Chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng (Qua một số tác phẩm tiêu biểu) - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN KỲ QUYẾT

CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN KỲ QUYẾT
CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 14
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
5. Phương pháp nghiên cứu 15

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 96
3.1. Chất thơ thể hiện trong “cấu tứ” tiểu thuyết 96
3.1.1. Giới thuyết về “tứ” và “tứ” trong tiểu thuyết 96
3.1.2. Kiểu “cấu tứ” theo sự dẫn dắt của các trạng thái tâm lí 98
2.1.3. Kiểu “cấu tứ” theo sự dẫn dắt của dòng chảy đời sống sinh sôi, hồn nhiên
103
3.2. Chất thơ biểu hiện trong ngôn ngữ 105
3.2.1. Ngôn ngữ mang phong vị xa xôi 105
3.2.2. Ngôn ngữ mang chiều sâu của suy tư và sắc màu văn hóa 108
3.2.3. Ngôn ngữ chiều sâu nội tâm 114
3.3. Chất thơ biểu hiện trong giọng điệu 118
3.3.1. Giọng triết lí, thâm trầm 118
3.3.2. Giọng trữ tình sâu lắng 121
3.3.3. Giọng đằm thắm, xót xa 126
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 134
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ma Văn Kháng là một nhà văn có nhiều đóng góp cho văn học Việt
Nam hiện đại. Bắt đầu sự nghiệp cầm bút từ những năm 60 của thế kỷ trước, đến
nay gia tài tác phẩm của Ma Văn Kháng khiến người đọc phải kính nể: 25 tập
truyện với hơn 200 truyện ngắn, ngót 20 tiểu thuyết, 1 tiểu luận, 1 hồi ký - tự
truyện. Nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng là góp phần nhận diện giá trị sáng
tác của tác giả này.
1.2. Có thể thấy trong sáng tác nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng
của Ma Văn Kháng, bút pháp trữ tình giàu chất thơ xen lẫn với bút pháp thế sự
đậm chất hiện thực sâu sắc. Trong đó, bút pháp trữ tình giàu chất thơ nổi lên như
một điểm nhấn quan trọng làm nên phong cách vừa thâm sâu mà tài hoa của nhà
văn. Nghiên cứu chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng là góp phần

công của tiểu thuyết này, tác giả Nghiêm Đa Văn nhận xét: “Ma Văn Kháng đã
dựng lại Đồng bạc trắng hoa xòe bức tranh toàn cảnh xã hội và phong tục đặc
biệt bằng hình tượng sinh động cụ thể. Điều này hiếm thấy trong các tác phẩm
viết về vùng cao Đồng bạc trắng hoa xòe là cái mốc bên đường đánh dấu sự
vươn lên của ông từ thể loại nhỏ đến quy mô có tầm sử thi” [92].
Đồng bạc trắng hoa xòe có nguồn tư liệu khá phong phú và dồi dào,
lượng nhân vật phân chia làm hai chiến tuyến rõ ràng, khi nói về vấn đề này Lã
Nguyên nhận định: “Nhân vật Ma Văn Kháng dù phức tạp đến đâu, có những
biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc ta có thể nhận diện được ngay
nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác, nhân từ, ích
kỷ hay hảo tâm” [30; 5] Dù chưa được đánh giá cao về nghệ thuật nhưng ở mức
độ nào đó, về mặt bút pháp tác phẩm cũng đã tạo nên một sức hấp dẫn đối với
người đọc, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến đánh giá: “Bút pháp trong Đồng bạc
8
trắng hoa xòe thường dùng theo lối vẽ long trong mây. Con rồng đẹp cứ giấu
mình trong mây chỉ hiện ra những khúc lượn vàng son có hạn, nhưng cho người
xem vẫn nhận được đủ cái vóc dáng mạnh mẽ, thanh thoát của toàn bộ con rồng,
lối “uống rượu sớm mai”. Độ rượu đủ để ngay ngất, quá nửa là say, dưới một
chút coi như chưa uống. Biết dừng lại để gây ngây ngất mới là người biết uống
rượu” [92].
Tiểu thuyết Vùng biên ải sự nối tiếp của Đồng bạc trắng hoa xòe đã có ý
nghĩa khẳng định thêm tài năng tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, tác giả Đỗ Ngọc
Thạch nhận định Vùng biên ải đã xây dựng: “Số lượng khá lớn tuyến nhân vật
chính diện và nhân vật quần chúng trường hấp dẫn của tác phẩm không phải ở
sự kiện mà ở chiều sâu tâm lý nhân vật [77].
Cùng viết về đề tài miền núi nhưng Gặp gỡ ở La Pan Tẩn ra đời muộn hơn
so với các cuốn trên kia. Tuy nhiên, xét về bình diện hình thức thì cuốn này xuất
sắc hơn. Nhà phê bình văn học Trần Tế có nhận xét: “Toàn bộ những vấn đề phức
tạp ở vùng cao, không riêng gì giáo dục đã được ngòi bút Ma Văn Kháng mô tả tỉ
mỉ, sinh động Yếu tố ảo bay bổng, lãng mạn đan xen trong hiện thực xô bồ phức

mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy nghĩ về nó, lo lắng,
băn khoăn về nó, và cũng hy vọng, tin yêu ở nó. Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta
một thái độ sống, một trách nhiệm sống” [83]. Nhà văn Bùi Hiển, đã chỉ rõ: “Ma
Văn Kháng thẳng thắn, mạnh bạo đề cập đến một số vấn đề xã hội đang đặt ra
trong một gia đình” [15]. Và Bùi Hiển cũng đã đánh giá thái độ của Ma Văn
Kháng trước các hiện tượng xã hội đặt ra trong tiểu thuyết: “Ngòi bút của tác giả
phanh phui một cách vừa tỉnh táo vừa da diết quá trình sa đọa tư tưởng, nhân cách
và lối sống của một vài trường hợp điển hình, đồng thời bày tỏ niềm tin tưởng, ưu
ái đối với những con người trung thực, thẳng thắn và giữ được lý tưởng cao đẹp xã
hội, truyền thống dân tộc thuần hậu, vững bền” [15].
Mùa lá rụng trong vườn không những thể hiện được những mặt trái của
nền kinh tế thị trường ảnh hưởng mạnh tới tư tưởng, tình cảm và nhân cách của
10
con người. Bên cạnh đó, tiểu thuyết này cũng dự báo về tương lai và những
thách thức số phận của cá nhân trong môi trường xã hội mới, trong mối quan hệ
với gia đình. Tác giả Trần Bảo Hưng qua bài viết Mùa lá rụng trong vườn và
những vấn đề của cuộc sống hôm nay cho rằng: “Qua Mùa lá rụng trong vườn
Ma Văn Kháng muốn đề cập hai vấn đề lớn: truyền thống văn hóa dân tộc và
truyền thống nếp sống của gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng với
xã hội mới. Giữ vững tất cả sẽ không tránh khỏi sự đổ vỡ, sứt mẻ nhưng muốn
thoát ly truyền thống, phá vỡ tất cả sẽ dẫn đến bi kịch” [18].
Tiếp tục mạch cảm hứng về đề tài thành thị, Ma Văn Kháng cho ra đời
tiểu thuyết mang tính luận đề Đám cưới không có giấy giá thú, cuốn sách đánh
dấu những đổi mới và đóng góp của tác giả ở mảng tiểu thuyết. Khi mới ra đời
cuốn sách đã nhận được không ít sự ngợi ca lẫn phê phán. Tác phẩm đề cập đến
thân phận của người trí thức trong xã hội Việt Nam những năm đầu Đổi mới, tại
một môi trường giáo dục. Nhưng những gì gọi là tài năng, nhân cách đều bị phủ
nhận, bị chèn ép và bị coi thường. Môi trường giáo dục không trong sạch đã đẩy
biết bao số phận trí thức vào bi kịch. Tuy đề cấp đến một phạm vi không lớn lắm
nhưng tác phẩm lại có tính điển hình hóa cao độ cho chính ngành giáo dục. Phan

Đánh giá chung tiểu thuyết của Ma Văn Kháng khi chuyển cảm hứng viết
về đề tài thành thị, Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng: “Đã đạt đến trình độ điêu
luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc thoại, giọng điệu linh hoạt, khi
gấp gáp, sôi nổi, cuồn cuộn, tung phá, lúc lại thong thả, mềm mại, đằm thắm,
hiền hòa đã trở thành một thực thể sống động có sức sống mạnh mẽ” [87]. Sự
chuyển biến trong cảm hứng song song với cách viết của Ma Văn Kháng thể
hiện rõ nét trên tất cả các phương diện nghệ thuật. Nhiều tác giả cho rằng sự
chuyển biến rõ nhất là việc xây dựng hình tượng nhân vật, họ là những thực thể
tồn tại trong xã hội có quan hệ mật thiết với môi trường xã hội và phức tạp hơn,
tính đa diện được chú ý nhiều hơn. Đồng nhất với quan điểm này, Nguyễn Thị
12
Huệ nhận định: “Phong phú, đa dạng hơn, phức tạp hơn không chỉ có công nông
binh mà còn có tầng lớp thị dân, đặc biệt là nhân vật trí thức đã như một ám ảnh
khôn nguôi, một trăn trở day dứt, một ma lực có sức thu hút lớn đối với ngòi bút
Ma Văn Kháng” [25]. Ở giai đoạn sáng tác thứ hai của Ma Văn Kháng, mặc dù
một số tác phẩm nặng tính chất triết luận, luận đề nhưng không vì thế mà tiểu
thuyết của ông thiếu đi chất thơ và chất trữ tình, nghiên cứu nội dung này Hồ
Anh Thái đã có nhận định khá xác đáng: “Những trang hay nhất đều là trữ tình:
Khiêm đi về trung du giữa mùa lũ, Hoan lên miền ngược tới vùng trồng thuốc
phiện Anh cứ tách được nhân vật ra khỏi cái không khí văn phòng đầy thịnh nộ
thì bản thân anh như cũng linh hoạt, phơi phới hẳn lên” [79].
Trên phương diện nghiên cứu tổng thể sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng còn khá nhiều công trình có thể điểm qua như bài viết “Trữ lượng Ma
Văn Kháng” đăng trên báo Văn nghệ, số 20, 21 tháng 05 năm 2005. Đây là công
trình có cái nhìn khá toàn diện về sáng tác và con người Ma Văn Kháng lý giải
trên nhiều phương diện, đặc biệt là sự tác động sâu sắc của môi trường bên ngoài
đến vận mệnh người trí thức; nét độc đáo trong sáng tác của Ma Văn Kháng đặc
biệt là thế giới nhân vật; bài “Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma
Văn Kháng những năm 80” của Nguyễn Thị Huệ, tập trung nghiên cứu tổng
quan sáng tác của Ma Văn Kháng và phát hiện ra sự chuyển dịch từ cái nhìn sử

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này được xác định là chất thơ trong tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng
3.2. Phạm vi khảo sát
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát các tiểu thuyết sau:
- Đồng bạc trắng hoa xoè (1980)
- Mưa mùa hạ (1982)
14
- Vùng biên ải (1983)
- Mùa lá rụng trong vườn (1985)
- Đám cưới không có giấy giá thú (1989)
- Côi cút giữa cảnh đời (1989)
- Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001)
- Một mình một ngựa (2009)
Ngoài ra chúng tôi khảo sát thêm các tiểu thuyết khác của nhà văn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Lí giải khái niệm chất thơ, vai trò của chất thơ trong tiểu thuyết và
một tổng quan về chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng.
4.2. Tìm hiểu chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên các
phương diện đề tài, cảm hứng sáng tạo.
4.3. Chỉ ra chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên các phương
diện kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, khảo sát,
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh.
6. Cấu trúc của luận văn
Tương ứng với mục đích, nhiệm vụ đã đề ra, ngoài Mở đầu, Kết luận và
Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:

trong sự phát triển của lịch sử thể loại, bởi sự vận động của hình thức văn học
nào cũng dần đi đến ổn định phát triển và kết thúc, khuynh hướng đó trở thành
một quy luật tất yếu, diễn ra cả một quá trong lâu dài và mang theo những đặc
trưng thẩm mỹ khác biệt của thể loại nhưng cơ bản có thể nhận thấy các trường
16
hợp sau: nội dung các thể loại khác nhau được viết với hình thức thể loại khác;
sự kết hợp của các thể loại tạo thành một thể loại mới; các đặc trưng của thể loại
này xuất hiện trong thể loại khác. Khả năng tổng hợp cao của tiểu thuyết cho
phép kết hợp một cách tự nhiên, hài hòa các yếu tố khác để làm cho tiểu thuyết
không khô cứng, đông đặc mà mềm mại, uyển chuyển hơn trong tiến trình phát
triển của nó. Đó còn là khả năng trữ tình hóa, yếu tố chất thơ đan cài trong chất
văn xuôi tạo nên những sắc màu thẩm mỹ mới đem đến cho tiểu thuyết khả năng
tiếp cận cuộc sống được phong phú và đa dạng hơn, khả năng uyển chuyển khi
xây dựng hình tượng và tính dân chủ của thể loại này, theo Phan Cự Đệ: “Trong
tiểu thuyết các màu sắc thẩm mỹ pha trộn, đan chéo nhau, chuyển hóa lẫn nhau,
có khi trong một yếu tố tự sự có pha lẫn cái cao cả và cái thấp hèn, cái đẹp và cái
xấu, chất thơ và chất văn xuôi” [8,409]. Như vậy, có thể thấy rằng trong quá
trình phát triển các phương thức biểu hiện đời sống, thông qua thể loại có sự giao
thoa, pha trộn, thẩm thấu vào nhau tạo nên hiện tượng có tính quy luật trong sự
phản ánh của văn chương thẩm mỹ.
Chất thơ trong tiểu thuyết nói riêng và trong các thể loại văn học khác
nói chung không nằm ngoài vấn đề đã nêu trên. Trước hết nói về: “Chất văn
xuôi, tức là một sự tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lý tưởng
hóa. Miêu tả thực tại cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành”
[13; 269], không đồng nghĩa sự lãng mạn, lý tưởng hóa sẽ làm giảm chất văn
xuôi, những yếu tố này vốn có trong các thể loại trong quá khứ, các tác phẩm
bám sát diễn biến thực tại, tập trung khám phá chiều sâu của sự sống trong lăng
kính đa chiều, chất văn xuôi là một thành tố quan trọng làm nên diện mạo của
tiểu thuyết hiện đại. Nói như thế không có nghĩa là những cái gì có trong cuộc
sống được đưa vào tiểu thuyết đều có “chất văn xuôi”. Tiểu thuyết, xét dưới

khả năng bao quát được nội dung chất thơ trong tiểu thuyết. Nói đến chất thơ
người ta xét biểu hiện của nó trên các phương diện như: loại hình, mỹ học, cảm
18
hứng và trong hình thức nghệ thuật.
Trên phương diện loại hình, chất thơ mang đặc trưng của thể loại trữ tình,
phân biệt với các thể loại tự sự và kịch căn bản dựa trên phương thức phản ánh đời
sống của chúng. Trong đó thơ thuộc vào thể loại trữ tình, dù phản ánh sự vật hiện
tượng ngay trong bản thân nội tại hay thẩm thấu đều mang vai trò của một hình
thức giao thoa thể loại thì căn bản nó vẫn mang đặc trưng của loại hình trữ tình.
Nói đến nội dung này tức là đề cập đến cách thức biểu hiện tư tưởng tình cảm
riêng mang tính đặc thù của thơ. Bên cạnh đó, thơ còn thể hiện sự hàm súc, cô
đọng, ngôn ngữ giàu nhịp điệu. Chất thơ chỉ có thể được biểu hiện và bộc lộ phẩm
chất thẩm mỹ mang tính loại hình khi bản thân đối tượng hàm chứa vẻ đẹp dựa
trên sự phản ánh, cách thức giải thích thế giới giàu ý nghĩa xã hội.
Trên phương diện mỹ học, thơ kết tinh cái đẹp của cảm xúc đem lại cho
con người những xúc cảm nên thơ, nhà thơ người chắt lọc cuộc sống qua lăng
kính chủ quan của mình đem lại cho thơ vẻ đẹp nhân văn cao cả, hiện lên vẻ đẹp
của tình người và cuộc sống. Thơ dù miêu cả các phương diện khác nhau trong
cuộc sống thì phải được rọi soi từ phương diện của cái đẹp mang tính lý tưởng
thẩm mỹ. Nhiều học giả khẳng định tính chất lý tưởng, cái đẹp biểu hiện trong
thơ ca với chức năng và vai trò to lớn với sự phát triển của con người, thơ là cái
đẹp duy nhất giàu tính mỹ học có khả năng cứu rỗi thế giới: “Thứ duy nhất có
thể cứu được thế giới đó là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của
thi ca” (Allen Ginsberg). Nêu cao tầm quan trọng của thơ ca khả năng cảm hóa
con người, nuôi dưỡng đời sống tâm hồn con người George Sand cho rằng:
“Người tìm được niềm vui sướng cao quý từ những cảm xúc của thi ca là thi
nhân thực thụ, cho dù anh ta không viết được dòng thơ nào trong cả cuộc đời”.
Không những trên phương diện cảm xúc và nhận thức, Bôđơle còn quan niệm
thơ ca là: “Ước mong của con người vươn tới cái đẹp cao thượng”,…
Trên phương diện cảm hứng sáng tác, chất thơ biểu hiện trên cả phương

20
trong những chất liệu huyền thoại được nhà văn công khai sử dụng. Và đương
nhiên cả tính thơ và tính triết lý còn được thể hiện trong hình tượng nhân vật.
Hầu như tiểu thuyết nào cũng có cách biểu đạt này” [12], không những là nhu
cầu mà còn thể hiện khát vọng biểu đạt. Nội dung này phản ánh sự tất yếu của
chất thơ trong tiểu thuyết là có cơ sở về mặt lý luận M. Bakhtin khẳng định:
“Trước sự có mặt của tiểu thuyết, tất cả các thể loại đều âm vang một cách khác.
Bắt đầu cuộc đấu tranh dai dẳng để tiểu thuyết hóa các loại khác, lôi cuốn chúng
vào khu vực tiếp xúc với cái hiện thực đương dang dở. Con đường đấu tranh ấy
còn đang phức tạp và dang dở” [2; 75]. Điều này khá rõ trong các tiểu thuyết
lãng mạn của Tự lực văn đoàn khi nó thẫm đẫm chất nhân văn trong việc lên
tiếng đấu tranh với lễ giáo, đề cao ý thức, tư tưởng, tình cảm của con người -
những cái thuộc về con người trước đó chìm khuất trong bóng tối của lề luật.
Tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 mang khuynh hướng sử thi, đề cao con người
mang phẩm chất cao đẹp cả trong nội dung lẫn hình thức, trong nỗ lực hướng
đến cái cao cả của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Một phương diện khác, các nhà tiểu thuyết hiện đại còn thể hiện nhu cầu
phản ánh cuộc sống vừa có cái ngổn ngang, bề bộn, vừa giàu chất nhân văn,
nhân ái mang tính truyền thống của người Việt Nam, điều này như một đặc tính
tất yếu, nhu cầu phản ánh chất thơ là: “Lý tưởng và khát vọng của động đảo
nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn
khách quan cho chất thơ chân chính ở mọi thời đại” [13; 254]. Trong giai đoạn
nhân dân ta thực hiện hai cuộc trường chinh vĩ đại, chất thơ còn được bồi đắp
bởi điều kiện khách quan tác động, giúp nhà văn hướng theo để kịp thời phản
ánh tầm vóc tự hào của dân tộc: “Đảng luôn chủ trương tính hiện thực gắn với
tính đảng, tính hiện thực gắn với tính lý tưởng, chức năng nhận thức thẩm mỹ
với chức năng giáo dục văn nghệ” [8; 108]. Và sự tác động của đường lối đó đã
mang đến cho tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này phẩm chất lý tưởng, chất thơ
hòa quyện trong chất tiểu thuyết, chất sử thi. Sau 1975, với việc trở lại với con
21

thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, người viết xin được điểm qua một vài
biểu hiện của chất thơ trong thời kỳ trước đó, nhằm đưa ra một cách đánh giá
khái quát hơn về vấn đề này.
Thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm, tiểu thuyết sử thi phát triển mạnh,
trên cấp độ cảm hứng: chất anh hùng ca, lý tưởng, hòa quyện với chất thơ tạo
nên diện mạo đặc biệt cho thể loại này. Tiểu thuyết thấm đẫm lý tưởng thời đại,
đề tài và chủ đề về đất nước, dân tộc, nhân dân và người anh hùng. Khúc hát
ngợi ca lý tưởng được cất lên từ chính đội ngũ sáng tác: “Một thế hệ nhà văn
kiểu mới của cách mạng, vừa là chiến sỹ, vừa là nghệ sỹ, luôn có mặt ở những
mũi nhọn của cuộc sống, những con người tiêu biểu cho một nền nghệ thuật còn
tươi ròng cuộc sống, một nền nghệ thuật thấm đẫm mồ hôi, máu và thuốc súng,
một nền nghệ thuật chân chất đẹp, khỏe như những chàng trai đang độ lớn” [8;
96]. Những trang viết của đội ngũ này, bên cạnh hiện thực khốc liệt của khói lửa
còn có những trang viết tươi xanh, giàu chất thơ làm xao xuyến người đọc khiến
người ta phần nào quên đi những nhọc nhằn, đau xót của chiến tranh, làm nên
dáng hình riêng biệt trong cách cảm nhận cuộc sống của mỗi nhà văn. Tiêu biểu
như Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Tưởng,… Với nhiều tiểu
thuyết đỉnh cao có giá trị dẫn đường. Điển hình có Đất nước đứng lên của
Nguyên Ngọc, khi nói về tiểu thuyết này Phan Cự Đệ cho rằng: “Chất thơ và
chất anh hùng ca quyện lẫn đã tạo cho ngòi bút Nguyên Ngọc một phong cách
riêng, hoàn toàn độc đáo” [8; 104]. Chất thơ được biểu hiện ở lý tưởng chiến đấu
của những người Kông Hoa với bọn Pháp, lý tưởng đó được hiện thực hóa trong
từng việc làm với quyết tâm bám bản để đánh Pháp đến cùng. Đó là cuộc đương
đầu vĩ đại của nhân nhân ta giữa một bên phương tiện khí tài chiến tranh hiện đại
còn bên kia chỉ có tấm lòng và lý tưởng đấu tranh cho khát vọng tự do cháy bỏng
trong tâm hồn của mỗi người dân. Miền Tây của Tô Hoài giàu chất thơ, chất
nhạc, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng yếu tố hiện thực mang trên
23
mình đôi cánh lãng mạn, tính hiện đại, chiều sâu của lịch sử, tầm khái quát sử thi
kết hợp với cách miêu tả tâm lý khá phức tạp và tinh tế, tất cả hoàn quyện vào

Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng),
Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), và các tiểu thuyết ra đời
muộn hơn như: Những đứa trẻ chết già, Vào cõi, Người đi vắng (Nguyễn Bình
Phương), Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Cơ
hội của chúa (Nguyễn Việt Hà), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy
Anh), Hầu hết các tiểu thuyết được viết từ khi đổi mới đều có cái nhìn thực tế
vào đời sống đang diễn ra, mổ xẻ hiện thực xã hội và thân phận của con người
với nhiều kỹ thuật viết hiện đại do ảnh hưởng văn học phương Tây. Tính muôn
mặt của cuộc sống được phản ánh trong tiểu thuyết đã sự đa dạng trong hình
thức biểu hiện: sự thâm nhập của các thể loại, sự nới lỏng, mờ hóa cốt truyện,
giản tiêu nhân vật, sự đan xen các bè ngôn ngữ, sự pha trộn các yếu tố thực -
ảo, phi lý - hữu lý Chất thơ trong tiểu thuyết thời kỳ này cũng rất phong phú,
đa dạng, nó không đơn thuần là thứ chất thơ thấm đẫm sâu sắc màu lý tưởng và
tính sử thi, và dường như vì thế mà chất thơ trở thành một thành tố quan trọng
trong cảm hứng tư tưởng và hình thức của tác phẩm. Và điều này minh chứng
cho nhu cầu tất yếu cũng như tính muôn mặt và không đứng yên của tiểu thuyết
đương đại Việt Nam. Chất thơ được biểu hiện trong mọi phương diện từ cảm
hứng sáng tạo, đến đề tài, chủ đề và tư tưởng của nhà văn, nói như thế không
có nghĩa là tiểu thuyết đơn thuần mang tư duy thơ trong bản thân nó, nhà văn
không cực đoan hóa theo lối cải lương chỉ chú trọng biểu hiện nội dung này
trong tác phẩm của mình mà nó là một phương diện thể hiện trong hình thức tổ
chức văn bản và trong nội dung biểu đạt của tác phẩm. Chất thơ còn khoác lên
tiểu thuyết chiếc áo của một kiểu tư duy phức hợp thời hiện đại, chiếc áo có
nhiều hoa văn, gợi cho người đọc thấy dáng điệu thẩm mỹ nhiều xúc cảm
không những trong phương diện tư tưởng, tình cảm mà còn thể hiện tính mới
25

Trích đoạn Bi kịch của con người trong cái hỗn độn, hỗn mang của hiện tại Bi kịch của con người đối diện với chính mình Giới thuyết về “tứ” và “tứ” trong tiểu thuyết Ngôn ngữ mang phong vị xa xôi Ngôn ngữ chiều sâu nội tâm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status