Luận văn Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Ở đó, tài năng, cảm xúc của người
nghệ sĩ được thăng hoa. Tác phẩm của họ là kết quả của cả một quá trình “lao
tâm khổ tứ”, là đứa con tinh thần mà nhà văn đã “thai nghén” . Điều đặc biệt và
thú vị là cùng phản ánh cuộc sống nhưng tác phẩm văn học lại có muôn màu
muôn vẻ, với những phương thức phản ánh khác nhau. Và tự sự là một trong
những phương thức biểu đạt thông dụng mà văn học chọn dùng để phản ánh
cuộc sống, nó là “ phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” (Jonathan
Culler). Trong tự sự, vai trò của người trần thuật rất quan trọng vì “ kỹ thuật”
trần thuật là một trong những yếu tố hình thức lôi cuốn độc giả. Do vậy, gần đây
hiện tượng gây sự chú ý thu hút của các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu
phê bình là ở vấn đề cách kể như thế nào hơn là kể cái gì.
Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nguyễn Quang Sáng có những
đóng góp đáng kể. Những tác phẩm truyện ngắn của ông gây được ấn tượng sâu
sắc trong lòng người đọc, làm phong phú thêm bức tranh truyện ngắn Nam Bộ
nói riêng, truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung. Tìm hiểu truyện ngắn của
ông, ta có thể hiểu thêm về cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, hiểu thêm
về bản sắc con người Nam Bộ và con người Việt Nam. Vì thế, nghiên cứu
truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng nói chung, nghệ thuật trần thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Quang Sáng nói riêng sẽ giúp chúng ta hiểu hơn bức tranh truyện
ngắn Nam Bộ và truyện ngắn Việt Nam cả trước và sau 1975.
1.2. Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn có cá tính sáng tạo độc đáo.
Trong dàn đồng ca của văn xuôi sử thi thời kỳ chống Mỹ, Nguyễn Quang Sáng
1
vẫn có cách viết riêng của mình. Sau 1975, ông vẫn tiếp tục sáng tác và có những
tác phẩm thành công. Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của
nhà văn, chúng ta sẽ hiểu hơn cá tính sáng tạo, tài năng, phong cách của một cây
bút văn xuôi khá nổi tiếng trên văn đàn. Tài năng nhà văn, như chúng ta biết,
không chỉ thể hiện ở việc anh ta kể cái gì mà quan trọng hơn là kể như thế nào.
Hướng nghiên cứu về trần thuật sẽ là cơ hội để người viết tiến hành tìm hiểu các

Tuy chưa gọi là đúng khái niệm điểm nhìn trần thuật nhưng một số ý kiến
cũng đã đề cập đến phương diện này, dù ở những mức độ khác nhau.
Phạm Văn Sỹ trong cuốn Văn học giải phóng miền Nam (1979) khẳng
định: “Nguyễn Quang Sáng được chú ý hơn hết với những truyện ngắn viết về
cuộc sống của người dân Nam Bộ trong chiến tranh. Đó là những bức tranh khác
nhau thể hiện những vẻ đẹp khác nhau của dân thường, người cán bộ cơ sở,
người chiến sĩ giải phóng. Tác giả tỏ ra nhạy cảm trong việc nắm bắt những sự
kiện tiêu biểu, tinh tế trong việc khai thác tính cách của con người Nam
Bộ”[57,32].
Vân Thanh trong bài Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cho rằng: Truyện
ngắn Nguyễn Quang Sáng tuy đậm tính kịch nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình.
Truyện ngắn của anh đi vào từng mảng nhỏ của đời sống, làm cho ta thấy sự kết
hợp giữa chất anh hùng cao cả và chất thơ trong trẻo, đơn giản ( ) Nguyễn
Sáng không có tham gia bình phẩm nhưng xúc động của người viết thường vẫn
không giấu được ”[60,81].
3
Trong Chân dung và đối thoại, Trần Đăng khoa đã phác hoạ “chân dung”
Nguyễn Quang Sáng: “ Đọc Nguyễn Quang Sáng, không hiểu sao tôi cứ hình
dung nhà văn có nét gì đó na ná giống anh Bảy Ngàn ( ). Con người ấy hình
như vừa đơn giản, sơ lược, lại vừa phức tạp đến bí hiểm. Hình như đó là một
phần của quê hương Nam Bộ, do thiên nhiên chắt ra, bởi thế có lúc hồn nhiên
như cỏ dại, có lúc ưa ngạnh như vách đá ( ). Văn Nguyễn Quang Sáng nó tự
nhiên, phóng túng, ngang tàng, pha một chút vui vui, tếu tếu, là cái hóm, cái
duyên riêng của người Nam Bộ, cũng là nét đặc sắc Nguyễn Quang Sáng, là
đóng góp riêng của ông vào nền văn học. Nếu nói mỗi nhà văn phải trả cho được
“món nợ đời” thì Nguyễn Quang Sáng xem như không còn “mắc nợ” nữa.
“Nguyễn Quang Sáng ( ) là một cây bút truyện ngắn lão luyện. Cái tài của
Nguyễn Quang Sáng là ở khả năng dựng truyện, ở kết cấu độc đáo, ở lối kể hấp
dẫn, Nguyễn Quang Sáng là cây bút truyện ngắn có ma lực, gây được ấn
tượng”[19,287].

Với bài viết Vài phút với Nguyễn Quang Sáng (2000), nhà văn Trần Đăng
Khoa cho rằng: “ Trong hơi văn của Nguyễn Quang Sáng nó sục lên mùi vị của
sông nước Tháp Mười , cả cái chất đậm đặc không thể trộn lẫn”.
Như vậy, về phương diện nội dung, ý nghĩa xã hội của truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng, hầu như các ý kiến đều khẳng định đóng góp của Nguyễn
Quang Sáng “cách kể chuyện” trong tác phẩm. “Cách kể chuyện” được thể hiện
ở trang viết về tính cách và tâm hồn con người miền Nam trong chiến tranh cùng
dấu ấn văn hóa đặc sắc của vùng Nam Bộ .
2.3 Một số ý kiến về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng
5
Trần Hữu Tá sau khi đọc truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang
Sáng đã nhận xét: “Nguyễn Quang Sáng có một phong cách viết truyện ngắn độc
đáo. Truyện thường lắm tình huống bất ngờ, ngẫu nhiên nhưng tự nhiên, giàu chi
tiết sống động và kỳ diệu nhưng hợp lý, tính kịch rất nỗi nhưng cũng đậm đà
chất trữ tình”.
Vân Thanh trong bài Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cho rằng:
“Nguyễn Quang Sáng vốn là cây bút khéo sử dụng các yếu tố ngẫu nhiên, nhưng
đó là cái ngẫu nhiên tự nhiên, có thể xảy ra, đóng vai trò là chất xúc tác thật sự
đẩy các tình huống phát triển ( ). Truyện ngắn Nguyễn Quang sáng tuy đậm
tính kịch nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình. Truyện ngắn của anh đi vào từng
mảng nhỏ của đời sống, làm cho ta thấy sự kết hợp giữa chất anh hùng cao cả và
chất thơ trong trẻo, đơn giản.
Trong Chân dung và đối thoại, Trần Đăng khoa đã phác hoạ “chân dung”
Nguyễn Quang Sáng: “ Đọc Nguyễn Quang Sáng, không hiểu sao tôi cứ hình
dung nhà văn có nét gì đó na ná giống anh Bảy Ngàn ( ). Con người ấy hình
như vừa đơn giản, sơ lược, lại vừa phức tạp đến bí hiểm. Hình như đó là một
phần của quê hương Nam Bộ, do thiên nhiên chắt ra, bởi thế có lúc hồn nhiên
như cỏ dại, có lúc ưa ngạnh như vách đá ( ). Văn Nguyễn Quang Sáng nó tự
nhiên, phóng túng, ngang tàng, pha một chút vui vui, tếu tếu, là cái hóm, cái
duyên riêng của người Nam Bộ, cũng là nét đặc sắc Nguyễn Quang Sáng, là

7
Nguyễn Quang Sáng: Năm 1954, tập kết ra Bắc, tôi mang theo. Đơn vị tôi
đóng ở Thanh Hóa. Đây là thời điểm tôi thực sự bắt đầu tiếp xúc với văn học.
Tôi đọc như người bị đói sách. Tôi được đọc qua các tác phẩm Người mẹ của
Gorki, Thép đã tôi thế đấy của Ôxtrôpki cùng truyện của Nguyễn Công Hoan,
Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài đọc của các bậc đàn anh, tôi thấy tiểu
thuyết của mình quá dỡ, chưa thể trở thành một tác phẩm văn học. Nhìn lại 300
trang viết tay chỉ mới là tư liệu, chưa phải là văn.
Phan Hoàng: Chính vì vậy, anh chuyển sang “thử mình” bằng thể loại
truyện ngắn!
Nguyễn Quang Sáng: Đúng vậy! Tôi quyết định viết truyện ngắn để luyện
tay nghề, sau đó sẽ sửa chữa lại cuốn tiểu thuyết. Lúc đó, tôi đang là vô địch
bóng bàn của sư đoàn, được cấp trên gợi ý đưa ra Hà Nội đào tạo vận động viên,
do Tổng cục Thể dục thể thao tuyển chọn. Mới ra miền Bắc, nằm ở một làng quê
Thanh Hóa, người nào mà không muốn ra Hà Nội. Nhưng tôi không đi, quyết ở
lại để viết văn. Đến năm 1955, tôi chuyển ngành với cấp bậc chuẩn úy về làm
biên tập văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam. Ra Hà Nội, tôi nghĩ muốn sửa cuốn
tiểu thuyết đòi hỏi phải có thời gian tập trung và cần có sự ủng hộ của Hội nhà
văn, mới viết được. Hội viên nhà văn bây giờ, mỗi năm được nghỉ ba tháng để đi
viết. Tôi bắt tay viết truyện ngắn đầu tiên Con chim vàng để “trình làng” với làng
văn Hà Nội.
Phan Hoàng: Nghĩa là tác phẩm đầu tiên của anh là một tiểu thuyết, còn
tác phẩm ra mắt đầu tiên là truyện ngắn. Vâng, có thể nói Con chim vàng là một
trong những truyện ngắn hay nhất của anh. Nó hấp dẫn bạn đọc không chỉ ở bố
cục, mà còn bằng hình ảnh buồn và gợi cảm xuyên suốt như một tứ thơ.
Nguyễn Quang Sáng: Tôi nhớ khi Con chim vàng vừa xuất hiện trên báo
Văn nghệ, nhiều người nói rằng đây là cây bút viết được truyện ngắn. Nó được
8
dịch ra ngay bản tiếng Pháp. Bấy giờ, đang thời kỳ cải cách ruộng đất, đề tài văn
học chủ yếu là người nông dân; và tôi hướng đề tài ấy về đề tài thiếu nhi. Hưng

văn đậm chất Nam Bộ này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chọn nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng làm đối tượng nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Quang Sáng đã xuất bản rất nhiều tập tiểu thuyết, truyện vừa,
truyện ngắn, bút ký, kịch bản phim. Gần đây nhất Nguyễn Quang Sáng đã cho in
bút ký Nhà văn về làng do Nxb Văn nghệ ấn hành. Do tính chất và yêu cầu của
vấn đề nghiên cứu chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát truyện ngắn của Nguyễn
Quang Sáng , những thể loại khác sẽ tham khảo khi cần thiết.
Văn bản khảo sát là :
Nguyễn Quang Sáng tuyển tập (Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh - 2001)
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn khảo sát nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang
Sáng để khẳng định một cá tính, một tài năng văn chương mang đậm dấu ấn
Nam Bộ.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
10
4.2.1. Khảo sát về sự nghiệp sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng,
chúng tôi muốn có một cái nhìn bao quát về sáng tác Nguyễn Quang Sáng để có
cơ sở khẳng định đúng vai trò, vị trí nhà văn trong nền văn xuôi hiện đại Việt
Nam.
4.2.2. Phát hiện ra các phương thức trần thuật cơ bản của nhà văn ở các
phương diện: cách chọn góc nhìn với điểm nhìn trần thuật, các nhịp điệu trần
thuật để thấy được mô hình trần thuật tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng.
4.2.3. Tìm hiểu giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật để tìm ra các yếu tố cơ bản
làm nên nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng.
5. Phương pháp nghiên cứu

Sáng trong bức tranh truyện ngắn Việt Nam hiện đại
Chương 2. Điểm nhìn và nhịp điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Quang Sáng
Chương 3. Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Quang Sáng
12
Chương 1
KHÁI QUÁT SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ VỊ TRÍ CỦA TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN QUANG SÁNG TRONG BỨC TRANH TRUYỆN NGẮN
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Sáng
1.1.1. Vài nét về cuộc đời Nguyễn Quang Sáng
Nguyễn Quang Sáng còn có bút danh là Nguyễn Sáng, sinh ngày 13.01.1932.
Quê ở làng Mỹ Luông, Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang). Ông
sinh trong một gia đình thợ thủ công, cha làm nghề thợ bạc.
Là người con của An Giang - mảnh đất sinh ra nhiều tài năng như: Chủ tịch
nước Tôn Đức Thắng, nhà cách mạng Ung Văn Khiêm, cố Bộ trưởng bộ Y tế
Nguyễn Văn Hưởng và nhiều tài năng văn nghệ như Anh Đức, Hoàng Hiệp,
Nguyễn Đăng Bạch, . . . Nguyễn Quang Sáng đã được thừa hưởng nhiều nguồn
văn hóa dân gian Việt - Hoa - Khmer - Chăm, thừa hưởng cả một kho tàng văn
học, văn nghệ dân gian phong phú, đó là các truyện dân gian phản ánh quá trình
khai phá đất đai, gắn liền với những danh thắng, di tích và nhân vật lịch sử; đó là
kho tàng ca dao và dân ca với các điệu hò, điệu lý v.v . . . Đặc biệt, hát vọng cổ
và đờn ca tài tử được người Nam Bộ rất ưa thích. Đờn ca tài tử phát sinh từ Gia
Định rồi lan đến các tỉnh miền Tây, là một trong những cội nguồn của nghệ thuật
cải lương – loại hình sân khấu mới ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX. Người
Khmer Nam Bộ cũng có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú bao gồm
nhiều thể loại như truyện cổ tích (rương prêng), thần thoại (rương boran), tục
ngữ (sopheaset) . . .Bên cạnh đó, là người con Nam Bộ, nhà văn Nguyễn Quang
Sáng rất đỗi quen thuộc với văn hóa ẩm thực của từng tộc người (cơm – canh –

1968); Bông cẩm thạch (truyện ngắn, 1969); Cái áo thằng hình rơm (truyện vừa,
1975); Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975); Người con đi xa (truyện ngắn, 1977);
Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985); Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện ngắn,
1985); Tôi thích làm vua (truyện ngắn, 1988); 25 truyện ngắn (1990); Paris-
tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990); Con mèo Foujita (truyện ngắn, 1991).
Về kịch bản phim: Mùa gió chướng (1977); Cánh đồng hoang (1978); Pho
tượng (1981); Cho đến bao giờ (1982); Mùa nước nổi (1986); Dòng sông hát
(1988); Câu nói dối đầu tiên (1988); Thời thơ ấu (1995); Gữa dòng (1995); Như
một huyền thoại (1995).
Nguyễn Quang Sáng vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học: Ông
Năm Hạng – truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất
(1959); Tư Quắn – truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn
nghệ Quân Đội (1959); Dòng sông thơ ấu – tiểu thuyết, giải thưởng Hội đồng
văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985); Con mèo Foujita – tập truyện ngắn, giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1993); Cánh đồng hoang (kịch bản phim) bộ
phim được tặng Huy chương vàng tại Liên hoan phim Matxcơva (1981); Mùa
gió chướng (kịch bản phim), huy chương bạc Liên hoan phim toàn quốc (Hà
Nội, 1980).
Nhìn chung, sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Quang Sáng đạt nhiều
thành tựu phong phú. Có thể thấy lý tưởng và nội dung yêu nước, yêu chủ nghĩa
xã hội là đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng. Sáng tác của
Nguyễn Quang Sáng dù ở thể loại nào cũng mang tính nhân dân sâu sắc, mang
đậm hơi thở của cuộc chiến đấu chống Mỹ, thể hiện rõ lòng cảm thương và tôn
15
trọng nhân dân. Ông xứng đáng là nhà văn lớn, có đóng góp xuất sắc cho nền
văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX.
1.2. Vị trí truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trong bức tranh truyện ngắn
Việt Nam hiện đại
So với mảng truyện viết về kháng chiến chống Pháp, mảng truyện viết về
cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc (1955-1975) đã nhiều lên về số lượng.

Dường như ông tựa hẳn vào tình cảm để viết. Vì thế mà ông đắm đuối với câu
chuyện, với nhân vật, nhập thân vào đó – cái nét này người đọc dễ nhận ra trong
Ông Năm Hạng, Chiếc lược ngà, Chị xã đội trưởng, Bông cẩm thạch, Người dì
tên Đợi, Tím bằng lăng . . .
Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trước 1975, cốt truyện thường hấp
dẫn, chi tiết chọn lọc, tình huống đặc sắc và kịch tính cao. Trong những truyện
ngắn như thế, tác giả đã biết dồn nén tình thế làm gia tăng yếu tố bất ngờ hấp dẫn
của tác phẩm. Chị xã đội trưởng là một trường hợp tiêu biểu của lối viết này.
Nhân vật chính là Dung – nữ xã đội trưởng dũng cảm và xinh đẹp đã bày đặt ra
chuyện rắc rối để thử thách người yêu của mình. ‘Sống trong cuộc sống chiến
đấu đầy bom đạn, chẳng biết lúc nào mình bị hy sinh, bị tàn tật, nhưng điều đó
không ám ảnh chị. Chị vẫn sống một cách bình thường, vẫn yêu, yêu một cách
rắc rối và hồn nhiên như vậy đó – và đó là sức mạnh của chị”. Truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng trước 1975, như người ta nói “ròng ròng sự sống”, một sự
sống đa dạng lắm sắc màu, có tiếng khóc và tiếng cười, có khổ đau và hy vọng.
Một cuộc sống biến ảo đầy bất ngờ thú vị. Dường như cái chất sống này tự nhiên
17
như khí trời. Triết lý của nhà văn cũng từ đó mà tự nhiên, nhuần nhị. Khi nghiên
cứu bước đường sáng tác của một nhà văn ta thường thấy có hiện tượng: ở một
thời điểm nào đó, với những ảnh hưởng và biến đổi nào đó, nhà văn viết khác
trước và cái sự khác này tạo ra một bước ngoặt. Nhưng có nhà văn, dù có cố tình
“rẽ ngoặt” thì vẫn không được, anh ta phải trở lại chính mình mới được công
nhận. Nguyễn Quang Sáng ở vào trường hợp thứ hai.
Những truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết sau 1975 được chọn vào
tuyển tập cho thấy rõ nhận xét trên. Khi ông cố đổi giọng cho có vẻ hợp thời thì
người đọc thấy nhàn nhạt – đó là khi đọc những Tôi thích làm vua, Thế võ, Nhân
vật ấy không được chết, Cây gậy ba số, Con chim quên tiếng hót Lối viết như
thế phảng phất giọng văn Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học hồi đầu thế kỷ -
nghĩa là truyện luận đề, có khi chỉ cần đọc nhan đề người ta đã đoán ra toàn bộ
câu chuyện. Phải chăng nhận ra thực trạng đó, Nguyễn Quang Sáng đã tìm cách

nhịp điệu trần thuật, bố cục trần thuật, khoảng cách góc độ của người kể đối với
cốt truyện tạo thành Giọng điệu trần thuật chỉ mối quan hệ thái độ của người
kể đối với các sự kiện được kể. Bố cục trần thuật hình thành dưới sự triển khai,
đan cài, phối hợp, luân phiên các điểm nhìn, có điểm nhìn gần gũi với sự việc, có
điểm nhìn cách xa trong không gian và thời gian, có điểm nhìn ngoài, hoặc nhìn
xuyên qua nội tâm nhân vật, có cái nhìn nhân vật, sự kiện từ một nền văn hóa
khác. Về các kiểu trần thuật, từ thế kỷ XIX trở về trước thịnh hành kiểu trần
thuật khách quan do một người trần thuật biết hết sự việc tiến hành kể theo ngôi
thứ ba. Sang thế kỷ XX, ngoài lối kể chuyện truyền thống ấy còn thêm kiểu trần
thuật ngôi thứ nhất do một nhân vật trong truyện đảm nhiệm. Sự trần thuật có khi
biến thành “dòng ý thức’ lời độc thoại nội tâm. “ Trần thuật là phương diện cấu
19
trúc của các tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể với khách thể trong loại
hình nghệ thuật”[13,248] . Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm tự sự người ta thương
chú ý đến trần thuật và cùng miêu tả, trần thuật đóng vai trò không nhỏ trong sự
tái hiện thế giới vào tác phẩm văn học.
Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học bộ mới, các tác giả viết: ” Trần thuật
là khái niệm chỉ một bộ phận ngôn bản quan trọng trong tác phẩm văn học tự sự,
là thành phần lời của tác giả, của người trần thuật (được đưa vào tác phẩm ít
nhiều như một nhân vật) hoặc của một người kể chuyện; tức là toàn bộ văn bản
tác phẩm tự sự, ngoại trừ các lời nói trực tiếp của nhân vật ( ) Trần thuật bao
gồm việc kể và miêu tả các hành động vá các biến cố trong thời gian; mô tả chân
dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất, ; bàn luận; lời nói bán
trực tiếp của các nhân vật. Do vậy trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo
tác phẩm tự sự” [13, 346].
Từ định nghĩa trên, có thể hiểu thành phần trần thuật trước hết đó là lời
thuật với chức năng là kể việc. Ngoài ra, trần thuật còn bao hàm cả việc miêu tả
đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình, lời trữ tình
ngoại đề, lời ghi chú của tác giả Còn về hình thức, trần thuật chủ yếu là đối
thoại, độc thoại của chủ thể trần thuật với độc giả. Trong tác phẩm tự sự, trần

là sự thể hiện của hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức ” [54,
100].Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn
học. “ Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ nhằm kể, thuật, miêu tả, cung
cấp thông tin về sự kiện, nhân vật, theo một thứ tự nhất định trong không gian,
21
thời gian và về ý nghĩa, trần thuật có nhiệm vụ cho người đọc biết ai xuất hiện ở
đâu, khi nào, làm gì, trong tình huống nào . . .” [54,100].
Lại Nguyên Ân trong bài viết “Về việc mở ra môn trần thuật học trong
ngành nghiên cứu văn học Việt Nam” in trong Tự sự học thì xác định: “ Trần
thuật trỏ phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc loại văn
học tự sự ” , “ thực chất của hoạt động trần thuật là kể , là thuật; cái được thuật,
được kể trong tác phẩm văn học tự sự là chuyện” [51,147]. Như vậy, trần thuật
đòi hỏi phải có người kể, người thổ lộ. Trần thuật phải xử lí mối quan hệ giữa
chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và nhân vật. Vì thế, theo Trần Đình Sử, “ có hai
yếu tố quyết định trần thuật là người kể và chuỗi ngôn từ. Từ người kể chuyện ta
có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật. Từ chuỗi ngôn từ, ta có
thể kể đến các yếu tố: lược thuật, dựng cảnh, hồi thuật, dự báo, gây đợi chờ,
phân tích bình luận, giọng điệu”. [54,100].
Nói một cách khác, trần thuật là sự phân bố thế giới hình tượng qua một văn
bản ngôn từ nhằm đạt được hiệu quả tư tưởng thẫm mỹ . . . là sự trình bày liên
tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, các mối quan hệ xung đột về sự
kiện và nhân vật tạo nên sức hấp dẫn theo tổ chức điểm nhìn trần thuật. Đây là
yếu tố then chốt đóng vai trò quan trọng trong cấp độ kết cấu trần thuật.
Nhà lý luận Mỹ Jonathan Culler đã đưa ra ý kiến “ Bất cứ trần thuật nào đều
có người trần thuật, người kể, bất kể người trần thuật ấy có được xác nhận rõ
ràng hay không? Bởi vì trọng tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là vấn đề về
mối quan hệ giữa người trần thuật hàm ẩn với câu chuyện mà nó kể ra, nên muốn
hiểu rõ một đoạn tự sự, một tác phẩm tự sự, bắt buộc phải xác nhận người kể
chuyện hàm ẩn trong đó xác nhận các bộ phận thuộc về cái nhìn của nó, phân
biệt bản thân hành động và sự quan sát của người trần thuật đối với hành động

dung, kết cấu và nghệ thuật, đồng thời là căn cứ để các nhà nghiên cứu, nhà phê
bình đánh giá bút lực, phong cách của văn từ Nguyễn Quang Sáng.
1.3.2. Giới thuyết về truyện ngắn
Theo Từ điển thuật ngữ Văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán – Nguyễn
Khắc Phi – Trần Đình Sử đồng chủ biên, truyện ngắn được hiểu “ là tác phẩm tự
sự cỡ nhỏ, nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện
của đời sống như đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn”.
Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ.
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện
ngắn với các tác phẩm tự sự khác. Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất
ngắn, nhưng thực chất lại là những truyện dài viết ngắn lại. Truyện ngắn thời
trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa. Các hình thức truyện kể dân
gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại, lại càng không phải là
truyện ngắn. Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc
đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại. Cho nên truyện
ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học. Khác với tiểu
thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của
nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một
nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Vì
thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Và nếu mỗi
nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là mảnh
nhỏ của thế giới ấy. Truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những
tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân
vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức
xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người. Cốt truyện của truyện ngắn thường
24
diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là
nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện
ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo
nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng. Bút pháp tường thuật của truyện ngắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status