt
truyện, kết cấu, nhân vật, bối cảnh không gian,… là cách kể câu chuyện riêng
của điện ảnh, đem đến cho người đọc cái nhìn cụ thể hơn.
Vấn đề chuyển thể và liên văn bản trong văn học và điện ảnh.
1.2.1 Vấn đề chuyển thể
Văn học và điện ảnh, từ khi ra đời đã có tác động qua lại với nhau. Với điện
ảnh, văn học là nguồn chất liệu dồi dào, phong phú, là những hạt giống tốt được
điện ảnh mang đi ươm mầm trong một môi trường hoàn toàn mới mẻ. Điện ảnh
không chỉ lấy cảm hứng, chất liệu từ mạch nguồn phong phú của kho tàng văn
học, tiếp thu kinh nghiệm nghệ thuật và các thủ pháp biểu hiện của văn học mà
ngược lại “điện ảnh cũng làm thay đổi tiểu thuyết”.
Ngày nay việc chuyển thể các phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh đã là
hiện tượng hết sức phổ biến. Chúng ta khó có thể kể hết những tác phẩm văn
học trên thế giới và Việt Nam đã xâm nhập vào địa hạt của loại hình này, làm
cho điện ảnh ngày càng phong phú về nội dung. Hầu hết các thể loại từ những
thiên anh hùng ca, những câu chuyện truyền thuyết, thần thoại, sử thi, truyện
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
17
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
thơ, … trong kho tàng văn học dân gian đến những tác phẩm văn học cổ điển và
những tác phẩm mới của văn học hiện đại đều được đưa lên màn ảnh trong một
màu sắc mới. Điện ảnh đã có công chắp cánh cho các tác phẩm văn học thăng
nguyên bản và chuyển thể cải biên không sát với nguyên bản.
Bản chất của quá trình cải biên sát với nguyên bản là bám sát và trung thành
tuyệt đối với cốt truyện, tôn trọng thậm chí cả hình thức của tác phẩm. Sử dụng
toàn bộ những nguyên liệu cấu thành nên tác phẩm văn học mà không lược bỏ
hay thêm bớt chi tiết. Bộ phim hoàn toàn nhằm chuyển tải những ý đồ của nhà
văn trên màn ảnh.
Đối với chuyển thể cải biên không bám sát với nguyên bản là sự chuyển thể
tự do, tuỳ thuộc vào “thế giới quan” của người cải biên mà lựa chọn những gì là
phù hợp. Tác phẩm văn học chỉ là cái cớ, cơ sở nảy sinh để người cải biên
chuyển thể xây dựng thành phim.
Tuy nhiên mọi sự phân chia chỉ mang tính chất tương đối trong lý luận phê
bình bởi quá trình chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh là sự
thể hiện tác phẩm ở hai lĩnh vực khác nhau nhưng nằm trong mối tương quan
giữa văn học và điện ảnh “là một cách đọc mới trong một hoàn cảnh xã hội văn
hoá mới” (Nguyễn Nam)
1.2.2 Vấn đề liên văn bản.
Liên văn bản không phải là thuật ngữ mới mẻ trong giới nghiên cứu và phê
bình, nó không chỉ được sử dụng bó hẹp trong một loại hình riêng biệt nào. Mối
quan hệ gắn bó giữa điện ảnh và văn học trong những đặc trưng riêng biệt của
thể loại cũng đã thể hiện rõ tính liên văn bản. U.Broich, M.Pfister và B.Schulte-
Middelitzch đã đưa ra những hình thức cụ thể của liên văn bản, trong đó có hình
thức dựng thành phim hay kịch.
Liên văn bản là một thuật ngữ của văn bản học chỉ mối quan hệ tác động qua lại
giữa văn bản đang xét với những văn bản khác (có thể là/ không là văn bản văn học)
hoặc với môi trường (context) văn hóa- lịch sử nói chung. Liên văn bản nhìn nhận
văn bản như một tác phẩm mở, có sự tương quan với hệ thống văn bản khác và
luôn mở rộng trường tiếp nhận của độc giả. Liên văn bản không chỉ giới hạn
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
19
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
20
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
tâm, tác giả của tác phẩm văn học thoải mái sử dụng hai hình thức: hoặc là dùng
lời kể, tả của người kể chuyện (người kể hàm ẩn, hay người kể trực tiếp), hoặc
là dùng lời của nhân vật (đối thoại hoặc độc thoại nội tâm). Nhưng với điện ảnh
thì khác, điện ảnh không thể đưa lời của người kể chuyện vào trong phim,
không thể nói rằng “cô ấy thấy cô đơn” mà để cho khán giả biết nhân vật đó
đang cảm thấy cô đơn thì phải dựa vào tài năng diễn xuất của diễn viên thông
qua hành động.
Tuy khác nhau về chất liệu và đặc trưng biểu hiện như vậy, song điện ảnh
và văn chương lại có cùng một điểm chung là sự phản ánh đời sống xã hội. Bàn
về văn chương, Bielinski từng nói: “Thơ văn thể hiện trong lời nói tự do của
con người, mà lời nói vừa là âm thanh, vừa là bức tranh, vừa là khái niệm. Do
vậy, thơ ca mang trong mình tất cả các yếu tố của các nghệ thuật khác, nó như
đồng thời sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các loại hình nghệ
thuật riêng biệt. Thơ văn chính là toàn bộ nghệ thuật”. Bruno Toussaint- tác giả
cuốn sách Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình cũng có phát ngôn tương tự về
điện ảnh: “Ngôn ngữ điện ảnh là một thứ cocktail đặc biệt của các hình thức
nghệ thuật khác nhau: hội họa, văn học, sân khấu, âm nhạc… được pha trộn hết
sức khéo léo để cùng thể hiện một đề tài, kể một câu chuyện” [1]. Như vậy, cả
hai loại hình nghệ thuật này đều thu vào mình các thành tựu của những nghệ
thuật khác. Thậm chí, chính hai loại hình này cũng thâm nhập, ảnh hưởng lẫn
nhau, nhờ vậy mà ngày càng trở nên phong phú, chân trời của nó ngày càng
rộng vô biên.
Trong mối quan hệ giữa điện ảnh và văn học, tính liên văn bản là một
trong những yếu tố thể hiện rõ nét đặc trưng của thể loại. Với văn học, vũ khí
của nhà văn là ngôn ngữ viết. Nhà văn kể câu chuyện của mình bằng lời văn
trên mặt giấy. Người đọc khi tiếp nhận tác phẩm văn học đã phải vận dụng khả
năng tưởng tượng của mình tạo nên cái nhìn phong phú của tác phẩm. Để có
thể kích thích trí tưởng tượng của độc giả, nhà văn phải xây dựng nên được
hậu hiện đại của riêng mình” [51]. Tuy nhiên, sự ra đời của chủ nghĩa hiện
đại đã mang đến những thay đổi và những nhận định mới mẻ về đời sống con
người.
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
22
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
Chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời với những đặc trưng thẩm mĩ, phi cấu trúc, phi
tâm hoá, chối từ vai trò chủ thể của con người (cái Tôi); xoá nhoà ranh giới giữa
nghệ thuật và đời sống thường ngày, phá bỏ những giai tầng văn hoá quý phái
và văn, nhấn mạnh đến phong cách trộn lẫn hoà với đại chúng; phủ nhận tính
chất nguyên thuỷ của một tác phẩm nghệ thuật và cho rằng nghệ thuật cũng chỉ
là một hiện tượng lặp lại (Liên văn bản); nghệ thuật của cái trào tiếu (dị biệt,
nguỵ tạo, giễu nhạo, đa tạp, mất liên tục, phân ly, bất ổn); chối từ tất cả đại tự sự
sẵn có từ thời tiền hiện đại đến hiện đại. Nó đã tác động lớn trên nhiều lĩnh vực
phê bình văn học, xã hội học, ngôn ngữ học, kiến trúc, nghệ thuật thị giác, âm
nhạc,…
Với sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại, sự xuất hiện của các nhà hậu hiện
đại trong việc miêu tả xã hội đang hình thành dưới tư cách là một thiết chế xã
hội theo kiểu “hậu thị trường”. Văn học là một lĩnh vực rộng lớn cũng đã có
những chuyển đổi không ngừng. Trào lưu văn học hậu hiện đại ra đời với “hàng
loạt những kỹ thuật sáng tác và tư tưởng văn nghệ mới để phản ứng lại các quy
chuẩn văn học hiện đại, trong khi đó cũng phát triển thêm các kỹ thuật và giả
định của văn học hiện đại” [52]. Trần Quang Thắng trong cuốn Chủ nghĩa hậu
hiện đại đã lý giải văn học hậu hiện đại là trào lưu văn học Phương tây được bắt
đầu từ sau thế chiến II, đạt đến đỉnh cao vào những năm 70 của thế kỷ XX, gắn
với các tên tuổi: Burroughs, Trocchi, Barthelme, Auster, Acker, Delillo….
Barry Lewis trong bài Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương với những ý
kiến của ông và của người khác đã vẽ lên bức tranh sinh động và cụ thể về văn
chương hậu hiện đại. Hình tượng nhân vật trong văn chương hậu hiện đại “đều
hiện hữu trong một trạng thái bị bóp méo và làm sai lệch tận gốc rễ”, họ sống
thưởng Franz Kafka, giải mà trước đó đã trao cho người đạt Giải Nobel Văn học
Harold Pinter và Elfiede Jelinek. Chính Murakami cũng đã được xem là một
tiềm năng cho giải Nobel. Tác phẩm của ông đã được dịch ra 38 nước trên thế
giới. Ông được coi là nhà văn hậu hiện đại của Nhật Bản. Tuy nhiên bản thân
ông lại cho rằng “Tôi không nghĩ mình là nhà văn hậu hiện đại, mặc dù nếu bạn
gọi tôi bằng cái tên đó thì tôi không phản đối. Nói thật, người ta gọi tôi là gì tôi
Nguyễn Thị Yến – K52 Văn học
24
Khoá luận tốt nghiệp khoá QH- 2007 -X
cũng chẳng quan tâm. Theo ý tôi, tôi chỉ là người kể chuyện. Một người kể
chuyện khá cừ, chắc vậy”[ http://vi.wikipedia.org/wiki/M urakami_Haruki].
Haruki Murakami sinh ra khi thế giới diễn ra nhiều biến chuyển lớn lao, nhà
văn đã nhận thấy thế giới không bất định mà luôn chuyển động. Tác phẩm của
ông là cuộc lần tìm và lý giải con người trong thế giới hiện đại ở chiều sâu tâm
thức với tất cả sự đổ vỡ, nỗi hoài nghi, hoang mang, cô độc sâu thẳm. Ngay từ
nhỏ, ông đã có khuynh hướng phản kháng với văn hoá truyền thống mà chịu
ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đặc biệt là văn học và âm nhạc. “Ông lớn
lên cùng với hàng loạt tác phẩm của các nhà văn Mỹ như Kurt Vonnegut và
Richard Brautigan, và sự ảnh hưởng của phương Tây chính là đặc điểm giúp
mọi người phân biệt ông với những nhà văn Nhật khác. Văn học Nhật thường
chú trọng đến vẻ đẹp ngôn từ, do đó có thể khiến cho khả năng diễn đạt bị giới
hạn và trở nên cứng nhắc, trong khi phong cách của Murakami tương đối thoáng
đạt và uyển chuyển” [ http://vi.wikipedia.org/wiki/Murakami_Haruki ]. Haruki
Murakami đã viết các tác phẩm của mình bằng những cách tân táo bạo về nhiều
mặt. Nhân vật trong tác phẩm của ông là những “con người hoang mang tột độ
trong khi cố tìm cho mình một thang giá trị bền vững”, “con người bị phân làm
nhiều mảnh vụn, tự tước bỏ vị trí trung tâm của lịch sử”(yếu tố hậu hiện đại…).
Murakami từng tuyên bố rằng: “Cái mà tôi muốn mô tả trong tác phẩm của tôi
là những con người. Tôi gọi họ là “những con người của tôi”. Có thể diễn dịch
rằng ấy là “người Nhật” mà cũng có thể diễn dịch họ là con người nói chung”