LUẬN VĂN " NGHỆ THUẬT VIẾT TẠP VĂN QUA MỘT SỐ CÂY BÚT TIÊU BIỂU " - Pdf 12

LUẬN VĂN

NGHỆ THUẬT VIẾT TẠP
VĂN QUA MỘT SỐ CÂY BÚT
TIÊU BIỂU MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
III. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 5
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
V. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
VI. KẾT CẤU LUẬN VĂN 8

CHƯƠNG 1: TẠP VĂN – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
VỀ THỂ LOẠI 10
1.1 Về khái niệm và vấn đề phân loại tạp văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện
đại 10
1.1.1 Về khái niệm tạp văn 10
1.1.1.1 Tạp văn - theo cách hiểu thông thường 11
1.1.1.2 Quan niệm về tạp văn trong hệ thống lý luận văn học 12
1.1.2 Về vấn đề phân loại tạp văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại. 23
1.2 Sơ lược về cơ sở xuất hiện và lịch sử phát triển của thể loại tạp văn 27
1.2.1 Trong văn học phương Tây 27
1.2.2 Trong văn học Trung Quốc 29
1.2.3 Trong văn học Việt Nam 32
Tiểu kết 42



Có thể nói, do sự đòi hỏi phải nắm bắt nhanh nhạy, kịp thời trước những
biến đổi không ngừng của hiện thực cuộc sống và sự phát triển mạnh mẽ của
báo chí cũng như nhu cầu thưởng thức của độc giả, cùng với thể loại ký nói
chung, tạp văn ngày nay không chỉ là một thể loại phong phú về nội dung,
chứa đựng nhiều thông tin, gắn liền với cuộc sống, mà còn hiện đại hơn về
hình thức thể hiện. Như đã đề cập đến trong chương 2, ngoài đặc trưng kết
hợp chặt chẽ giữa tư duy logic với tư duy hình tượng, có một kết cấu linh hoạt
và cách diễn đạt cô đọng, súc tích, tạp văn còn đòi hỏi người viết phải thể hiện
được phong cách, lối viết của mình qua từng trang viết. Lối viết riêng ấy có thể
được thể hiện qua cách nhìn mới mẻ về một vấn đề nào đó, qua cách nêu và dẫn
dắt vấn đề, hoặc qua cách diễn đạt của từng tác giả. Nhưng dù có là thế nào đi
chăng nữa, tạp văn vẫn đòi hỏi ở người viết một tầm hiểu biết sâu rộng, một tư
duy nhạy bén, và một nguồn cảm hứng dồi dào.
Nhìn một cách khách quan và bao quát, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra một
điều: mỗi tác giả đến với tạp văn theo một cách riêng, và dấu ấn mỗi người
để lại trong lòng người đọc cũng đậm nhạt khác nhau, tùy thuộc vào vấn đề
tác giả quan tâm, và cách họ thể hiện vấn đề ấy ra sao. Vậy nên cũng thật khó
để nói về một nghệ thuật viết tạp văn chung chung, những kỹ thuật viết
chung chung, bởi sẽ dễ rơi vào lý thuyết suông và không đúng với bản chất
linh hoạt trong lối viết của thể loại này. Và chúng tôi cũng nhận ra một điều,
dường như có tồn tại một sự thật rất khắt khe, rằng viết được tạp văn là điều
có thể gặp, nhưng thành công với tạp văn lại là điều chẳng thể cầu! Nói chẳng
thể cầu là bởi một lẽ, đôi khi có đề tài hay rồi đấy, có ý kiến độc đáo, sâu sắc
rồi đấy nhưng cũng chưa chắc đã tạo ra được một bài viết hay, dù bài viết ấy
người ta chỉ cần khoảng một hai ngàn chữ. Dường như việc tạo được phong
cách riêng với thể loại này không chỉ phụ thuộc vào “tay nghề” của nhà văn,
cách quan sát của nhà văn, mà phần nhiều còn phụ thuộc vào tố chất thiên
bẩm, vào cái “duyên” đưa đẩy, cái “tạng” của từng người – hay nói cách
khác, tạp văn ra đời từ những khoảnh khắc thăng hoa của cảm xúc, là phút

của Nguyên Ngọc thể hiện ở nhiều điểm, trước hết là ở sự dũng cảm và tinh
thần trách nhiệm của một người có tâm huyết, muốn cống hiến và góp phần
làm cho đất nước giàu mạnh hơn, thông qua chính những đề tài cấp bách mà
ông lựa chọn; kế đến là ở sự am hiểu tường tận, một trí tuệ mẫn tiệp, hiện đại
trong lối nghĩ, và đặc biệt là hơi thở thâm trầm, sâu sắc mà ông đã phả vào
từng trang viết của mình – đó là hơi thở của một con người giàu kinh nghiệm
sống, dám nói lên tiếng nói của mình và cũng dám chịu trách nhiệm trước
tiếng nói ấy. Những bài viết của ông, dù ngắn hay dài, dù là về vấn đề gì đi
chăng nữa, cũng luôn ấp ủ một nhiệt huyết tràn đầy, tha thiết dành cho cuộc
sống những tiếng nói tích cực. Tiếng nói ấy vừa toát lên sự gần gũi, hiền
lành, mà cũng vừa nghiêm nghị, cương trực.
Trong bài viết “Công trình nghiên cứu khoa học… để làm gì?”, Nguyên
Ngọc đã không ngần ngại chỉ ra cho người đọc thấy được hai nghịch lý đáng
buồn trong việc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học. Thứ nhất là
việc lãng phí khi các cơ quan đoàn thể đua nhau làm công trình nghiên cứu
khoa học, mà rồi những công trình ấy lại chẳng biết dùng vào việc gì, chẳng
giúp ích được gì cho khoa học, cho xã hội. Và nghịch lý thứ hai lại còn đáng
buồn hơn nữa, đó là việc lãng phí chất xám khi những công trình khoa học
thực sự có giá trị thì lại bị bỏ xó, chẳng người nào có trách nhiệm thèm quan
tâm tới:
Tình hình đáng buồn, phổ biến và kéo dài đó, chắc ai ít nhiều có quan
tâm đến lĩnh vực này đều biết, biết đã lâu rồi, đến mức… ngán ngẩm, gần
như bất lực, “biết rồi, khổ lắm…”, chẳng buồn nói nữa.
Tuy nhiên, cũng còn một tình hình khác, ngược lại, có lẽ cũng không ít
người biết, nhưng hình như lại ít người nói đến: vẫn còn nhiều cơ quan
nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc, còn nhiều nhà khoa học có tài năng, có
lương tâm, và có dũng khí, họ đã làm được những công trình nghiên cứu
khoa học sâu sắc, hết sức thiết thực, thật sự có ích, mang tính phát hiện cao,
không ít khi có thể có tác dụng vừa cơ bản vừa bức thiết… nhưng rồi chẳng
ai nghe họ cả. Thậm chí có khi họ như người gào lên giữa sa mạc, mà chẳng

tân” ở Nguyên Ngọc - cái tinh thần đã làm nên tên tuổi học giả Phan Châu
Trinh trong lịch sử dân tộc trước đây. Người đọc có thể lấy làm lạ lùng khi
thấy một nhà văn đã về hưu như Nguyên Ngọc lại vẫn đang sở hữu một lối
suy nghĩ trẻ trung và đầy sáng tạo đến như vậy. Thậm chí, những suy nghĩ
của ông cũng đã từng bước được hiện thực hóa, đơn cử như việc ông đứng ra
vận động thành lập Trường Đại học Tư thục Phan Châu Trinh – ngôi trường
mà theo ông sẽ “rèn luyện cho giới trẻ sức phản kháng!” [55, 7], sẽ đào tạo ra
những con người dám và biết độc lập suy nghĩ, giàu sáng tạo.
Bên cạnh đó, sức thuyết phục trong những bài tạp văn của Nguyên Ngọc
cũng tỏa ra từ chính những chuyến đi không biết mệt mỏi của ông. Từ những
hiện thực phả vào trang viết ấy, người ta có thể cảm nhận được sự trôi chảy
của thời gian, cảm nhận được những bước chuyển của lịch sử, của đất nước.
Đấy là những ngày ông trở lại Tây Nguyên để sống lại những năm tháng
oanh liệt xưa cũ của nơi này, và cũng để nhìn ra một sự thật về cuộc sống Tây
Nguyên hôm nay sao còn quá ngổn ngang bề bộn; là những ngày ông về miền
Tây để thăm cái không gian đã làm nên những sáng tác hồn hậu của nhà văn
trẻ Nguyễn Ngọc Tư; hay những ngày lặn lội ở vùng rừng núi miền Trung để
tìm hiểu về cái kho văn hóa vô tận của người dân nơi đây,… Chẳng thế mà
ông đã từng bộc bạch trên báo chí rằng: “Con người mà không còn ham tìm
hiểu thì sẽ chết về mặt trí tuệ, rồi tâm hồn cũng khô cằn đi” [123]. Và chính
vì tâm hồn không bị khô cằn đi theo tuổi tác, nên những bài viết của ông vẫn
luôn cháy bỏng những khát vọng được dấn thân và cả những niềm tin đặt lên
vai thế hệ trẻ của đất nước:
Hàng vạn người trẻ đã kết nối với nhau bằng blog, trao đổi, thảo luận,
tranh luận, hỗ trợ tư duy cho nhau bằng blog, tổ chức nhau lại bằng blog,
liên kết hành động qua blog. Và tôi đồng tình với một người bạn tôi là chuyên
gia tin học đồng thời cũng là một nhà hoạt động xã hội lâu năm khi anh nói
rằng, qua hiện tượng trên anh lạc quan về lớp trẻ hiện nay của đất nước: đấy
là một lớp trẻ trưởng thành về ý thức xã hội chính trị, giàu lòng yêu nước, rất
dũng cảm, và đầy đủ cả sự khôn ngoan nữa. Chẳng hề thua gì các thế hệ cha

Mừng vui và tự hào về chiến thắng vĩ đại, và biết bình tâm để suy nghĩ nhiều
hơn, kỹ hơn, sâu hơn, về hậu chiến thắng (Chiến thắng và hậu chiến thắng)
[54, 205].
Có lẽ, chính vì cái chất thâm trầm, luôn biết lắng mình để tự vấn, để
chiệm nghiệm mọi điều ở Nguyên Ngọc đó đã khiến Nguyễn Khải nhận xét
về ông rằng: “Anh là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”. Và tôi thì cho rằng,
câu nói ấy vẫn còn đúng với Nguyên Ngọc trong cả thời đại ngày nay – một
thời đại mà khoa học kỹ thuật đang phát triển nhanh đến chóng mặt, nền kinh
tế thị trường đang từng ngày cuốn con người ta vào một quỹ đạo khắc nghiệt,
và thật cần thiết làm sao những “cái phanh”, “cái thắng” để không làm cho
con tàu đất nước đi chệch khỏi đường ray trên bước đường tiến về tương lai.
Trong hành trình còn nhiều gian khó ấy, một con người mẫn tiệp, với cái nhìn
công tâm và suy nghĩ cẩn trọng như Nguyên Ngọc chính là một trong những
cái phanh như thế.
3.2 Hoàng Phủ Ngọc Tường: cây bút tạp văn tài hoa, uyên bác
Bên cạnh rất nhiều tập bút ký đặc sắc đã được xuất bản, bao gồm: Ngôi
sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên cho dòng sông,
Bản di chúc của cỏ lau, Hoa trái quanh tôi, Miền cỏ thơm,… và hai tập thơ:
Những dấu chân qua thành phố, Người hái phù dung, Hoàng Phủ Ngọc
Tường cũng đã xuất bản ba tập nhàn đàm: Nhàn đàm (1997), Người ham chơi
(1998), Miền gái đẹp (2001), tập hợp những bài viết nhỏ trên chuyên mục
Nhàn đàm của báo Thanh niên do ông phụ trách, mà chúng tôi gọi đó là
những bài tạp văn. Những bài viết trong ba tập tạp văn này đã được tuyển
chọn và tập hợp lại trong Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 1, do nhà xuất
bản Trẻ xuất bản vào năm 2002.
Cũng như trong hầu hết các bút ký của mình, nét đặc sắc trong tạp văn
của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy tổng hợp. Hơn
nữa, vì là những bài tạp văn đăng báo nên những bài viết này lại hết sức cô
đọng, có chiều sâu về nội dung tư tưởng. Tất cả đã góp phần tạo nên một ngòi

mình. Và chính vì thế, tôi cảm nhận Bóng Đá không chỉ như một môn thể
thao hào hoa mã thượng, mà còn là một Trò Chơi Lớn của cuộc đời (Nước Ý
nếu được “đá lại”) [91, 128-129].
Hay câu chuyện thâm thúy qua bài học vỡ lòng của ông về lòng nhân ái
cũng khiến người ta phải suy ngẫm về mối quan hệ giữa con người với con
người ngày nay:
Bài học đầu tiên của chúng tôi không bắt đầu bằng mấy chữ cái abc như
thường lệ, mà là một bài thơ thầy đã chép sẵn lên bảng, và bảo chúng tôi đọc
theo thầy từng câu một (…) Cuối buổi học tôi đã thuộc làu, và cũng tạm gọi
là “thông suốt” nghĩa lý của bài thơ bằng trực giác mộc mạc của tuổi thơ.
Trong kỷ niệm ngày tựu trường, Thanh Tịnh có viết rằng: “Con đường này
tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi bỗng nhiên thấy lạ. Cảnh vật
chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi: hôm nay
tôi đi học”. Quả đúng với tâm trạng của tôi ngày hôm đó. Tôi cảm thấy thằng
bé trong tôi đã khác ngày hôm qua, vì trên trang giấy trắng của tâm hồn tôi,
thầy tôi đã viết lên bài học về lòng Nhân Ái (Bài học vỡ lòng của tôi) [91, 86-
87].
Bên cạnh đó, sự uyên thâm của Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thể hiện
trong việc ông hay dùng những chuyện cổ, tích cổ để nói về cái hôm nay,
khiến cho các bài viết của ông có một sự cô đọng cần thiết và mang một
không khí vừa trầm mặc vừa hiện đại. Đó là việc ông mượn câu chuyện về
nhân vật Đường Tăng (trong Tây Du ký của Ngô Thừa Ân) đạo cao đức trọng
làm vậy mà cũng quên lời hứa với con rùa đã “lặn lội một kiếp trầm luân, đã
độ thầy trò ông tới bờ bến cuối cùng của cuộc hành trình thiên nan vạn khổ”
để nói về đạo lý đền ơn đáp nghĩa các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng thời nay.
Đó là việc ông mượn tích Trang Tử kể chuyện mổ rồng để nói về chuyện đào
tạo đại học tràn lan ở ta: đào tạo ra rất nhiều cử nhân, bác sĩ, kỹ sư,… nhưng
rốt cuộc lại không có việc làm để phân bổ, cũng như chuyện xưa kể về việc
Chu Bình Man luyện được tuyệt kỹ mổ rồng vô cùng điêu luyện, nhưng khi
trở về thì hỡi ơi, làm gì có rồng đâu mà mổ! Đó còn là việc Hoàng Phủ mượn

ta sống thêm ít năm nữa, để học Kinh Dịch, hầu không mắc lầm lỗi lớn” [91,
141].
Và tất cả những sự uyên thâm, minh triết ấy của Hoàng Phủ Ngọc Tường
lại được thể hiện qua một lối hành văn đầy tài hoa, mê đắm – kết quả của một
cái tôi trữ tình nồng nàn và đầy chất nghệ sĩ. Lật giở từng trang sách, thấy
Hoàng Phủ Ngọc Tường bao giờ cũng như trải hết lòng mình với câu chữ,
cộng thêm chất Huế nên thơ, chất triết luận huyền hoặc, những câu chữ ấy
của Hoàng Phủ Ngọc Tường bỗng trở nên quyến rũ lạ thường. Hãy lắng nghe
ông miêu tả những hạt bụi vũ trụ đã tạo nên cảnh sắc của cõi vô cùng – cõi
Cát Bụi này, từ những kiến thức vật lý khô cứng, dưới bàn tay tài hoa, ông đã
nhào nặn chúng thành một cảnh tượng quá đỗi diệu kỳ:
Có bao giờ bạn nghĩ rằng bầu trời thu xanh ngắt đến nao lòng của thi sĩ
Yên Đổ kia lại được tạo nên bởi toàn là… bụi?
Sự thực lại đúng như vậy. Vâng, chỉ toàn là bụi thôi; thậm chí nếu không
có bụi thì bầu trời trên đầu ta chỉ còn là một khoảng trống đen ngòm. Không
phải là những nguyên tử và phân tử khí, bụi vũ trụ là những hạt “rắn” nhìn
thấy được bằng kính hiển vi, tràn ngập không gian do từ trăm nghìn dạng ô
nhiễm trên trái đất hoặc giữa các ngôi sao. Tùy theo đặc tính của từng loại,
và tùy theo độ nghiêng của từng hạt bụi so với phương chiếu của tia sáng
mặt trời, bụi vũ trụ sẽ dâng tặng cho chúng ta những màu sắc đẹp mê hồn
của bầu trời. Từ cổ sơ của nền văn minh, sự minh triết của người Ấn Độ đã
gọi tên toàn bộ cảnh sắc huyền ảo ấy của thế giới là Trò Chơi Maya, tức là
Ảo Hóa (Cát bụi lộng lẫy) [91, 32].
Cái chất nghệ sĩ tài hoa trong con người Hoàng Phủ Ngọc Tường có lẽ
cũng giống như chất “ngẫu hứng” ông nhìn thấy trong con người nhà văn
Phùng Quán – một người bạn vong niên của ông. Nó khiến cho những bước
chân của ông trên cõi đời này trở thành một cuộc ngao du bất tận, nhưng lại
tiềm ẩn trong đó những ý tưởng, những sáng tạo bất ngờ. Trên trang giấy,
những phút ngẫu hứng, những phút thăng hoa của cảm xúc như thế sẽ cho ra
đời những trang viết đầy ma lực, bởi: “đó là khả năng phát kiến thế giới bằng

người đọc những bài học nhân sinh sâu sắc, những chiêm nghiệm về cuộc đời
qua những câu chuyện ngụ ý thâm thúy. Đó là những bài viết đã góp phần
làm nên phong cách của tờ Thanh niên có uy tín trong lòng bạn đọc.
3.3 Cái nhìn sắc lẻm và sức mạnh biện giải trong tạp văn Nhân trường hợp
chị thỏ bông của Phan Thị Vàng Anh
Không chỉ được biết đến như một cây bút truyện ngắn đặc sắc, với các
tập Khi người ta trẻ (1993) và Hội chợ (1995), Phan Thị Vàng Anh còn là tác
giả gây được tiếng vang ở nhiều lĩnh vực khác như thơ (Gửi VB, 2006), tạp
văn (Nhân trường hợp chị thỏ bông), và thậm chí còn “lấn sân” sang cả lĩnh
vực phim tài liệu (với bộ phim Trong phường Thành Công, có làng Thành
Công).
Nhân trường hợp chị thỏ bông là cuốn tạp văn nhỏ tập hợp 34 bài viết
chọn lọc trong số những bài viết của Phan Thị Vàng Anh, dưới bút danh
Thảo Hảo, trong khoảng thời gian tác giả phụ trách mục Tôi nghe đọc thấy
xem trên báo Thể thao - Văn hóa (từ năm 2002 đến 2004), do nhà xuất bản
Hội nhà văn xuất bản vào năm 2004. Và dù chỉ là tập hợp một số bài viết đã
đăng trên báo trước đó, song Nhân trường hợp chị thỏ bông ra đời vẫn thu
hút được sự chú ý của bạn đọc và trở thành cuốn sách rất “đắt hàng” lúc bấy
giờ.
Cũng như trong truyện ngắn, tạp văn của Phan Thị Vàng Anh luôn thể
hiện một cái nhìn sắc sảo, mới lạ, với giọng văn ngắn gọn, súc tích mà mạnh
mẽ, thâm thúy. Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ, đồng thời cũng là người viết nhiều
tạp văn đã từng nhận xét về Nhân trường hợp chị thỏ bông của Phan Thị
Vàng Anh như sau: “Đến hôm nay tôi vẫn thấy tiếc là lĩnh vực báo chí - xuất
bản nước ta chưa có một giải thưởng nào cho thể loại tạp văn, để trao tặng
“Nhân trường hợp chị Thỏ Bông”. Tôi phục Phan Thị Vàng Anh viết tạp văn
rất khéo, biết cách đưa đẩy tình huống và biết chọn văn cảnh thích hợp để
tung ra những bình luận xác đáng” [116].
Khác với các tác giả tạp văn khác, tạp văn Phan Thị Vàng Anh không có
những bài nhớ cảnh cũ người xưa, những tâm tình lan man, hay những ưu tư

muốn, mà là vì để cầm được một trong số những quyển sách ấy trên tay,
người đọc sẽ phải đi qua ba cửa ải vô cùng khó khăn. Ba cửa ải ấy được Phan
Thị Vàng Anh hình tượng hóa rất thú vị thế này: “Hệt như những truyện thần
thoại luôn luôn có ba cửa ải ngăn hiệp sĩ đi tìm công chúa, gần như thư viện
nào cũng có sự bất hợp lý của nội quy là con rồng phun lửa thứ nhất, thủ thư
khó tính là bầy rồng khạc lửa thứ hai, sự lề mề của thủ thư khi đi tìm sách là
cú quật đuôi của con rồng thứ ba” [108]. Từ một câu chuyện mà ai cũng biết
mười mươi là tay nhân viên kia đã sai, đã phạm pháp, Phan Thị Vàng Anh lại
lựa chọn một cách nhìn mới để chỉ ra những bất cập, những tồn tại cần phải
thay đổi trong cách làm việc của hầu hết các thư viện. Với cách nhìn ấy, quả
thực tác giả đã khiến người đọc phải thốt lên thán phục.
Rồi đến bài viết “Giao trứng cho ác” hay “Sự nan giải của Tí”, “Cuối cùng là
lè lưỡi”, thoạt tiên, khi đọc qua những cái tựa, người đọc có thể không mấy
hứng thú, bởi tưởng rằng đó là chuyện con trẻ, nhưng ẩn sâu phía sau đó lại
là những vấn đề nhức nhối của cả hệ thống giáo dục nước nhà.
Trong “Giao trứng cho ác”, từ thông tin trên báo Tuổi trẻ cho biết Sở Giáo
dục Đào tạo Cần Thơ ngày 21/05/2002 đã ra đề thi tốt nghiệp Tiểu học, trong
đó có một câu yêu cầu học sinh tìm từ trái nghĩa với từ “bà ngoại”. Từ câu
chuyện “lẩn thẩn” ấy, Phan Thị Vàng Anh đã có những phân tích rất sát sao,
để cuối cùng chỉ ra một thực tế vô cùng phũ phàng rằng:
Cứ tưởng tượng chừng đó con người, hàng ngày sẽ là người đưa con cái
chúng ta vào khu vườn tri thức mênh mông và mới lạ, một hôm có thể tụ tập
lại (theo lệnh triệu tập), để bàn bạc một cách nghiêm túc, xem từ trái nghĩa
với bà ngoại là gì, mà kinh. Trong số những người dự cuộc họp như vậy, có
mấy người coi chuyện đó là điên rồ, là ngớ ngẩn? Để đến nỗi sau cả một
cuộc họp như thế, cái đề thi ấy vẫn giữ nguyên. Và hôm sau, thí sinh tiểu học
vào phòng, ngơ ngác khi lần đầu trong đời biết được (bằng văn bản) là bà
ngoại cũng có đối thủ [108].
Còn sau khi đọc bài báo đưa tin về việc một cô giáo bắt học trò liếm ghế của
mình, hầu hết mọi người đều lên án gay gắt hành vi của cô giáo nọ, còn Phan

Như vậy, không biết là may hay rủi cho mày, là tao chưa thành nhà
nước [108].
Sau biết bao viễn cảnh tốt đẹp được hình thành, cái kết về thực tế khi được
làm “nhà nước” ấy chẳng khác nào một gáo nước lạnh làm trôi tuột đi những
ý tưởng hay ho kia. Câu chuyện xảy ra như một màn kịch, một câu chuyện
tếu táo, nó vừa khiến người đọc bật cười, nhưng lại thấy ngậm ngùi và có
phần cay đắng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status