Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong hát phường vải Nghệ Tĩnh." - Pdf 19

Báo cáo nghiên cứu
khoa học:

"Từ ngữ chỉ không
gian nghệ thuật
trong hát phường vải
Nghệ Tĩnh."
Nguyễn Thị Mai Hoa Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật , tr. 30-37 30

Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật
trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh Nguyễn Thị Mai Hoa
(a)
Tóm tắt. Bài báo đề cập đến từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong hát phờng
vải Nghệ Tĩnh, bao gồm: không gian sinh hoạt cộng đồng; không gian riêng t; không
gian gắn với địa danh. Khi đi vào lời hát phờng vải, việc lựa chọn từ ngữ chỉ không
gian nghệ thuật thờng gắn với điểm nhìn của ngời nói. Do vậy, lớp từ này mang

nhân vật trữ tình gặp gỡ, trò chuyện,
tâm tình. Cũng nh trong kho tàng
CDDC của ngời Việt, KGVL trong
HPV là những không gian bình dị của
làng quê, có quy mô vừa phải và là
những hình ảnh vô cùng gần gũi, quen
thuộc với ngời lao động nh dòng sông,
con đò, bến nớc, mái đình, cây đa,
ruộng lúa, bãi ngô, đờng làng, ngõ
xóm Còn KGTL là không gian thể
hiện trạng thái tâm hồn của các chàng
trai, cô gái phờng vải, là phơng tiện
nghệ thuật để nhân vật bộc lộ tâm
trạng. Vì lẽ đó, trong HPV, kiểu KGTL
xuất hiện nhiều hơn. Do gắn với trờng
nhìn, điểm nhìn của nhân vật trữ tình,
không gian trong HPV trở thành
phơng tiện chiếm lĩnh đời sống, mang
ý nghĩa cảm xúc tâm tởng. Sự xa cách,
những khó khăn cách trở khiến nhân
vật trữ tình cảm nhận đợc sự mênh
mông vô cùng vô tận của không gian với
mời hai bến nớc, mời hai cửa biển,
sông dài biển rộng, tam tứ núi, ngũ lục
sông Nhân vật trữ tình dờng nh ít
biểu hiện tình cảm trực tiếp mà thờng
gửi gắm qua những hình ảnh về không
gian. Trờng nhìn, điểm nhìn của nhân
vật trữ tình thờng xuất phát từ nỗi
lòng, cảm xúc nên không gian cũng

không gian ấy dờng nh đã nhuốm
đầy tâm trạng, lung linh rực rỡ muôn
sắc màu.
2. Từ ngữ diễn tả không gian
nghệ thuật trong hát phờng vải
2.1. Từ ngữ diễn tả không gian vũ
trụ
Hát phờng vải thờng diễn ra
trong một không gian cụ thể với khung
cảnh lao động của những cô gái làm
nghề kéo sợi, dệt vải. Do vậy, từ ngữ
diễn tả không gian vũ trụ chiếm số
lợng không lớn. Tần số xuất hiện
nhiều nhất là không gian trời (28 lợt
lời nam, 29 lợt lời nữ); không gian đất
(6 lợt lời nam, 17 lợt lời nữ); không
gian trăng, sao (13 lợt lời nam, 20 lợt
lời nữ) Tuy nhiên, khi đi vào ngôn ngữ
HPV, không gian vũ trụ cũng biểu đạt
nhiều tầng ý nghĩa, phong phú và sâu
sắc.
a. Không gian vũ trụ trong HPV với
ý nghĩa là không gian vật lí: trên trời,
cả trời, góc trời, trời ma, giữa đất, dới
đất, xuống đất, đất bằng, trăng lên,
trăng nghiêng
Cây đứng giữa đất nói cây đổ
Cây đứng một chỗ nói cây trôi,
Chàng mà đối đợc chàng lôi em về ?
[Chặng II-2, C 4, tr. 237]

không gian tâm lí
(i) Không gian vũ trụ diễn tả các
cung bậc cảm xúc
HPV là hát giao duyên. Mỗi cuộc
HPV đều qua các chặng các bớc với hát
dạo, hát chào hát mừng (chặng 1); hát
đố hát đối (chặng 2); hát mời, hát xe kết
và hát tiễn (chặng 3). Qua các chặng các
bớc ấy, trai gái phờng vải chia sẻ với
nhau bao tâm t, tình cảm, bao nỗi
niềm riêng: có vui - buồn, có hạnh phúc
- khổ đau, có yêu thơng - hờn giận
Những tâm trạng ấy thể hiện khá rõ
qua các hình ảnh không gian vũ trụ thể
hiện trong lời HPV. Cảnh gặp gỡ, giao
duyên gắn với hình ảnh gió mát trăng
thanh, trời lạnh sơng im, sao sáng cả
Nguyễn Thị Mai Hoa Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật , tr. 30-37 32

trời, trăng trong bóng nguyệt gió ngoài
đờng phong, sao sáng trăng trong ;
Cảnh chia li, sự nhớ nhung, nỗi cô đơn
gắn với hình ảnh bơ vơ góc bể chân trời,
trăng thanh vằng vặc giữa trời, trăng

than thở hay trách móc. Tuy nhiên,
ngoài những trờng hợp coi trời nh
một thế lực siêu nhiên có thể đem lại
những điều lành hay điều dữ cho con
ngời để rồi cầu xin (lạy trời, xin trời,
trông trời ), trách móc (trách trời), lời
hát nam thờng nghiêng về than trách,
phán xét trong t thế chủ động (trời ơi,
ông trời, đèn trời, trời cao có thấu không
trời ); còn lời hát nữ lại thờng
nghiêng về cầu xin trong t thế bị động
(khấn nguyền trời bụt, nhờ trời ). Cũng
có những trờng hợp cùng một cách
diễn đạt (tội trời) nhng thái độ và ý
nghĩa biểu đạt lại hoàn toàn khác nhau:
Lời hát nam:
Thơng ai cũng chỉ một ngời,
Em thơng bậy thơng bạ tội trời đó em
[Chặng III-2, C 192, tr. 427]
Lời hát nữ:
Thơng anh em cũng muốn thơng anh,
Bát cơm đã lỡ chan canh vô rồi,
Nuốt vào khổ lắm anh ơi,
Nhả ra thì sợ tội trời ai mang.
[Chặng II-2, C 902, tr. 374]
Cùng đề cập tới vấn đề lấy trời làm
yếu tố chứng giám cho sự chung thuỷ
trong tình yêu (cả hai lời hát đều nói về
đối tợng đợc chứng giám là em),
nhng lời hát nam mang ý nghĩa cảnh

trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 33

trong quá khứ, đồng thời đối sánh với
hiện tại (bây giừ em nghiêng ngửa-
nghĩa là không còn giữ trọn lời thề), và
cuối cùng đặt giữa không gian đất trời
với ý nghĩa chứng giám. Dờng nh vì
vậy, lời ca càng làm tăng nỗi day dứt
trong lòng ngời nghe (em).
Bên cạnh đó, theo quan niệm của
dân gian, tình duyên là chuyện của con
ngời, nhng cũng là số phận (duyên
phận). Vì lẽ đó, trong HPV, không gian
vũ trụ (trời, đất) cũng xuất hiện với ý
nghĩa tác động, chi phối số phận con
ngời, nhất là chuyện tình duyên đôi
lứa: trời xây(xoay) đất vần, nhờ tay tạo
hoá, con tạo xoay vần, ông trời đã
định
Vừa ra vừa kháp (gặp) anh đây,
Một là duyên kì ngộ, hai là trời xây
(xoay) đất vần.
[Chặng I-1, C 83, tr. 183]
2.2. Từ ngữ diễn tả không gian sinh
hoạt tập thể, cộng đồng
Không gian trong CDDC cũng nh
trong HPV thờng gắn với các sinh hoạt

lợt lời nữ); sân (3 lợt lời nam, 12 lợt
lời nữ); vờn (19 lợt lời nam, 24 lợt lời
nữ); ngõ (16 lợt lời nam, 17 lợt lời
nữ); đờng (đàng) (27 lợt lời nam, 45
lợt lời nữ). Mở rộng thêm là không
gian làng xóm, ruộng đồng, bờ ao, cây
đa, mái chùa: làng, xã (1 lợt lời nam,
13 lợt lời nữ); chùa (7 lợt lời nam, 13
lợt lời nữ); ruộng, đồng (9 lợt lời nam,
6 lợt lời nữ); chợ (4 lợt lời nam, 7 lợt
lời nữ); cầu (9 lợt lời nam, 8 lợt lời
nữ) Trong một số trờng hợp, không
gian mở rộng hơn nữa, bao gồm cả núi
non, sông nớc. Điển hình có câu hát sử
dụng một loạt từ ngữ chỉ không gian:
Rú, rừng, núi, động, đèo, truông,
Ngàn xanh cách trở, mây luồng cũng theo.
- Bể, hồ, khe, hói, lạch, rào,
Sông sâu nớc lội ớc ao kết nguyền.
[Chặng II-2, C 57, tr. 252]
Một điều thú vị là sinh hoạt văn
hoá phờng vải ở xứ Nghệ thờng gắn
với các dòng sông. Nghệ An có sông
Lam, sông Giăng; Hà Tĩnh có sông La,
sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố Đây cũng
là một trong những cơ sở để lí giải vì
sao ở HPV, trong khi không gian núi
non (bao gồm non, ngàn, rừng, núi, rú,
đồi, truông, đèo) chiếm tỉ lệ thấp (28
lợt lời nam, 45 lợt lời nữ) thì không

núi - sông trong sự song hành, tơng
hợp, hài hoà, gợi lên khát vọng mãnh
liệt:
Mình em nh con chim phợng hoàng,
Khi bay qua bể, khi đậu ngàn sơn lâm.
[Chặng III-2, C 554, tr. 334]
Đó là không gian núi-sông gắn với lời
thề lứa đôi sắt son, kiên định, vững vàng,
không gì lay chuyển đợc với lời sơn hải,
dặn núi thề non, sông cạn đá mòn:
Ba lời thề khở núi lấp sông,
Em quyết theo anh cho trọn đạo, kẻo
luống công anh đợi chờ.
[Chặng III-2, C595, tr. 340]
Không gian diễn xớng trong HPV
là không gian vừa có tính xác định, vừa
mang ý nghĩa phiếm chỉ nh các loại
hình dân ca khác, do đó, trong lời hát,
các chàng trai cô gái còn đề cập tới yếu
tố không gian thông qua hệ thống từ chỉ
xuất không gian: đây (53 lợt lời nam,
51 lợt lòi nữ); cảnh này, chốn này,
chốn ni, cõi này, chốn cũ (5 lợt lời nam,
13 lợt lời nữ).
Đến đây ngã nớc chia ba,
Muốn về bên Hạ lạy mẹ cha cùng chàng.
[Chặng III-2, C 269, tr. 304]
Đờng dài ngựa ch1ạy cát bay,
Chàng về chốn cũ mấy ngày đến nơi?
[Chặng III-3, C 91, tr. 453]

sống lứa đôi. Nếu nh không gian riêng
t trong lời hát nữ gợi lên những ớc
mơ, mong muốn (chung chăn, chung
nằm, chăn chung gối kề, tay gối đầu
kề ), hoặc hàm ý trách móc, giận hờn
(Chàng về chăn ấm gối êm sao đành;
Chàng về chăn ấm gối ai mà về ) thì
không gian riêng t trong lời hát nam
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 35

lại thờng mang ý nghĩa nh một lời
mời, lời hứa hẹn (Chiếu giờng đã trải
anh mong em về; Có về chăn ấm gối êm
thì về; chung nhà, đắp đôi giải yếm,
nằm một nơi ).
Em đang kéo vải cạnh thềm,
Chàng về chăn ấm gối êm sao đành.
- Hỡi ngời ngồi tựa cạnh thềm,
Có về chăn ấm gối êm thì về.
[Chặng III-3, C 97, tr. 454]
Một điều dễ nhận thấy là không
gian riêng t nói về hạnh phúc lứa đôi
trong CDDC nói chung và HPV nói
riêng thờng không phải là không gian

hoá trong sự miêu tả, nghĩa là có thể
thay địa danh này bằng địa danh khác
mà nội dung vẫn phù hợp, miễn là nó
tơng ứng với hoàn cảnh, tâm trạng của
chủ thể trữ tình (Đờng vô xứ Nghệ
quanh quanh/ Đờng vô xứ Huế quanh
quanh ). Nói cách khác, tính chất
phiếm chỉ là một đặc điểm trong miêu
tả không gian ở CD. Không gian phiếm
chỉ thờng tơng ứng với nhân vật
phiếm chỉ, mang tâm trạng chung, tình
cảm phổ biến của cộng đồng, tập thể.
Với tần số xuất hiện tơng đối
nhiều (58 lợt lời nam, 79 lợt lời nữ),
không gian gắn với địa danh trong HPV
vừa có những đặc điểm chung của
CDDC, lại vừa có những nét riêng của
dân ca xứ Nghệ. Là hình thức sinh hoạt
văn hoá cộng đồng, ở HPV, tính chất
phiếm chỉ của kiểu không gian này thể
hiện rõ qua việc đề cập tới những địa
danh ớc lệ, điển tích nh Chơng Đài,
sông Ngân, Kim Lăng, cõi Thiên Thai,
non Bồng (trờng hợp này chủ yếu xuất
hiện ở chặng hát dạo, hát chào, hát
mừng). Ngay cả những địa danh thực là
tên núi, tên sông, tên các địa giới hành
chính cụ thể của nớc Việt vẫn mang
tính chất phiếm chỉ bởi ta có thể bắt
gặp ở đâu đó trong CDDC các miền

sông Giăng, sông Vịnh, sông Lờng,
Phù Long, Đò Rồng, cầu Giằng Ngoài
ra phải kể đến địa danh chợ, địa danh
đình chùa, cầu, bến:
Chùa Vàng Chung Lĩnh án tiền,
Cự Trì tích thuỷ gái hiền chào xuân,
Kim Liên nổi búp hoa sen,
Núi Vân Hội đột mọc thiếp chàng
kết duyên. [Chặng I-2, C 9, tr.194]
Một nét riêng trong HPV Nghệ
Tĩnh là nhiều không gian gắn với địa
danh có tên làng, tên xã, tên huyện
đợc xuất hiện trong các lời hát của các
nghệ nhân phờng vải có tính danh cụ
thể, do vậy, đã thoát khỏi ảnh hởng
của tính chất phiếm chỉ và mang dấu
ấn riêng của ngời hát.
Một cô gái ở phờng vải Võ Liệt,
Thanh Chơng hỏi Phan Bội Châu:
Nam Đàn tứ hổ là ai,
Nói cho em biết để mai em chào?
[HPV, tr. 142]
Phan đáp:
Nam Đàn tứ hổ là đây,
San, Song, Lơng, Quý, một bầy
bốn anh
(1)
[HPV, tr. 143]
Gắn với giai thoại trên, địa danh
Nam Đàn không còn mang ý nghĩa

khảo sát dù cha thực sự toàn diện
nhng bớc đầu đã cho thấy ở thể hát ví
này, sự lựa chọn từ ngữ chỉ không gian,
nhất là không gian tâm lí chịu sự chi
phối của nhiều yếu tố: Về hoàn cảnh
giao tiếp, HPV là hát giao duyên gắn
với công việc lao động, lại thờng diễn
ra vào thời điểm ban đêm; Về mục đích
giao tiếp, các chàng trai cô gái đến với
phờng vải là để gặp gỡ - làm quen -
giao duyên nên tình nên nghĩa; Về vai
giao tiếp: phe nam luôn trong vai
khách, phe nữ lại trong vai chủ; Về yếu
tố thể thức của cuộc hát phờng vải:
cuộc hát thờng diễn ra theo trình tự
các chặng, các bớc Do đó, từ ngữ chỉ
không gian nghệ thuật cũng đợc sử
dụng một cách linh hoạt, phong phú và
đa dạng, chúng vừa mang đậm màu sắc
dân gian chung của các thể hát ví lại
vừa có nét riêng biệt của làn điệu dân
ca xứ Nghệ.

trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 37

are directly ruled by the contexts of communication.

(a)

NCS chuyên ngành lý luận ngôn ngữ, Trờng Đại học Vinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status