Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KHỔNG THỊ MINH HẠNH CÁI NHÌN, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CÁI NHÌN, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S MAI THỊ NHUNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tác giả luận văn
Khổng Thị Minh Hạnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 11
Chƣơng 1. CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
KIM LÂN 11
1.1. Khái niệm cái nhìn nghệ thuật 11
1.2. Cái nhìn nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân 15
1.2.1. Cái nhìn nghệ thuật giàu lòng nhân hậu về cuộc sống, con người
làng quê Việt Nam 15
1.2.2. Cái nhìn độc đáo về những phong tục, sinh hoạt văn hóa cổ
truyền ở làng quê Việt Nam 34
Chƣơng 2. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
KIM LÂN 43
2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật 43
2.2. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim lân 48
lại dấu ấn lâu bền trong lòng độc giả, thôi thúc trái tim ta hướng về nơi quê
hương nguồn cội. Bởi văn Kim Lân được chắt ra từ cuộc đời của chính nhà
văn, từ sự hội tụ của những yếu tố của quê hương, cộng đồng và thời đại.
Nhà văn Lân sinh ngày 01/8/1920 mất ngày 20/7/2007 tên khai sinh là
Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, Huyện Từ Sơn, Tỉnh
Bắc Ninh. Quê hương ông là một làng quê nổi tiếng bởi truyền thống văn hóa
yêu nước, cách mạng với nhiều danh nhân đỗ đạt. Miền quê ấy vốn là một
vùng văn vật có tiếng của đất Kinh Bắc. Con người nơi đây có thể nghèo túng
nhưng luôn giữ vẻ tài hoa, nền nếp. Không đi đâu xa, nhưng họ luôn khéo léo,
hay trọng sĩ diện, trọng vẻ ngoài đến mức thành một tiêu chuẩn sống. Cốt
cách đó cũng ngấm vào máu Kim Lân từ nhỏ, hun đúc ở ông tình yêu quê
hương đến máu thịt.
Bằng tất cả lòng ham thích say mê văn chương, nhà văn đã có lần tâm
sự: “Viết văn trước tiên tôi viết cho mình, cho những mơ ước gửi gắm của
chính mình. Sau nữa đó là những lời bộc bạch, tâm sự với bạn đọc những
điều đang nhức nhối, đang thôi thúc” [21,tr.263].
Nhà văn Kim Lân là người kín tiếng, sống lặng lẽ, có lẽ vì thế mà
chúng ta hiểu tại sao ông lại chọn cách sống thu mình và khiêm nhường trong
văn chương lẫn trong cuộc đời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
1.2. Gia tài của Kim Lân không nhiều. Từ truyện ngắn đầu tay “Đứa
con người vợ lẽ” đăng ở báo Trung Bắc chủ nhật số 120 ngày 26/7/1942, đến
những tập truyện ngắn tiêu biểu“Nên vợ nên chồng”, “Con chó xấu xí” đã
xếp ông thuộc vào số ít nhà văn có thể minh chứng cho chân lí “quý hồ tinh
bất quý hồ đa” trong nghệ thuật. Với một đời văn khá dài hơn năm mươi năm
cầm bút, ông chỉ vẻn vẹn trình làng trên ba mươi tác phẩm. Nhưng khi kể ra
những gương mặt làm nên bản sắc văn xuôi Việt Nam trong nhiều chục năm
sáng tác của nhà văn Kim Lân đã khơi nguồn sáng tạo cho nhiều nhà nghiên
cứu qua các công trình khoa học. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi
hệ thống những ý kiến nhận định nổi bật về tác giả và những ý kiến có liên
quan trực tiếp đến đề tài.
Nhà văn Nguyên Hồng có viết “Từ giữa năm 1943-1944 ấy, tôi đọc
được mấy truyện của Kim Lân…thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà
còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy…Nhưng rồi chỉ bập vào
mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, mà
trái lại có một cái gì chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ
đau, giọng văn nhiều rung cảm, thắm thiết” [61,tr.82], nhận định chân thành
của người bạn văn thân thiết thật xác đáng về nội dung và nghệ thuật truyện
ngắn Kim Lân.
Cũng gần nhận xét trên của Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên
Ân cũng đưa ra quan điểm của mình về thế giới nhân vật trong truyện ngắn
của Kim Lân: “Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những
người dân nghèo vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ: Những người dân miền
xuôi mất nhà, mất đất, xiêu dạt lên miền ngược, táp vào một xóm chợ, bến
sông, một góc phố hay ven một đồn điền, một xóm trại, tiếp tục vật lộn với
miếng sống sơ đẳng hàng ngày. Đã có lúc nhà văn gọi những nhân vật thân
thuộc ấy của mình là “những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp xó xỉnh cuộc
sống” [4,tr.638].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong cuốn “Nhà văn Kim Lân - chân
dung văn học” thật có lý khi khái quát rằng: “hình như những mẫu người đầu
thừa đuôi thẹo đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm
việc này một cách đàng hoàng chững chạc”. [47,tr. 5]
Trong Tổng tập văn học Việt Nam giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh một lần
tinh hoa văn hóa dân gian vùng Kinh Bắc cũ, ta sẽ bắt gặp ở đó một Kim Lân
hào hoa, mã thượng trong không khí văn chương sang trọng” [45,tr.6].
Trần Ninh Hồ trên báo Văn nghệ số 34 ngày 24/8/1991 đã khẳng định
tầm vóc, vị trí nhà văn Kim Lân qua những trang truyện ngắn của ông viết về
con người: “ Tuy tầm vóc, vị trí mỗi nhà văn một khác nhưng Kim Lân cũng
là một nhà văn thường đến với ta trong những khoảng chợt nhớ của đời người
khó mà diễn đạt thành lời… Mỗi lần mở những trang viết ít ỏi ấy, ta lại cảm
thấy không một bước ngoặt, một chặng đường nào của con người Việt Nam
trong gần nửa thế kỷ qua mà Kim Lân không đả động tới dẫu chỉ bằng sự
chạm trổ hết sức khiêm tốn: truyện ngắn” [19,tr. 3].
Vũ Dương Quỹ trong Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường phổ thông
(Nhà Xuất bản Giáo dục-1997) đã nhận xét: “Những truyện ngắn Kim Lân
viết trước Cách mạng tháng Tám, bên những thân phận con người lam lũ vất
vả, vẫn phập phồng trái tim yêu đời, những mong muốn tuy mơ hồ nhưng da
diết, con người đối xử với nhau bao dung nhân hậu hơn” [52,tr.10].
Nhận xét về văn Kim Lân tác giả Hoài Việt trong cuốn Kim Lân “Nhà
văn trong nhà trường-NXBGD-1999” có viết: “Văn Kim Lân không đao to,
búa lớn, chữ chữ hàng hàng chân chất như củ khoai củ sắn, lời văn trong lối
kể cũng không ồn ào cứ rỉ rả, rỉ rả mà lại thánh thót mới “tài” chứ-Kim Lân
không ưa đánh bóng, mạ kền con chữ, hàng chữ. Ông có cái nhìn, cái óc nghĩ,
cái lối diễn đạt của người xứ quê. Nó bình dị, chất phác pha chút hóm hỉnh
nữa” [61,tr.90].
Kim Lân đã thành công trong một loạt truyện về các thú chơi, đặc biệt
nổi tiếng với các truyện viết về phong tục làng quê khiến nhà nghiên cứu Lữ
Quốc Văn đã gọi ông“là nhà tiểu thuyết phong tục hạng nhất của Việt Nam” .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Các tác giả trong cuốn Từ điển văn học đã đánh giá về cái nhìn làng
Nhân dịp kỷ niệm tròn bốn năm ngày nhà văn Kim Lân qua đời, Nhà
xuất bản Kim Đồng đã cho ra mắt tập sách Kim Lân- Ẩn sỹ giữa làng văn như
một nén nhang thơm tưởng nhớ đến người nghệ sĩ tài hoa – Nhà văn của những
“thú phong lưu đồng quê”, của những truyện ngắn nổi tiếng Làng, Vợ nhặt
Ngày 5/1/2012 phát biểu tại buổi lễ khánh thành “ Nhà lưu niệm Nhà
văn Kim Lân" tại Hà Nội, ông Hồ Quang Lợi-Trưởng Ban Tuyên giáo Thành
ủy Hà Nội nhận định: “Gia tài sáng tác của nhà văn Kim Lân không thật
nhiều về số lượng nhưng là tinh hoa quý báu. Hầu hết các tác phẩm của ông
đều trụ lại với thời gian".
Nhà thơ Hữu Thỉnh-Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhận xét: "Văn Kim
Lân luôn mang đậm hồn quê, sự kế tục ngôn ngữ, phong tục của người Việt.
Ông là một trong những nhà văn đầu tiên tham gia tổ chức Văn hóa cứu quốc.
Trong Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Kim Lân đã có công lao xây dựng Hội
Nhà văn Việt Nam bằng công việc xây dựng các thế hệ nhà văn tiếp nối".
Như vậy là cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Kim Lân đã được giới
nghiên cứu phê bình bàn luận đánh giá với nhiều ý kiến xác đáng. Các nhà
nghiên cứu đều nhận thấy tài năng, sở trường, thế mạnh của Kim Lân, song
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu Cái nhìn, không gian, thời gian
nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân.
Bên cạnh các ý kiến nhận định của các nhà nghiên cứu phê bình là
không ít luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Kim Lân:
Năm 2005 tác giả Đặng Thị Huy Lam trong luận văn “Đặc điểm truyện
ngắn Kim Lân” đã dành một chương để khảo sát về người lao động nghèo ở
làng quê và tấm lòng của nhà văn Kim Lân.
Năm 2006 tác giả Nguyễn Quốc Thanh trong luận văn “Cảm hứng chủ
đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân” đã viết về cảm
hứng yêu thương và trân trọng con người, cảm hứng về những sinh hoạt văn
hóa ở vùng thôn quê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
của nhà văn Kim Lân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Cái
nhìn, không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân” nhằm
hướng tới các mục đích sau:
- Hiểu sâu sắc cái nhìn nghệ thuật giàu lòng nhân hậu về cuộc sống,
con người làng quê Việt Nam và cái nhìn độc đáo, hấp dẫn về những phong
tục sinh hoạt văn hóa cổ truyền trong truyện ngắn Kim Lân. Đồng thời thấy rõ
hơn vẻ đẹp truyện ngắn Kim Lân qua chân lý “quý hồ tinh bất quý hồ đa”
trong nghệ thuật.
- Khai thác phương diện thi pháp không gian, thời gian nghệ thuật
trong truyện ngắn Kim Lân để thấy rõ hiệu quả của thi pháp học đối với việc
tiếp cận văn bản - tác phẩm văn học.
- Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về đóng góp của nhà văn Kim Lân
cho nền văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu một số phương diện: cái nhìn, không gian, thời gian nghệ
thuật trong truyện ngắn của Kim Lân.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn vận
dụng các quan điểm và thao tác nghiên cứu thi pháp học, sử dụng và phối hợp
các phương pháp nghiên cứu văn học sau:
- Phương pháp thống kê, khảo sát
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
sản của thi pháp học hiện đại.
Nhà văn Pháp Mácxen Prutxt khi nói về tầm quan trọng của cái nhìn
cũng khẳng định: “Đối với nhà văn cũng như nhà họa sĩ, phong cách không
phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn”. Do vậy, cái nhìn là một
phương diện biểu hiện tài năng và cá tính riêng của tác giả. Cái nhìn thể hiện
trong tri giác, cảm quan, quan sát, từ đó nó có thể phát hiện cái đẹp, cái xấu,
cái hài, cái bi…Cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm
yêu ghét. Cái nhìn gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu
hiện trong ví von, ẩn dụ… Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặt bên
cạnh nhau hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng.
Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học, GS Trần Đình Sử quan niệm: “Cái
nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn
vẹn thẩm mĩ của sự vật, do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ
thuật’’ [55,tr.106].
Sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với một tư tưởng nhất định.
Tư tưởng đó tập trung thể hiện qua cái nhìn của tác giả-một phẩm chất đặc
biệt của nhà văn. Hay nói một cách khác, trong khi phản ánh đời sống, người
nghệ sĩ không thể không có một cái nhìn nghệ thuật riêng. Nhận thức rõ yếu
tố quan trọng này, GS Trần Đình Sử khẳng định: Thiếu quan tâm đầy đủ đến
cái nhìn nghệ thuật của tác giả, người phê bình dễ không đánh giá đúng cái
phong phú của sáng tác.
Trong tác phẩm nghệ thuật, cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật,
bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn. Như vậy “Chi tiết không đơn thuần chỉ là
một vật đã được quan sát. Chi tiết nghệ thuật mang nặng tính tổng quát. Đối
với những nghệ sĩ chân chính, chi tiết thuộc vào hệ thống của nghệ thuật. Nó
của nhà văn đó. Cái nhìn nghệ thuật về con người trong thi pháp học cũng
chính là quan niệm nghệ thuật về con người. Đó là nguyên tắc lý giải, cảm thụ
của chủ thể sáng tác. Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả biểu hiện con
người. Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, miêu tả đồ vật, hoặc giản đơn là miêu tả
con vật, tác phẩm văn học đều gửi gắm những giá trị nhân sinh. Hai chữ
“nhân học” có một hàm nghĩa hết sức phong phú. Tất cả những gì liên quan
đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn
học. Từ các mặt xã hội đến các thuộc tính tự nhiên, từ hữu thức đến vô thức,
từ dã man đến văn minh, từ tội ác đến đạo đức, từ quá khứ đến tương lai, từ
thất vọng đến hi vọng tất cả những gì liên quan đến con người thì văn học
quan tâm thể hiện. Sự phong phú đó là cội nguồn cho quan niệm đa dạng về
con người trong văn học. Mặt khác xét về mặt sáng tác, người ta không thể
miêu tả về con người nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
tiện biện pháp biểu hiện nhất định. Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính
độc đáo của hình tượng con người trong văn học. Quan niệm nghệ thuật về
con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân
thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người
trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân
vật. Quan niệm nghệ thuật về con người chi phối hoạt động sáng tác và tiếp
nhận văn học, vì vậy nó là một phạm trù nghiên cứu cơ bản của thi pháp học.
Trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn có một cái nhìn khác nhau.
Dưới cái nhìn của Nguyễn Tuân, con người luôn được cảm nhận ở phẩm chất
tài hoa, tài tử. Điều này người đọc nhận thấy rõ qua hình tượng nhân vật Huấn
Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù hay hình tượng người lái đò trong tác
phẩm Người lái đò Sông Đà trích tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân.
Dưới cái nhìn của Tô Hoài, con người không phải là một thánh nhân
khỏi những thói tật hàng ngày của mình” [21,tr.265]. Văn chương chỉ thật sự
mang ý nghĩa khi nó làm cho lòng người trong sạch và thanh cao hơn, hướng
ta tới những điều cao đẹp và thiêng liêng trong cuộc sống.
Hơn nữa “Ông thấy văn chương như một thứ đạo làm người, như một
thứ tôn giáo, mà tôn giáo nào chẳng đòi hỏi sự thương yêu giữa con người
với con người, đòi con người có quyền làm người, bình đẳng tự do bác ái”
[21,tr.267]. Do vậy, Kim Lân đã có cái nhìn thật nhân hậu và trách nhiệm.
Xưa nay những người có tài, như tài cầm bút, viết văn, làm thơ đôi khi
có phô mình ra một cách tự nhiên, có ý thức nghề nghiệp như là một sự trơn
tay ngẫu hứng thì cũng có thể hiểu được. Và đôi khi, chính trạng thái tự nhiên
này đã khiến cho trang viết ở họ sinh động hơn, đưa đến cho bạn đọc sự thú
vị hơn. Song điều đó lại không đúng với nhà văn Kim Lân trong sáng tác.
Kim Lân không phải viết ít là do ông không muốn viết. Nhà văn cũng
đã từng vật vã nhiều đêm, từng sắp sẵn giấy bút, phòng văn nhưng cuối cùng
vẫn cứ ngồi im lặng trước trang giấy. Bởi ông thấu hiểu, văn chương cũng
như mọi sáng tạo nghệ thuật khác, cái chính là chất, chứ không phải là lượng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Và hình như chính vì quan niệm ấy mà văn chương đối với Kim Lân là một
cái gì rất thiêng liêng. Không vì lẽ gì buộc được Kim Lân cầm bút khi đó
không phải là máu thịt của mình. Ông chỉ viết được những gì ông thân thuộc
và thấy thế là phải với đạo lý lẽ đời. Chính điều đó đã đem đến cho nhà văn
Kim Lân một cái nhìn nghệ thuật giàu lòng nhân hậu trước hiện thực cuộc
sống và con người. Bởi vinh quang và nhọc nhằn của nghề văn là phải tạo ra
được ấn tượng, găm được vào tâm trí người đọc những ý tưởng, những nỗi
niềm thông qua hình tượng mà mình đã chưng cất lên từ cái nhìn nghệ thuật
giàu rung cảm của nhà văn trước hiện thực cuộc sống.
1.2.1.1. Cái nhìn nghệ thuật giàu lòng nhân hậu về cuộc sống làng quê
bề thế được xếp là một trong những ngôi đình có giá trị lịch sử quý hiếm của
cả nước. Hơn thế làng Phù Lưu của ông còn nổi bật với Ba khu Ngõ Mái.
Khu một cư trú dân Phù Lưu gốc phần nhiều buôn thúng bán mẹt, nào
trầu không vỏ quạch, gáo và muôi. Làm bằng sọ dừa, rổ rá, giần sàng, nồi đất,
người dân quanh năm mặc váy đụp, vá một miếng vải dày ở mông cho lâu
rách. Chợ làng đường xa mưa trơn, xảy chân ngã vỡ vài ba chiếc nồi đất,
nước mắt tiếc của chảy cùng nước mưa, cuộc sống người dân không ăn bơ
làm biếng nhưng vẫn bần hàn cơ cực.
Khu hai chụm lại dân ngụ cư nghèo hèn dẫu đã ở mấy đời cũng vẫn là
ngụ cư. Nhiều lệ làng ràng buộc không được đến chốn đình chung bàn việc
cộng đồng, không được mua chức sắc dù chỉ là cái tên rỗng tuếch như ông
Nhiêu, ông Đồ, nghĩa là không có tiếng nói, không có vị trí tham gia vào gì
cả. Số này khá đông, nhận làng ruộng khoán nộp sản phẩm thóc tính thành
tiền. Chủ ruộng xa xưa do tổ tiên người làng Phù Lưu khai khẩn rừng Báng,
rừng Sặt tạo lập thành ấp. Họ bỏ ruộng đi buôn, khá giả lập phố xây nhà gạch
ngói, rồi nhà tầng bê tông cốt thép, mở cửa hiệu buôn bán.
Khu ba cũng dân ngụ cư phần nhiều làm tạp dịch. Có chút vốn theo
nghề bán rong các thứ bánh tự chế biến từ bánh đúc chấm tương, bánh đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
khoai lang, bánh trôi, chay… cho đến khoai sọ luộc xiên thành que chấm
muối vừng. Rồi may vá áo quần, khâu tay, chăm sóc người già ốm yếu, đi thế
chân phu phen, gánh nước thuê. Việc hèn mọn dành cho cùng đinh khố rách
áo ôm, từ đào huyệt bốc mộ, rửa xương thay áo, mõ làng, đòi nợ thuê.
Cuộc sống bần hàn cơ cực và trăm ngàn khốn khó của người dân nơi
đây đã lắng đọng trong tâm hồn Kim Lân một nỗi buồn day dứt. Hơn nữa đời
sống riêng tư của Kim Lân cũng thua thiệt trăm bề. Sinh ra và lớn lên trong
cảnh vợ lẽ con thêm đầy cay đắng nhọc nhằn, Kim Lân đã sớm ý thức được
kẽ đĩa thơm ngon phổng lỗ mũi, anh thèm quá. Anh muốn nếm một chút xíu
nước suýt cũng chịu không dám. Nỗi nhục con thêm, con nếm bao bọc lấy anh.
Đó là những trang văn đầy sức ám ảnh người đọc trước hiện thực cuộc
sống làng quê qua cái nhìn của Kim Lân. Điều đáng quý là, cái nhìn của nhà
văn không chỉ nghiêng hẳn về một chiều mà trong khổ đau bất hạnh của con
người, nhà văn vẫn nhìn thấy ánh sáng của tình đời, tình người. Sự có mặt của
anh Thân- một người bạn đã an ủi Tư, đã giúp đỡ Tư những lúc khó khăn tuyệt
vọng nhất. Người bạn ấy đã cho Tư ăn để Tư qua được những ngày đói rét.
Cái nhìn cuộc sống của Kim Lân thật trĩu nặng yêu thương trong mọi
nỗi khốn khó khôn cùng của người nông dân sau lũy tre làng.
Trong bối cảnh đời sống Việt Nam những năm 1930-1945 của thế kỷ
trước, đói là một hiện tượng xã hội, một thực tế khổ đau mà con người phải
ghánh chịu lúc đó và còn gây ấn tượng mạnh cho đến tận bây giờ. Trước thực
tế ấy, nhiều nhà văn đã viết với cảm hứng phổ biến là tố cáo, lên án thực dân
phong kiến đã làm cho người ta đói và qua đó đặt vấn đề thay đổi trật tự xã
hội để khẳng định rằng cách mạng là tất yếu. Còn truyện Đứa con người vợ lẽ
của Kim Lân lại khác, ở đây ông không chỉ phơi bày nỗi khổ, nỗi cơ cực bần
hàn của con người là cái đói, cái rét hoành hành mà nhà văn còn đi sâu miêu
tả những con người do hoàn cảnh mà bị coi khinh, coi thường. Viết về cảnh
đời như vậy chắc hẳn Kim Lân không chỉ xót xa cho những cảnh đời lầm than