luận văn nghệ thuật gây cười trong hài kịch lão hà tiện của môlie - Pdf 20

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cuối thế kỷ XVII, khi văn học phục hưng với chủ nghĩa nhân văn và con
người khổng lồ đòi hỏi quyền sống tự nhiên và nhân phẩm cho con người vừa
kết thúc, thì một tư trào văn học khác mở màn, choán cả thế kỷ XVII trong
lịch sử văn học Pháp: tư trào văn học cổ điển. Văn học cổ điển Pháp chiếm
một vị trí khá quan trọng trong lịch sử văn học thế giới. Nó gây một tiếng dội
mạnh mẽ vào nền văn học của các nước và mãi mãi lưu lại những dấu ấn khó
phai trong lòng người đọc.
Thế kỷ XVII, là một thế kỷ phong phú và phức hợp của văn học Pháp, với
nhiều khuynh hướng, nhiều sự kiện văn học lớn, đánh dấu thời đại. Biết bao nhà
văn tài năng, biết bao tranh luận, biết bao tổ chức văn học nghệ thuật đã ra đời
từ đầu thế kỷ và xây dựng văn học của một thế kỷ được mệnh danh là “đại thế
kỷ”. Thế kỷ XVII, là giai đoạn của văn học hài hòa, văn học lý trí của trật tự, kỷ
cương, văn học thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo và sức sống của dân tộc. Trên
con đường phát triển ấy, thơ châm biếm của Boileanin mang nhiều dấu tích của
triết lý tự nhiên, truyện kể và thơ ngụ ngôn của LaFonten chan chứa tình cảm và
say mê trái tim, tác phẩm của Fenelon, Fontenelle, Vanban,…thoát thai từ văn
học cổ điển và đặc biệt là hài kịch của Môlie là những ngọn nguồn đầu tiên của
thế kỷ ánh sáng.
Môlie là nhà hài kịch vĩ đại của nước Pháp và của nhân loại. Sáng tác của
ông đa dạng, đầy sức sống, đầy màu sắc, là bức tranh rộng lớn của nước Pháp
thế kỷ XVII và mang tính nhân loại sâu sắc, với những biến động dữ dội, đầy
sức trẻ, đầy chất thơ. Hài kịch Môlie thấm thía một chủ nghĩa nhân văn tươi
sáng, yêu đời, nó thức tỉnh con người, nó khuấy đảo những ai thờ ơ với cuộc
sống, với con người và cái đẹp.
Nhắc đến Môlie không thể không nói đến vỡ hài kịch “lão hà tiện”. Vở
hài kịch này thể hiện một cách toàn diện tài năng của nghệ sĩ, vui nhộn từ
đầu đến cuối và có ý nghĩa triết lý, xã hội sâu sắc, nó phản ánh một khía
cạnh vừa buồn cười vừa chua chát của một tầng lớp tư sản giàu có hồi thế kỷ
XVII và hiện nay vẫn còn là một bài học phong phú về tư tưởng cũng như

cách chính là quá trình đi sâu vào bản chất sự vật, chính yêu cầu viết theo
tự nhiên, yêu cầu vẽ giống như thật đã chỉ đạo quá trình này. Yêu cầu phản
ánh hiện thực của xã hội giúp Môlie xây dựng thiên tài của mình trong kỹ
thuật hài kịch. Càng đi sát hiện thực kỹ thuật Môlie càng sắc sảo….lão hà
tiện gốc từ Plô-tơ”. Đó là những nhận xét hết sức khái quát và sâu sắc về hài
kịch của Môlie.
Năm 2001, Đỗ Đức Hiểu dịch cuốn lão hà tiện khi nhận xét về vở kịch đã
nhận định như sau: Ông nhấn mạnh vở “Lão hà tiện” thể hiện khá đầy đủ nghệ
thuật hài kịch của Môlie. Ở đây có đủ cung bậc của những tiếng cười. Môlie sử
dụng nhiều phương pháp nghệ thuật khác nhau để gây những tiếng cười: “Môlie
mượn của Plốt cốt truyện kịch, một số tình tiết, độc thoại Ácpagông mất tráp, cảnh
đứa con hoang toàng gặp người cha cho vay nặng lãi, tình trạng những con ngựa
đói ăn của lão hà tiện, của các tác giả khác chỗ này một gợi ý, chỗ khác một nhân
vật, một cử chỉ, một lời nói. Và Môlie đã sáng tạo một vở kịch hoàn chỉnh, sống
với những tính cách sâu sắc, những tình huống hài kịch tuyệt vời, mang ý nghĩa xã
hội to lớn, làm mọi người xem nhận được đó là một nhân vật của thời đại mình”.
Năm 2002, tiêu biểu là công trình của Lê Nguyên Cẩn. Ông đã nghiên cứu
khá kỹ về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Môlie. Theo tác giả, cuộc đời của
nhà hài kịch này gắn liền giữa vinh quang và sóng gió, ông đã đi sâu phân tích những
giá trị nội dung và nghệ thuật của vở hài kịch “Lão hà tiện: “Môlie nói chung và trong
vở lão hà tiện nói riêng. Tiếng cười phác xơ toát lên từ những cảnh đấm đá nhau trên
sân khấu, từ những sự nhầm lẫn râu ông nọ cằm bà kia, từ những cử chỉ hành động
ngớ ngẩn, máy móc, từ những từ đồng nghĩa, từ ngữ lửng lơ lắm nghĩa, từ những bộ
quần áo kì quặc, lố bịch, không hợp thời trang, từ những cái mặt nạ đủ kiểu, đủ
màu, ”. Ông đặc biệt chú ý đến nghệ thuật gây cười trong hài kịch Môlie nên đã có
những nhận xét rất xác đáng về vở kịch.
Năm 2004, trong một bài viết ở cuốn nghiên cứu văn học số 11/ 11/ 2004
cũng có những nhận xét, bình luận về hài kịch của tác giả: “Môlie là nhà soạn kịch
đầu tiên xây dựng được các kiểu nhân vật hài kịch đam mê điển hình thuộc đủ loại
giai cấp, cả quý tộc lẫn bình dân. Nhân vật của Môlie gần hơn với nhân vật của

sánh đối chiếu với các tác giả cùng thời với Môlie để thấy được phong cách
độc đáo, mới lạ, hấp dẫn của Môlie qua vở kịch lão hà tiện.
5. Cấu trúc của tiểu luận.
Bài tiểu luận gồm ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và
phần kết luận. Ngoài ra còn có phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.
Trong đó trọng tâm là phần nội dung. Phần nội dung bao gồm hai
chương:
Chương I: Môlie – người hề vĩ đại trên sân khấu hài kịch.
Chương II: Thủ pháp gây cười trong hài kịch “Lão hà tiện” của Môlie.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: MÔLIE – NGƯỜI HỀ VĨ ĐẠI TRÊN SÂN KHẤU HÀI KỊCH.
1.1. Giới thuyết thuật ngữ hài kịch.
Theo Tsernưsepxki định nghĩa về hài kịch: “Bản chất của hài kịch là sự
trống rỗng và vô nghĩa ở bên trong được che đậy bằng một vẻ ngoài huyênh hoang
tự cho rằng nó có nội dung và ý nghĩa thực sự. Do đó có cái xấu hiểu theo ý nghĩa
rộng của từ này là nguồn gốc, là bản chất của hài kịch. Nhưng phải là cái xấu
không biết mình là xấu, nghĩa là có sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức”.
Trong cuốn thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán và Trần Đình Sử đã định
nghĩa về hài kịch như sau: “Hài kịch là thể loại kịch trong đó tính cách, tình
huống và hành động thể hiện dưới dạng buồn cười hoặc ẩn chứa cái hài
nhằm giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một
cách vui vẻ ra khởi đời sống xã hội”. Hài kịch cho đến thế kỷ XVII được coi
như một thể loại đối sống xã hội. Hài kịch cho đến thế kỷ XVII được coi
như là một thể loại đối lập với bi kịch, và tác phẩm của nó kết thúc nhất thiết
phải có hậu. Nhân vật của nó, theo nguyên tắc thuộc về các tầng lớp bình
dân,… hài kịch hướng vào sự cười nhạo cái xấu xa, lố bịch đối lập với lý
tưởng xã hội hoặc chuẩn mực đạo đức. Nhân vật của hài kịch thường không
có sự tương xứng giữa thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của
mình nên đã trở thành lố bịch. Các tính cách trong hài kịch thường được mô
tả một cách đậm nét, cận cảnh và ở trạng thái tĩnh, nhất là những nét gây

đưa đó lên đỉnh cao. Cuộc đời của ông là một quá trình chiến đấu dũng cảm không
ngừng chống lại mọi thế lực phản động đương thời. môlie đã dốc tất cả cho sự
nghiệp cao quý của mình.
Môlie tên thật là Giăng Baptixtơ Pôcơlanh sinh năm 1662 tại Pari, trong một
gia đình thị dân giàu có, cha của ông làm hầu cận nhà vua. Ông được dạy dỗ chu
đáo ở trong trung học Clecmông nổi tiếng với sở thích văn chương, triết học, đặc
biệt là triết học Gaxangđi. Ông môn luật theo yêu cầu của gia đình, song vẫn theo
đuổi sở thích sân khấu. Học xong trung học và luật, ông từ chối mọi dự định công
danh của cha mình, ông quyết theo nghề sân khấu mà ông đã ham mê từ thuở nhỏ.
Sống trong một gia đình tư sản như vậy, ông hiểu biết tường tận cuộc sống của bọn
quý tộc nơi cung đình và của những người tư sản nơi đô thành.
Năm 1643, ông cùng gia đình Bêgia thành lập đội kịch. Đêm ra mắt đầu tiên
của đội kịch cũng là đêm thất bại thảm hại. Sau hai năm diễn không thành công ở
Pari, Môlie quyết định đưa đội kịch của mình đi biểu diễn ở các miền tỉnh lẻ khác
nhau, ở đó họ sẽ có những tác giả dễ tính và rộng lượng hơn. Mười bốn năm chu
du cùng đoàn kịch cũng là khoảng thời gian ông tìm hiểu xã hội và tìm đường cho
sự nghiệp sáng tác của mình. Ông đã dần dần làm chủ đoàn kịch và làm chủ lối đi
của mình.
Đoàn kịch Môlie ngày càng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm và phát triển, nổi
tiếng hơn vang tận đến kinh đô. Từ năm 1945 cho đến 1658 đoàn kịch của ông mới
trở về Paris và biểu diễn ở vùng ngoại ô, ông có cơ hội rèn luyện tài năng và chuẩn
bị sự nghiệp sáng tác của mình. Từ đây trong một dịp may hiếm có, đội kịch của
ông được biểu diễn cho nhà vua Lui XIV xem, vở kịch mà đội kịch biểu diễn là
một sáng tạo của ông nhan đề Những ả cầu kỳ rởm. Vở kịch được hoan nghênh và
nhà vua tỏ ra hài lòng. Nhà vua cho phép đội kịch của Môlie được vào biểu diễn ở
Paris và trở thành đội kịch của vua. Đó là thắng lợi có ảnh hưởng nhiều mặt đến
đội kịch và Môlie.
Môlie là người lãnh đạo đội kịch có uy tín và ảnh hưởng lớn; là đạo diễn xuất sắc
của thế kỷ; là diễn viên xuất chúng tạo nên một phong cách diễn xuất độc đáo trên
lĩnh vực hài kịch. Ông còn là nhà nghệ sĩ sáng tác. Ông đã sáng tạo ra hàng chục

cung đình, với giới quý tộc.
Trong giai đoạn tiếp theo (1659 – 1663), giai đoạn trưởng thành. Từ đây
tiểu sử Môlie bước vào một giai đoạn mới: giai đoạn đấu tranh xây dựng một nền
nghệ thuật sân khấu hiện thực. Môlie đã khẳng định tài năng của mình với nhiều
vở kịch mới. nhũng tác phẩm nổi danh của Môlie ra đời liên tiếp, mỗi tác phẩm là
một đòn quyết liệt đánh vào bọn quý tộc, nhà thờ, vào chế độ đoán đang bành
trướng Đáng để ý là vở Những ả cầu kì rởm (1659). Đến vở kịch này, tính chất hề
vẫn còn nhiều, nhưng ý nghĩa xã hội đã sâu sắc. Đả kích bọn quí tộc ăn bám, nghèo
nàn về đạo đức và tâm hồn. Vở kịch có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp sáng tác
của Môlie. Những vở Trường học làm chồng (1661), và Trường học làm vợ (1662)
được công chúng chào đón nhiệt tình và là thành công lớn của Môlie. Những vở
kịch này được trình diễn liên tiếp trên săn khấu và gây một dư luận sôi nổi. Kẻ thù
của Môlie kết tội, có nhà quí tộc định hành hình ông, có nhà văn đã đưa Môlie lên
sân khấu làm trò cười. Để trả lời và bênh vực cho những quan điểm nghệ thuật của
mình. Môlie viết liền hai vở bút chiến: Phê bình “Trường học làm vợ” (1663) và
Kịch ứng diễn ở Vecxây (1663). Hai vở kịch đã chế giễu, chống lại những kẻ luôn
thù ghét ông.
Nhìn chung các tác phẩm của ông giai đoạn này đã gây những cơn bão táp
liên tục trong văn học cổ điển nửa sau thế kỷ XVII. Mỗi cơn sóng gió của ông gieo
ra là bị bao nhiêu đòn tới tấp của kẻ địch đánh vào ông. Nhưng với ông người nghệ
sĩ chân chính không lùi bước trước khó khăn, ông đã sống và tiếp tục chiến đấu hết
mình vì sự nghiệp. Những giai đoạn tiếp theo đánh dấu thêm những trang sách
vàng của Môlie.
Giai đoạn (1664 – 1666), đây là giai đoạn đánh dấu đỉnh cao phát triển của hài
kịch Môlie với những kiệt tác Tactuyf (1664) và Đông Juăng (1665), Anh ghét đời
(1666). Đây là những vở kịch chiếm vị trí đặc biệt trong sang tác của Môlie.
Những tác phẩm này là những đòn tấn công liên tiếp, dữ dội vào hiện thực tối đen
của thời đại. Thái độ phê phán gay gắt của Môlie khiến hài kịch của ông giai đoạn
này mang những yếu tố không phù hợp với những quy tắc quen thuộc của sân khấu
cổ điển chủ nghĩa, nhưng lại có sức biểu hiện lớn: văn xuôi, không duy nhất về địa

Một đề tài có thể trở thành hài kịch thì bản thân nó phải mang tính chất đáng
cười, nghĩa là bản thân đề tài ấy phải mang được, phải có được sự mâu thuẫn giữa
nội dung phản ánh và hình thúc phản ánh. Do đó, hà tiện mang trong nó tính chất
mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức. Hà tiện phải đi đôi và gắn bó với sự giàu có
với của cải, tức là nguyên nhân để gây ra kết quả hà tiện. Bản thân hà tiện là một
thói hư, một tật xấu, nó gắn liền với cái sai trái và tự thân cái xấu là nguồn gốc của
cái hài. Đặc biệt là khi xấu mà lại không biết là mình xấu, lại muốn tô vẽ thành
đẹp, muốn khoác vào mình một bộ áo thật sang thì cái xấu càng trở nên lố bịch,
càng trở thành đối tượng của tiếng cười. Một điều cần nhấn mạnh nữa là thói quen
hà tện gắn chặt với bản chất của giai cấp bóc lột. Và khi dung tiếng cười để chế
giễu châm biếm thói xấu đó, cũng chính là bóc trần bộ mặt của giai cấp thống trị,
bóc trần cái mâu thuẫn giũa nội dung và hình thức có tính hài kịch ấy. Xét trên
phương diện này, hà tiện phải là đề tài của hài kịch và là đối tượng của tiếng cười.
cái hà tiện ở đây còn được phê phán từ một gốc độ khác biệt: đó là sự mất cân đối
trong cuộc sống bình thường khi yếu tố của cải vật chất xuất hiện. tiếng cười ở đây
mang tính chất giễu cợt một thói hư tật xấu cố hữu của con người. Cái hà tiện ở
đây còn ở mức độ tự phát, được sinh ra bởi một trường hợp ngẫu nhiên.
Như vậy, có thể khẳng định rằng: đề tài hà tiện là một đề tài được khai thác từ
lâu trong các nền văn học và là một đề tài mang tính chất hài kịch, là đề tài muôn
thuở tạo ra tiếng cười châm biếm khi nhẹ nhàng khai sôi nổi, có khi cười ra nước
mắt. Đề tài hà tiện đi vào nghệ thuật hài kịch không phải là ngẫu nhiên, không phải
do tình cờ mà là tất yếu, do bản chất nó chứa đựng yếu tố hài hước, chứa đựng tính
chất đáng cười, nó đi liền với tiếng cười, nó đi vào văn học và trường tồn trong văn
học với bao thử thách của thời gian.
Môlie dành trọn vở kịch cho đề tài hà tiện: một vở kịch đã để lại tiếng vang
trteen sân khấu, vở Lão hà tiện, dài năm hồi ra mắt công chúng năm 1668. Đề tài
về người hà tiện không phải là đề tài mới mẻ, càng không phải là khám phá của
Môlie cũng như chất liệu mà Môlie sử dụng ở đây chưa phải hoàn toàn là sáng tạo
của riêng ông. Chủ nghĩa cổ điển cho phép tự do vay mượn đề tài cũng như chất
liệu tác phẩm và Môlie đã làm việc đó. Nhưng bằng những trải nghiện của bản

là Êlidơ. Acpagông giàu có nhưng rất keo kiệt. Lão định cưới cho con trai một
người đàn bà goá giàu có, gả con gái cho ông già Ăngxenmơ để không mất của hồi
môn. Trong khi đó, Clêăng yêu Marian , Êlidơ yêu Valer (quản gia của Acpagông),
còn Acpagông lại say mê Marian. Clêăng buồn chán, ăn chơi hoang tàng hơn vì
thói keo kiệt đến mức không chịu nổi của cha mình. Để có tiền, anh ta tìm đến một
người cho vay nặng lãi. Khi kí giao kèo, Clêăng mới biết người cho vay là cha
mình, còn Acpagông bấy giờ mới vỡ lẽ người đi vay là con trai lão. Lại tình cờ,
Acpagông khám phá ra rằng người con gái mà lão định cưới làm vợ là người yêu
của Clêăng và ông già Ăngxenmơ là cha của Marian và Valer. Câu chuyện kết thúc
khi Acpagông tìm lại được tráp vàng chôn trong vườn, lão vô cùng sung sướng, đã
bằng lòng gả Êlidơ cho Valer, nhường Marian cho Clêăng khi Ăngxenmơ chịu mọi
phí tổn cưới xin của Clêăng và không đòi của hồi môn của Êlidơ. Nghệ thuật gây
cười của Môlie làm cho vở "Lão hà tiện " trở thành một tác phẩm lớn.
Tác giả đặt ra nhiều tình huống gây cười xung quanh những vấn đề xã hội,
xây dựng được một tính cách nổi bật: tính keo kiệt. Tất cả đều do tính keo kiệt mà
ra, và mọi việc đều được giải quyết khi Acpagông tìm lại được tráp vàng và gả con
gái không mất của hồi môn. Lão hà tiện là một trong những vở hài kịch, kiệt tác
của Môlie, có một địa vị ưu việt trên văn đàn thế giới, do bức tranh sắc nét và đậm
đà của tác giả vẽ nên điển hình của tên hà tiện và những nhân vật khác.
Lão hà tiện cũng như mọi vở kịch lớn nhỏ khác của Môlie gây những nụ cười
kín đáo, gây những tiếng cười ồn ào từ đầu đến cuối. Một trong những sản phẩm
vô giá của con người là tiếng cười. Cái cười không tồn tại bên trong xã hội loài
người. Bản thân của cái cười được sinh ra từ sự mâu thuẫn giữa nội dung được
phản ánh và hình thức phản ánh, nảy sinh khi cái ti tiện tự làm ra vẻ vĩ đại, cái ngu
ngốc tự làm ra vẻ thông thái, cái trì trệ ngưng đọng tự làm ra vẻ tràn đấy sức sống
và phát triển. Cái cười đánh gục sự trống rỗng bên trong và sự hèn mạt của những
kẻ nuôi ảo vọng có nội dung phong phú và có ý nghĩa hiện thực. Nói cách khác cái
cười là phản ứng cảm xúc của con người trong ý thức thẩm mỹ của nó khi nhìn
nhận thực tại mang các xung đội hài kịch. Một hiện tượng xã hội được coi là lỗi
thời theo quan điểm triết học, là phản động theo quan điểm chính trị thì quan điểm

nhiều cung bậc trong độc thoại của Acpagông.
Một bộ phận quan trọng trong gia tài hài kịch Môlie là những hài kịch tính
cách. Những hài kịch này phản ánh xu hướng đi vào lòng người, mô tả tâm lý,
nghiên cứu tự nhiên của chủ nghĩa cổ điển nói chung. Xây dựng Acpagông, Môlie
tập trung mô tả nét tính cách cơ bản của nhân vật, làm cho Acpagông trở thành một
điển hình độc đáo tiêu biểu cho thói hà tiện. Mọi nét tính cách đều xoay quanh thói
hà tiện, do hà tiện sinh ra, và có tác dụng nỗi bậc tính xấu này. Đó là một thành
công xuất sắc của Môlie gắn liền với phương pháp điển hình hoá của chủ nghĩa cổ
điển. Tính cách của Acpagông có một ý nghĩa lịch sử không thể chối cãi. Nó cũng
không cứng nhắc, khô khan, đơn điệu.
Tính cổ điển của hài kịch Môlie thể hiện trong tác phẩm Lão hà tiện đó chính
là tinh thần duy lý, duy vật, Môlie đã nhận xét, phê phán các hiện tượng của xã hội,
các tính cách đáng chê cười. Môlie đã mượn đề tài trong văn học cổ đại Hy Lạp-La
Mã để xây dựng nên hình tượng Acpagông. Với quy tắc sáng tác của sân khấu cổ
điển, Môlie có một cách hiểu rộng rãi, phù hợp với yêu cầu cơ bản của thời đại, mà
vẫn thích hợp với việc phản ánh chân thật hiện thực.
Tác phẩm Lão hà tiện sống mãi trong lòng nhân dân thế giới một phần lớn nhờ
nghệ thuật kịch được Môlie xây dựng rất thành công. Đề tài hà tiện là đề tài nóng
hổi mang tính mang tính thời sự của xã hội Pháp lúc bấy giờ lên sân khấu và giải
quyết nó theo quan điểm tiến bộ của xã hội. Hài kịch của Môlie do đó nghiễm
nhiên là một bộ phận của cuộc sống, đã tham gia vào việc thúc đẩy tiến trình của
cuộc sống, và trở thành lợi khí đấu tranh xã hội. Hành động trong sân khấu của
Môlie khá đơn giản. Kịch băt đầu bằng xu thế mỗi lúc một tập trung hơn, mạnh mẽ
hơn. Những xung đột kịch không qua phức tạp, gay gắt đòi hỏi những giải pháp
quyết liệt. Tạo nên những thành công lớn trong nghệ thuật hài kịch của Môlie.
Chương II: THỦ PHÁP GÂY CƯỜI TRONG HÀI KỊCH “LÃO HÀ TIỆN”
CỦA MÔLIE.
2.1. Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật.
2.1.1. Ácpagông – nhân vật hà tiện điển hình.
Cống hiến lớn lao của Môlie là ông đã xây dựng được một nhân vật hà tiện

mình về món tiền lão có, lão sợ khi nghe tiếng chó sủa, khi có người hỏi thì lão kêu
bận, nhưng khi bảo người ấy mang tiền đến thì lão hộc tốc ra ngay, tựa hồ như có
hai con người trong một con người Acpagông vậy. Ngôn ngữ từ cửa miệng của lão
cũng rất phù hợp với tính cách lão: “quân ăn cắp”, “thổ tả”, “đồ chết treo”,… lão
đòi khám bàn tay thứ ba, thứ tư . Vì sợ bóng gió và lão vốn không yên tâm, vừa
hăm dọa vừa dỗ dành nhưng cũng không ổn thỏa do đó lão đuổi không: “Vĩnh biệt!
Bước đi đâu thì bước”. Sang lớp 4, hồi I, tính cách hà tiện được triển khai thêm
bằng nét yêu đương. Cách đặt vấn đề của lão cũng quanh co, buộc hai đứa con phải
nói thật hết những nhận xét của mình về cô gái mà lão đang theo đuổi. Cái quanh
co này cũng không che giấu được tính cách hà tiện của lão. Người xem không thể
nhịn cười khi nghe lão nói: “có một khó khăn nho nhỏ, cha sợ, với đám này, ta sẽ
không được lắm của mà ta có thể trông chờ” và “…thì phải mà cố gỡ gạc ở cái
khác” (lớp 4, hồi I). Nét hà tiện tiếp tục được phác họa thêm với ý định của
Acpagông là hỏi cho con trai một “bà góa nào đó” và gả con gái lão cho một ông
già được người ta “tán tụng là lắm của”. Sự triển khai của nét tính cách hà tiện
được phát triển ở các khía cạnh khác nhau trong các hồi khác nhau. Nó làm công
việc phanh phui bản chất con người Acpagông, khắc họa rõ ràng và sinh động tính
cách Acpagông và là điều kiện để tiếng cười xuất hiện. Sự khai triển tính cách này
trong từng lớp, từng hồi của vở lão hà tiện cũng không giống nhau.
Nói hội tụ không có nghĩa là tất cả các nét riêng khác của tính cách đều hòa
nhập vào nét đặc trưng chủ yếu, mà các nét này đều được sử dụng, được phát triển
theo hướng làm sáng tỏ, làm nổi bật nét chủ yếu, tô đậm nét chủ yếu. Cái hách
dịch, cái xảo quyệt, nham hiểm theo thói ân nghĩa giả, thói xu nịnh lố bịch hay tính
hào phóng giả tạo khi đòi khắc câu châm ngôn “ăn để sống chứ không phải sống
để ăn” bằng vàng đều không ngoài mục đích làm nổi bật tính cách hà tiện, keo kiệt,
bủn xỉn và bần tiện của Acpagông. Sự hồi tụ này đã làm cho tính hà tiện mang một
màu sắc mới, giúp cho nó có thêm một phẩm chất mới khiến cho nhân vật thêm
sinh động và sâu sắc. Bản chất là hà tiện nên lão rất sợ khi người ta nói lão lắm
của, lão xa xả mắng con tội ăn tiêu hoang toàng mà không biết lấy tiền đó để đặt
lãi, lão mê người đi vì sự nịnh hót của Phrôphin, nhưng khi Phrôphin nói sang

tiện một cách si tình, tính cáu gắt, cục cằn thô lỗ của lão cũng là các nét biểu hiện
khác nhau của tính cách hà tiện. Trong quá trình hoạt động của nhân vật chính
Acpagông, tiếng cười bật ra và các sắc thái của nó phù hợp tương ứng với các bước
phát triển của tính cách.
Điều này được tác giả khắc họa rõ nét qua màn thết tiệc: lão Acpagông phân
chia việc cho mọi người làm: bà Clốt lau bàn ghế, chuẩn bị chai lọ, Branhđavoan
và la Mecluysơ chuẩn bị hầu bàn bằng quần thủng đít và áo bị dầu loang, con gái
Elidơ phải quán xuyến mọi việc nội trợ, con trai Clêăng phải mặt tươi mày tỉnh,
còn bác Giắc phải chuẩn bị một bữa ăn và chuẩn bị xe ngựa đi chợ phiên. Công
việc phân công rõ ràng nhưng lão luôn luôn nhắc lại nếu vỡ chai lọ thì phải trừ vào
tiền công, rượu phải pha nước lã vào và khi nào người ta gọi mới rót “hãy chờ khi
người ta hò hét đôi ba lần đã, và nhớ là phải mang thêm thật nhiều nước lã” , bữa
tiệc tám người ăn đủ thì mười người ăn cũng đủ và phải dọn toàn những món mà
người ta chưa ăn đã thấy no: đậu hột thật béo, thịt độn hạt dẻ rõ thật nhiều vào. Và
cuối cùng ta được một bức chân dung hoàn thiện về tính keo kiệt, keo bẩn của lão
Acpagông hiện ra như: gấp đôi số ngày ăn chay, tìm mọi lý do để không cho quà
gia nhân vào các dịp tết nhất, kiện con mèo hàng xóm ăn vụng một mẩu thịt, ăn
cắp thóc của ngựa,…và được kết luận bằng “những cái tên hà tiện, keo kiệt, đểu
giả, vắt cổ chày ra nước”, (lớp I, hồi 3). Là một người đã có tuổi nhưng lão vẫn
tranh giành một cô gái trẻ với con trai, hai cha con nhanh chóng trở thành tình địch
của nhau. Mối tình tay ba này dẫn đến những cảnh bi hài đan xen vừa đáng cười
vừa chua xót. Để làm đẹp lòng người mình yêu và khiến nàng phải cảm động,
Acpagông quyết định sẽ mở tiệc thết khách mời nàng đến dự. Thế nhưng tình yêu
cũng không làm cho tính cách hà tiện của lão giảm bớt đi. Bữa tiệc lão định tiếp
đãi mọi người được tiến hành trong sự tính toán chi li đến nực cười với phương
châm: “Ăn ngon nhưng ít tiền thôi và phải có những món mà người ta không đụng
đến, làm cho người ta thấy no trước khi ăn” và “phải ăn để mà sống chứ không
phải sống để mà ăn”. Khi cần dùng đến ngựa đi ra ngoài, Acpagông gặp phải sự
phản ứng của đầy tớ là ngựa rất gầy thì lão gắt lên “ngựa ốm khối ra đấy chúng có
làm gì đâu”.

cười.
Đồng tiền là năng lực bị tha hóa của loài người. đồng tiền lúc đầu được sáng
tạo ra như một phương tiện lưu thông, nhưng đến thời tư bản, nó trở thành mục
đích của giai cấp tư bản. Đồng tiền từ chỗ bị sai khiến trở thành kẻ sai khiến, chi
phối và thống trị Acpagông, làm cho lão mất hết những phẩm chất nhân tính. La
Fleche nói rất đúng rằng: “Acpagông là người có ít tính người nhất trong loài
người”. Hám tiền là dục vọng tuyệt đối thống trị loài người. Bằng tài năng nghệ
thuật xuất sắc của mình Môlie đã xây dựng thành công nhân vật Acpagông. Lão
quý tiền hơn cả danh tiếng, vinh dự đạo nghĩa, nó như một người bạn tâm giao là
nơi ac pa gông gửi gắm mọi nỗi niềm tâm sự, nới nương tựa, niềm an ủi, bạn tri kỉ,
…vì tiền lão sẵn sang gã con trai cho một bà góa, gã con gái cho một lão già không
một chút day dứt, áy náy, miễn sao không của hồi môn là lão vui mừng khôn xiết
rồi.
Môie đã chọn những tình tiết rất đắt làm cho tính cách hà tiện của Acpagông càng
thêm điển hình. Cách xây dựng tính cách nhân vật chính của Môlie rất thành công
tạo ra tiếng cười phong phú, đặc sắc cho tác phẩm. Đồng thời nó đã làm nổi bật nét
chủ đạo trong tính cách nhân vật chính để từ đó tạo ra được một tiếng cười sâu sắc,
có ý nghĩa xã hội cao.
2.1.2. Nghệ thuật cường điệu hóa tính cách.
Với tiếng cười nhiều cung bậc Môlie đã đưa vở kịch “Lão hà tiện” đến đỉnh
cao của sự thành công. Để đạt được điều đó ông đã sử dụng và phối hợp tài tình
nhiều nghệ thuật gây cười khác nhau. Biết vận dụng và kết hợp tài tình các kinh
nghiệm gây cười của nghệ thuật hài kịch truyền thống. Môlie đã sáng tạo nên thủ
pháp gây cười độc đáo.
Môlie thường tập trung miêu tả một tính cách, một dục vọng và biện pháp
nghệ thuật được ông dung là cường điệu tính cách và dục vọng đó lên. Tính hà tiện
của Acpagông được cường điệu tới mức điển hình, nó được thể hiện mọi nơi, mọi
lúc, mọi hành vi cử chỉ nhân vật. Tất cả con người Acpagông đều gắn với thói vụ
lợi, quan hệ với ai lão cũng sợ thiệt thòi cho nên lão chỉ đưa tay cho người khác
mượn chứ không phải đưa cho bắt “cho là một tiếng mà lão ta căm ghét đến mức

của lão được phóng đại đến mức hám vàng đến quên cả bổn phận làm cha, mất cả

Trích đoạn Ngôn ngữ đối thoại. Giá trị của nghệ thuật gây cười trong tác phẩm “lão hà tiện”.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status