BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐOÀN TIẾN DŨNG KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. TRẦN ĐĂNG XUYỀN
HÀ NỘI, 2010
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này ñược hoàn thành tại khoa Văn, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn tận tình chu ñáo của GS.TS. Trần Đăng
Xuyền. Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới thầy hướng dẫn, người
ñã dành cho tác giả những gợi dẫn khoa học quan trọng trong quá trình
nghiên cứu, hoàn thành luận văn. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới quí
thầy cô giáo bộ môn Văn học Việt Nam 2 trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Viện văn học, ñã ñóng góp nhiều ý kiến cho tác giả trong quá trình soạn
thảo. Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Quản
lí khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho
tác giả trong quá trình học tập nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Đoàn Tiến Dũng
1
MỤC LỤC
2
CHƯƠNG 2. THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP 48
2.1. Thời gian trần thuật 48
2.1.1. Đảo lộn thời gian sự kiện 50
2.1.2. Tự sự dòng ý thức và ñồng hiện thời gian 59
2.2. Thời gian tâm trạng 64
2.2.1. Cái nhìn hồi cố 65
2.2.2. Cái nhìn trải nghiệm . 70
2.3. Nhịp ñiệu thời gian 74
2.3.1. Nhịp ñiệu thời gian nhanh gấp 75
2.3.2. Nhịp ñiệu thời gian lặp lại 80
CHƯƠNG 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT . 86
3.1.Tổ chức không gian trong sự kết hợp với thời gian . 86
3.2. Sự luân chuyển không gian, thời gian nghệ thuật 89
3.3. Không gian ñược tổ chức theo nguyên tắc tương phản 100
3.4.Thời gian nhân vật và trình tự thời gian trần thuật ñược hiện ñại hoá.111
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
hết là tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm” ñã giúp ñộc giả có cái nhìn “phản tỉnh”.
Có thể nói không quá rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên
ñược diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 ñến nay, nhưng một mình
2 Nguyễn lại có thể ñào xới lên nhiều vấn ñề thuộc về bản chất văn học: “hạt
nhân các sáng tác của anh vẫn không ñi ra ngoài vấn ñề con người” [77; 545],
chính ñiều này ñã làm ñiểm tựa ñể truyện ngắn của ông tạo nên sức bật khỏi
ảnh hưởng văn học trước 1975.
1.2. Ngay từ những sáng tác ñầu tay, tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
ñã “có một sức hấp dẫn khó cưỡng lại ñược” [77; 458], và ñược các nhà
nghiên cứu, các nhà văn trong nước và ở nước ngoài ñánh giá cao về nghệ
thuật. Nhiều tác phẩm của ông thực sự “gây hấn” với quan ñiểm văn chương
truyền thống, nó trượt khỏi khung khổ truyện ngắn trước kia và tích cực ñẩy
xa hơn nữa quá trình dân chủ hóa ñời sống văn học. Có thể nói, Nguyễn Huy
Thiệp là nhà văn có ý thức cách tân truyện ngắn từ rất sớm, ñồng thời cũng là
người cầm bút có ý thức triệt ñể về vấn ñề không gian và thời gian. Tính ña
chiều không gian và nhiều lớp thời gian trong truyện ngắn của ông ñặc biệt
thú vị, nhưng cũng hết sức phức tạp, khó khăn khi nghiên cứu. Thú vị ở chỗ
nó mở ra một cái nhìn mới vào thế giới, vào con người; phức tạp và khó khăn
bởi sự chằng chịt ña tầng không chỉ trên nội dung văn bản mà còn nằm ở
chiều sâu ngôn ngữ, không phải ai cũng cảm nhận hết. Việc xử lí không gian
và thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ñã ñược các nhà nghiên
2.1. Tình hình nghiên cứu về không gian - thời gian nghệ thuật
Sau ñây là những bài viết hoặc công trình của các nhà nghiên cứu có ñề
cập trực tiếp hoặc gián tiếp ñến vấn ñề không gian và thời gian ở các tác giả
khác có liên quan ñến ñề tài mà luận án ñang thực hiện. Dẫn theo thời gian
xuất bản:
1. Trần Đình Sử, (1982), Thời gian nghệ thuật trong “Truyện Kiều” và
cảm quan hiện thực của Nguyễn Du, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 05.
Trong bài viết này, nhà nghiên cứu ñã nhìn nhận thời gian và không
gian từ phía khát vọng, hành ñộng của nhân vật, tính chất phũ phàng
của các thế lực.
2. Phan Ngọc, (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong “Truyện
Kiều”, Nxb KHXH. Toàn bộ công trình không bàn nhiều và trực tiếp
ñến vấn ñề không gian và thời gian, nhưng ñáng chú ý ở chương IV có
tiêu ñề: Cách bố cục “Truyện Kiều” theo yêu cầu của kịch. Tác giả
4 công trình ñã phân tích “những lời ñoán trước”, “những giấc mộng”,
tức những yếu tố liên quan ñến thời gian.
3. Đặng Thị Hạnh, (1987), Tiểu thuyết Huy-gô, Nxb ĐH&THCN. Ngoài
công trình này, bà còn rất nhiều bài nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên
cứu văn học viết về Thâm Tâm, Xuân Diệu… trong ñó ñề cập nhiều
ñến vấn ñề thời gian ẩn.
4. Trần Đình Sử, (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm Mới.
9. Nguyễn Thị Bình (1996), Những ñổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn), LA. PTSKH Ngữ văn, ĐH
Sư phạm Hà Nội. Nhà nghiên cứu cho rằng: “Văn xuôi sau 1975, không
gian nghệ thuật phổ biến là không gian sinh hoạt ñời thường, không
gian mang tính chất cá nhân riêng tư” [15; 136].
10. Bùi Văn Tiếng (1997), Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng, Nxb Văn hóa. Ở công trình này, tác giả nghiên cứu thời gian và
không gian trong những tiểu thuyết tiêu biểu của Vũ Trọng Phụng.
11. Trần Đình Sử, (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb GD. Trong cuốn
sách này tác giả ñã dành 2 chương IV và V ñể nói về thời gian và
không gian nghệ thuật.
12. Nguyễn Thái Hòa, (2000), Những vấn ñề thi pháp của truyện, Nxb GD.
Mục ñích của công trình nhằm “miêu tả những khái niệm cơ sở của Thi
pháp học thể loại truyện ở góc nhìn ngôn ngữ học” [40; 03].
13. Đặng Anh Đào, (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây
hiện ñại, Nxb Đại học Quốc gia, H. Trong mục VIII của cuốn sách, tác
giả cho rằng: “Thời gian là một vấn ñề lưu ý ñặc biệt trong nghệ thuật
kể chuyện…Riêng ñối với lý luận phương Tây, sự quan tâm ñặc biệt lại
nghiêng hẳn về trục thời gian hơn không gian” [26; 85].
14. Đào Duy Hiệp, (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện ñại, Nxb GD.
Trong công trình này, tác giả ñã vận dụng một số lí thuyết phê bình
hiện ñại ñể tiếp cận sáng tác văn học từ các cấp ñộ thời gian. Tác giả ñã
ứng dụng lí thuyết vào phân tích một số sáng tác của Cervantes,
Maupassant, Proust…
6 7 Xung quanh hiện tượng văn chương Nguyễn Huy Thiệp có rất nhiều ý
kiến gây tranh cãi bởi nhiều khuynh hướng khác nhau vì nhà văn này quá
phức tạp. Tuy vậy, Nguyễn Huy Thiệp vẫn cứ viết, và mỗi tác phẩm của ông
ra ñời lại là một sự kiện tranh luận. Nhà văn trong nước, ngoài nước, soi chiếu
tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp dưới nhiều góc ñộ, có truyện ñánh giá ñồng qui,
có truyện khen chê tách biệt. Sau ñây chúng tôi xin ñề cập ñến một số cách
tiếp cận và ñánh giá truyện ngắn của ông:
Thứ nhất, ở cách tiếp cận và ñánh giá sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
từ góc ñộ mĩ học, xã hội học:
Một số người ñã qui chụp thẳng thắn cho những sáng tạo văn chương
nghệ thuật của ông “chẳng qua là lối viết quá cũ có người ñã từng dùng cách
ñây vài trăm năm, nay phục chế lại. Đây là kiểu tái hiện văn học hiện thực
những năm 30-40 của thế kỉ trước” [77; 8].
Đỗ Văn Khang cho rằng: Văn của Nguyễn Huy Thiệp “lạnh lùng hằn
học quá”, nhà văn ñã cố tình xuyên tạc lịch sử: “Một Quang Trung lẫm liệt
anh minh ñánh tan 20 vạn quân Thanh như trở bàn tay, dưới ngòi bút Nguyễn
Huy Thiệp trở thành anh vua hèn. Một Nguyễn Du văn chương như in như tạc
vào cuộc ñời, bỗng chốc hóa thành ñứa con hoang của cô gái ñồng trinh bị tên
ñàn ông khốn nạn là nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp” [77; 415]. Đồng
thời, khi lí giải về “sự sa sút văn chương Nguyễn Huy Thiệp”, tác giả còn chỉ
trích: “Văn Nguyễn Huy Thiệp ngày càng mất bản chất nhân văn…càng thô
lỗ tục tằn…và ngày càng rơi vào thói vô chính phủ về lịch sử” [77; 411].
nâng nó lên một tầm cao mới”. Tác giả ñã thấy “mối liên hệ giữa chuyện và
truyện ngắn như: không gian truyện là mơ hồ, thời gian truyện không xác
ñịnh, nhân vật truyện không có cá tính” [77; 474].
Sean Tamis Rose, trong bài Trái tim Thiệp, cho rằng: “Với Nguyễn
Huy Thiệp cần phải luôn luôn dè chừng: ñó là nhà văn thực sự, ông ta biết
cách ñánh lừa ngôn ngữ” [77; 498].
Hoàng Ngọc Hiến, “người tiên cảm trước con ñường ñầy sóng gió của
Nguyễn Huy Thiệp”, trong lần tranh luận trực tiếp với Đỗ Văn Khang ñã phân
tích mối quan hệ giữa Quang Trung, Gia Long với Vinh Hoa, ñể chứng minh
rằng không phải Nguyễn Huy Thiệp “bôi nhọ lịch sử” [77; 539].
9 Các ý kiến tranh cãi dù còn ñối lập, vẫn cho thấy một ñiểm chung:
“Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng hiếm, ñộc ñáo. Và hạt nhân sáng tác của
anh vẫn không ñi ra ngoài vấn ñề con người” [77; 564].
Tuy vậy, những nghiên cứu về không gian, thời gian trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp còn rất ít, dưới ñây chúng tôi xin tóm tắt cả những ý kiến
trực tiếp cũng như gián tiếp bàn về vấn ñề này:
1. Hoàng Ngọc Hiến trong bài Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió
ñã ñề cập gián tiếp ñến không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Huyền thoại
phố phường. Tác giả cho rằng: “Cảnh Hạnh mò cống tìm nhẫn thật là thảm y
xắn tay áo rồi ñưa tay mò dọc theo cái rãnh ñầy bùn, lõng bõng nước chảy,
thậm chí có cả cục phân người” [77; 11].
Hội nhà văn, 2001, tác giả ñã sưu tầm 54 bài phê bình viết về tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp. Ngoài ra, còn rất nhiều khoá luận tốt nghiệp ñại học hoặc
sau ñại học trực tiếp lấy tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp làm ñề tài nghiên
cứu. Qua khảo sát, từ năm 2001 ñến năm 2009, ĐHSP Hà Nội ñã có 13 luận
văn cao học nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp. Vì vậy, trong
chừng mực một luận văn cao học chúng tôi khó có thể tổng thuật tỉ mỉ ñược.
Sau ñây, chúng tôi xin nhận xét sơ bộ về việc nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp nói chung và không gian, thời gian trong truyện ngắn của ông nói
riêng:
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dành ñược sự quan tâm ñặc biệt của
giới nghiên cứu với nhiều mũi tiếp cận khác nhau. Mỗi cách tiếp cận ñã khám
phá những chiều sâu khác nhau trong thế giới nghệ thuật và khơi dậy những
vẻ ñẹp trong nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn. Riêng về
vấn ñề không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
chúng tôi thấy nổi lên hai vấn ñề chính:
Một là, dù ñã ñược chú ý, song vấn ñề không gian, thời gian nghệ thuật
vẫn chưa ñược nghiên cứu một cách có hệ thống. Những ý kiến phân tích của
một số tác giả chỉ tập trung ở một vài khía cạnh riêng biệt, chứ chưa bao quát
toàn bộ truyện ngắn của nhà văn.
Hai là, việc khám phá vấn ñề không gian chưa thấy những biểu hiện ña
dạng, và vấn ñề thời gian chủ yếu ñược nghiên cứu từ cấp ñộ thời gian câu
11 ra nhiều khả năng tiếp cận trong kịch tiểu thuyết, phê bình tiểu luận của nhà
văn có tài và cá tính này.
Đóng góp vào thành tựu chung trong công việc nghiên cứu tác phẩm
Nguyễn Huy Thiệp trong tiến trình văn học Việt Nam hiện ñại.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở ñầu, phần Kết luận, nội dung chính của luận văn ñược
triển khai qua ba chương:
Chương 1. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Chương 2. Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3. Mối quan hệ không gian - thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
trước, dưới ñây, chúng tôi xin ñi sâu nghiên cứu về không gian bối cảnh xã
hội trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
1.1. Không gian bối cảnh xã hội
R. Wellek cho rằng: “Văn học là một thể chế của xã hội, sử dụng ngôn
ngữ làm phương tiện biểu ñạt và cũng là một tạo vật của xã hội” [34; 157].
Trên bình diện không gian bối cảnh xã hội trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp chúng tôi nhận thấy, nhà văn có nhiều sáng tạo bất ngờ ñộc ñáo. Tất cả
14 mọi không gian, nhân vật ñều có thể coi là sân khấu ñể làm trò, từ trò từ thiện,
trò hiếu ñễ, trò cưới xin, trò sinh nhật, trò làm quan…Nguyễn Huy Thiệp
cũng tỏ ra thông hiểu nhiều vùng miền, nhiều thế hệ và nhiều thời ñại. Vì vậy,
không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của ông thực sự phong phú và chính
xác. Bên cạnh những không gian êm ñềm thơ mộng của cảnh sắc thiên nhiên,
sông núi, Nguyễn Huy Thiệp còn tạo ra không gian bối cảnh xã hội “tươi
ròng sự sống”. Nó có thể là không gian trong lòng thuyền, trong phòng khách
và trong phòng ngủ của thị dân: không gian chật chội của cửa hàng vàng bạc
bà Thiều; “phòng ngủ” của Diệu, cô Phượng học thức; “căn bếp” nhà lão
Kiền. Ở ñấy, thói phàm tục của con người ñã diễn ra ñể mặc cả mua bán tâm
hồn, vừa lưu manh, vừa trơ trẽn. Tất cả, ñược thể hiện rất rõ qua tính chất
“láo nháo thản nhiên rất ñời và ô trọc”.
1.1.1. Không gian “láo nháo, thản nhiên rất ñời và ô trọc”
nhắc lại 53 lần; căn phòng nhắc lại 03 lần; cửa nhắc lại 12 lần; và buồng
nhắc lại 06 lần. Tuy nhiên, sự lặp lại của những từ ngữ này, tự nó chưa phải
là không gian nghệ thuật. Chúng chỉ trở thành không gian nghệ thuật trong
quan niệm biểu hiện mô hình thế giới của tác giả. Vì vậy, căn nhà xuất hiện
với tần số cao nhất, trước hết, nhằm biểu thị tính chất chật chội, bon chen
nhốn nháo, và ñồng thời cũng chính là không gian trung tâm của truyện. Rất
nhiều những biến cố, sự kiện, những suy nghĩ, hành ñộng của nhân vật diễn
ra trong không gian nhà ở, căn phòng, gian bếp mặc dù nhà văn không trực
tiếp miêu tả không gian ñó. Ngay ñến căn buồng là nơi kín ñáo nhất, nhưng
lại là chỗ ñể Khảm “xúc trộm gạo cho vào cặp”. Do ñó, không gian cư trú
như một “sợi dây vô hình” thắt ngặt con người. Dường như trong gia ñình
lão Kiền mọi trật tự cha - con, chồng - vợ bị ñảo lộn: họ chì chiết nhau, hạ
nhục nhau, tìm cách “tống cổ” nhau và thậm chí còn mong nhau…chết!
Trong một “không gian bệnh viện” tức không gian hẹp, không gian có
mái che và bên ngoài là không gian hành lang, chúng ta ñã thấy sự ñối lập:
Trong phòng, các bác sĩ ñang lo lắng mất 42 phút mổ khối u ñể cứu lão Kiền,
vậy mà, ở ngoài, Đoài lại thản nhiên nghĩ ñến “tài sản không biết chia chác
thế nào”. Chứng kiến sự ñối lập giữa hai không gian ñó, người ñọc không chỉ
cười mà còn cám cảnh ghê tởm trước một trí thức “giả cầy” làm việc trong Bộ
giáo dục: “Đoài bảo: Ông cụ ñi rồi, thật may quá!” [110; 56]. Với Đoài,
16 không gian gia ñình thực sự là nơi ñể hắn diễn trò phỉnh nịnh, hắn chẳng từ
uống” [110; 340]. Trong ñó lại “có ba ñiểm trá hình buôn bán gái mại dâm”, ở
ñấy, họ “chơi gái với năm nghìn trong túi” [110; 340]. Nhìn bề ngoài một
không gian làng quê hẻo lánh tưởng như yên bình, nhưng kỳ thực bên trong
nó ñã băng hoại nhiều về ñạo ñức.
Không chỉ có thế, ở Tướng về hưu Nguyễn Huy Thiệp còn sáng tạo một
không gian nghệ thuật, mà qua ñó tác giả ñã làm lay ñộng, ray rứt lương tri
người ñọc. Đó là không gian diễn ra những sự kiện, những biến cố vừa hào
hùng vừa ñau ñớn ñược ñan cài vào số phận cá nhân vừa là một anh hùng
nhưng lại là “nạn nhân” của con người trót ñược “phong thánh”. Ta ñã biết,
tướng Thuấn là niềm tự hào của gia ñình, dòng họ, ông cũng là người hùng
thỏa mãn: “Việc lớn trong nhà cha làm xong rồi” [110; 15]. Nhưng nghiệt ngã
thay, vị tướng tài ba này vẫn bị bủa vây bởi những qui luật mưu sinh khắc
nghiệt: “Một hôm tôi ñi làm về, cha tôi ñứng ở dãy nhà nuôi chó và gà công
nghiệp” [110; 17], nó không còn là không gian của “ñường ra trận mùa này
ñẹp lắm!” [110; 28], thay vào ñó, là thực tế cuộc sống với không khí tranh
giành, thực dụng, dối trá vây quanh ông. Một vị tướng, xưa tung hoành ngang
dọc, vậy mà, lúc nghỉ hưu lại bị cầm chân trong một không gian thường nhật
chỉ ñể mưu sinh cuộc sống. Không gian chiến trận xưa trong ông, ñôi lúc cũng
có hiện về, nhưng giờ chỉ là không gian trong miền hồi ức: “Cậu còn nhớ cái
xóm ở ven ñường cô Huệ ñã làm bánh trôi bằng bột mì mốc” [110; 18].
Đối sánh giữa không gian chiến trận của tướng Thuấn ngày xưa và
không gian thực tại tướng Thuấn bây giờ, ta chứng kiến ñược con người ở cả
hai phương diện xã hội và cá nhân. Sự ñối lập này cho thấy, nhà văn ñã tạo
nên một không gian ngổn ngang sự kiện, một thế giới tan rã thành muôn
mảnh, một thế giới bộn bề vụn vặt, khoảng cách giữa tốt và xấu ñan xen, lơ
manh và yếu ớt: “Tôi bảo vợ tôi: “Anh ñi nhé?” Vợ tôi bảo: “Đừng ñi. Mai
anh sửa cửa nhà tắm, cái cửa hỏng rồi. Hôm nọ cái Mi ñang tắm, thằng Khổng
ñi qua ñịnh dở trò ñểu” [110; 27].
Một ñiều dễ thấy, cho dù không gian trong truyện của Nguyễn Huy
Thiệp có hư cấu nhiều ñi nữa, cũng chỉ nhằm phơi bày một hiện thực trần trụi,
cay ñộc và lạnh tanh, chua xót: “Từ nhà tôi ra nghĩa ñịa ñi tắt chỉ năm trăm
mét nhưng ñi ñường chính ra cổng làng phải hai cây số. Đường bé, không ñẩy
xe ñòn ñược mà phải khiêng vai…Họ khênh quan tài hồn nhiên như việc bình
19 thường…Có người nằm lăn ra nói mát thật” [110; 24]. Nó còn chua xót hơn
nữa khi nhà văn miêu tả: “Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc chính là
phá thai…Cha tôi dắt tôi xuống bếp chỉ vào nồi cám trong ñó có những mẩu
thai nhi bé xíu” [110; 20]. Người ñọc không thể thờ ơ trước một hiện thực ñầy
phi lí, nhưng nó vẫn ngang nhiên tồn tại giữa cuộc sống ñời thường, mà tồn
tại nhiều nữa ñằng khác. Đành rằng, trong cuộc sống ñầy lo toan vất vả, ñầy
tranh chấp bon chen, con người phải suy tính, phải lao tâm khổ tứ ñể tồn tại.
Nhưng trước cái chết của ñồng loại mà họ vẫn ngang nhiên vui vẻ, vẫn thờ ơ
một cách vô tư theo kiểu “ai ñồng ý bố chết giơ tay” thì thật là ngán ngẩm.
Trong Giọt máu không gian sinh nhật diễn ra mới thật lạ kì, khi cuộc
sống ở quê toàn ñói khổ nhưng Phong lại làm cỗ to mời khách, khách ở Hà
Nội về hơn ba chục vị “ô tô ñậu kín một ñoạn ñê…Mấy ông kì mục trong làng
dùng ngón tay nhón bánh bỏ vào mồm, dây bơ ra cả ngón tay, thấy bẩn lại bôi
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi nhận ñịnh rằng, không gian xã hội
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là không gian “láo nháo thản nhiên rất
ñời, rất ô trọc” con người không có hoài bão, xã hội không có tương lai. Ở
ñấy, con người luôn thường trực cảm giác bất an về một xã hội hiện ñại ngổn
ngang, phi nhân tính. Tâm lí hoài nghi chán chường phản kháng, chối bỏ của
con người luôn ñược coi là thời thượng. “Nhà văn chẳng giải thích dài dòng,
chẳng dùng những từ ñao búa, chỉ viết những lời ai ai cũng hiểu ñược mà tạo
nên cả một bầu không khí ñiên ñầu trong ñó không ai có thể hiểu ai” [77; 48].
1.1.2. Không gian tù ñọng quẩn quanh, bế tắc
Nghiên cứu không gian tù ñọng quẩn quanh bế tắc trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi chú ý ñến tính chất khép kín của không gian
làng quê, không gian hẹp. Ta thấy ở ñấy, nông dân ñang bị tha hóa dần bởi
thú văn hóa thấp kém, trì níu bởi không khí tù ñọng ngột ngạt: “Không khí u
uất, tù ñọng của làng quê làm tôi tái tê cảm giác chua xót. Mọi người rối rít
cuống cuồng ñể kiếm miếng ăn” [110; 80]. Những con người ñầy những
thành kiến ngộ nhận, ñã ñánh mất những gì làm nên niềm vui của cuộc ñời.
Cuộc sống ñối với họ ñơn thuần chỉ là ñấu tranh ñể kiếm miếng ăn, vui lòng
với thứ văn hóa “lá cải”. Những “mảnh ñất cằn ñã làm cho con người trở nên
ti tiện”, những ñịnh kiến hẹp hòi và thói ñạo ñức giả ñã làm thoái hóa bản
chất của con người, phần người trong mỗi con người lương thiện: “Tất cả dân