89
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA XIÊM VỚI CÁC NƯỚC
PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI RAMA III (1824 - 1851)
Đặng Văn Chương
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Khi nghiên cứu về quan hệ đối ngoại của Xiêm với các nước phương Tây
thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, người ta thường chú ý đến những thành công nỗi
bật trong chính sách đối ngoại khôn khéo của Xiêm dưới thời vua Mongkut
(Rama IV) và vua Chulalongkon (Rama V) mà hầu như không đề cập đến thời
Rama III trước đó, vì một số nhà sử học phương Tây cho rằng Rama III là một
con người cứng nhắc và thiếu cởi mở. Vương quốc Xiêm dưới thời Mongkut
(1851-1868) và Chulalongkon (1868-1910) đã đạt được những thành tựu to lớn
trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác với các nước phương Tây, dần
dần đi theo quỹ đạo của các nước phương Tây và từng bước hiện đại hóa đất
nước. Tuy nhiên, khi nhìn lại mối quan hệ của vương quốc Xiêm với các nước
phương Tây dưới thời Rama III (1824 – 1851), Xiêm cũng đã đạt được những kết
quả rất quan trọng trong việc giữ gìn nền hòa bình và đã kiên quyết bảo vệ quyền
lợi chính đáng của họ trước những đòi hỏi ngang ngược của các nước đế quốc,
thực dân phương Tây mà nhiều nước chung quanh ở khu vực Đông Nam Á lúc
bấy giờ đã không thể thực hiện được. Chính thành công đó mở đường cho thắng
lợi ngoại giao của Xiêm trong các giai đoạn tiếp theo.
I. Nền tảng chính trỊ, kinh tế - quân sự của đường lối đối ngoại của
Xiêm dưới thời Rama III (1824 - 1851) 90
đã được đẩy mạnh. Hệ thống các quan hệ họ hàng huyết thống được củng cố, hình
thành nên một nhóm các gia đình hoàng tộc và quý tộc hùng mạnh, nắm trong tay
các quyền lực chủ yếu của nhà nước phong kiến. Đó là hệ thống các Bộ do các
hoàng tử, hoàng thân cầm đầu. Rama I đã đưa 11 hoàng thân và công chúa đứng
đầu các bộ ngành trong bộ máy nhà nước Xiêm [1, tr.55].
Dưới thời Rama III, quá trình tập trung hóa cao độ nhà nước phong kiến
trung ương tập quyền càng được đẩy mạnh hơn. Sau khi đăng quang (1-8-1824),
vua Rama III đã cho tổ chức lễ tuyên thệ “thề trung thành với nhà vua” cho các
hoàng tử và quan chức cao cấp. "Một vị quan chức cao cấp nhất của triều đình
(Brahman) đọc lời tuyên thệ thề trung thành với nhà vua và lời nguyền rủa những
ai không trung thành với nhà vua" [9, tr.5]. Sau khi đọc lời tuyên thệ, các hoàng
tử và quý tộc uống "nước trung thành" (the water of allegiance).
Việc làm đầu tiên sau khi đăng quang, Rama III bổ nhiệm các quan chức
vào bộ máy Nhà nước trung ương. Ở Xiêm, có hai tầng lớp quan chức chính:
quan chức hoàng gia (gồm các hoàng tử) và quan chức quý tộc. Chỉ có các hoàng
tử mới được bổ nhiệm đứng đầu các bộ. Quan chức quý tộc cũng được phong
chức tước. Số quan chức quý tộc chiếm một phần lớn trong công việc hành chính
của chính phủ. Họ đã thực sự người thực thi các chính sách, chủ trương của Nhà
nước.
Hoàng tử Krom Mun Sakdiphonlasep (chú và cũng là người bạn thân của
Rama III) được chọn giữ chức vụ Upparat (phó vương), quyền lực chỉ sau nhà
vua. Nhà vua phong chức Hoàng thái hậu cho mẹ của mình và bổ nhiệm 8 hoàng
tử (trong đó 2 người chú, 3 em trai) vào các chức quan cao trong triều đình.
Đến năm 1830, để hoàn thiện các bộ, ngành, Rama III đặc biệt quan tâm đến
ba bộ quan trọng nhất: Bộ Nội vụ (Mahatthai), Bộ Chiến tranh (Kralahom) và Bộ 92
Tài chính (Phraklang) phụ trách cả ngoại thương. Ông cử Chao Phraya
lượng xuất khẩu ngày càng tăng. Đây là thành tựu vượt bậc so với các nước khác
trong vùng. Ngay sau khi giành lại độc lập (1767), Taksin và các vua đầu tiên của
vương triều Chakri đã rất quan tâm đến vấn đề ngoại thương. Cũng như các triều
vua trước, Rama III càng đẩy mạnh việc buôn bán với Trung Quốc, một bạn hàng
truyền thống của Xiêm, luôn chiếm một vị trí lớn nhất trong ngoại thương của
Xiêm, kế đến là khu vực các nước Đông Nam á như các tiểu quốc ở bán đảo Mã
Lai, quần đảo Inđônêxia, Singapo, Campuchia, Việt Nam (Hà Tiên, Gia Định,
Hội An) Nhờ vậy, trong khoảng 20 năm cuối của thế kỷ XVIII và nửa đầu thế
kỷ XIX, ngoại thương của Xiêm phát triển hết sức mạnh mẽ (nhất là dưới thời
Rama III), mang lại nguồn thu nhập lớn cho Nhà nước. Vào nửa đầu thế kỷ XIX,
tổng giá trị buôn bán hằng năm trong xuất khẩu của Xiêm có năm lên tới
5.500.000 bạt, còn nhập khẩu là 4.300.000bạt [5, tr. 122]. Giá trị xuất khẩu năm
1850 là 5.585.000 bạt, vượt xa giá trị nhập khẩu 1.200.000 bạt [7, tr.43]. Từ thu
nhập của Nhà nước dưới thời Rama II là 5.169.000 bạt tăng lên 14.000.000 bạt
(khoảng 8,5 triệu US lúc bấy giờ) vào cuối thời Rama III [4, tr.16].
Cùng với việc phát triển nhanh chóng về ngoại thương, Rama III tiến hành
cải cách việc thu thuế. Trước đây thu thuế bằng thóc nay thu thuế bằng tiền, thêm
vào đó nhà nước cho đấu thầu việc thu thuế (nhiều người Hoa thắng thầu trong
việc thu thuế), nên nguồn thu của nhà nước đã tăng lên đáng kể. Việc thu thuế
bằng tiền thay thế cho thuế bằng hiện vật, chứng tỏ sự phát triển của nền kinh tế
hàng hóa. Từ đó, Xiêm càng có điều kiện thuận lợi để đầu tư cho quốc phòng ,
tăng cường đối phó với sự đe doạ xâm lược ngày càng tăng từ chủ nghĩa thực dân
phương Tây đối với các nước ở khu vực Đông Nam Á, mà Rama III đã sớm nhận
thức được. Chống lại sự xâm lược của phương Tây chứ không bài xích phương
Tây, Rama III đã mạnh dạn thuê các chuyên gia quân sự châu Âu huấn luyện cho 94
quân đội Xiêm theo mô hình và chiến thuật quân sự của phương Tây. Họ còn giúp
Tây từ thế kỷ XVI cho đến khi Ayuthaya (thủ đô của Xiêm) bị sụp đổ 1767, Xiêm
đã khá thành công, có nhiều kinh nghiệm trong việc dựa vào nước này để chống
lại nước khác nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Xiêm đã từng biết cách dựa vào
Hà Lan để chống lại thế lực ngày càng lớn của Tây Ban Nha, nhưng khi thế lực
của Hà Lan ngày càng chi phối mạnh mẽ ở Xiêm thì họ lại tìm cách dựa vào
Anh để chống lại Hà Lan Và cũng như vậy, họ đã biết cách liên kết với Nga để
đi đến tiếp xúc với Pháp, Anh, Đức, Bỉ vào thế kỷ XIX
1. Quan hệ Xiêm - Anh, từ bất hợp tác đến hợp tác:
Quan hệ đối ngoại của Xiêm dưới thời Rama III với các nước phương Tây
đáng chú ý hơn cả là quan hệ với nước Anh. Người Anh đã đến Xiêm lần đầu tiên
vào năm 1512, một năm sau khi người Bồ Đào Nha đặt chân đến Malacca, sau
khi đã thành công trong các cuộc phát kiến địa lý đầy mạo hiểm và gian truân.
Sau đó, công ty Đông Ấn của Anh đã thiết lập quan hệ thương mại và ngày càng
có ảnh hưởng to lớn tại Xiêm. Sau một thời gian bị ngưng vì các cuộc cách mạng
tư sản và chiến tranh Napoléon nổ ra ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX, nước Anh lại đẩy mạnh việc xâm chiếm khu vực Đông Nam Á (sau 1815).
Sau khi chiếm được Singapo (1819), Anh lại tập trung sự chú ý vào bán đảo Mã
Lai (Malaixia) và thị trường Xiêm. Năm 1822, một chiến hạm chở đại sứ Anh Jôn
Krâu-phéc-đơ lên đường và nhanh chóng thả neo ở sông Mê-nam (Xiêm). Trong
quá trình đàm phán, phía Xiêm đề nghị Anh bán vũ khí cho mình, còn phía Anh
yêu cầu được hoàn toàn tự do buôn bán và quyền tối huệ quốc. Kết quả là ngày
10/6/1822 hai bên đã đi đến kí hiệp ước, theo đó tàu của Anh được phép đi sâu
vào sông Mê-nam nhưng với điều kiện là phải tháo dỡ đại bác cùng các vũ khí
khác lên bờ và phía Xiêm được phép kiểm tra tàu Anh. Về phần mình cơ quan hải 96
quan của Xiêm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán của người Anh và
đảm bảo không tăng thuế trong tương lai.
Nhớ đó, ngày 20 - 6 -1826, Xiêm đã kí với Anh một hiệp ước mới trong tư
thế hoàn toàn bình đẳng với Anh. Nội dung chủ yếu của hiệp ước là hai bên thỏa
thuận phân chia ảnh hưởng trên bán đảo Mã Lai. Cụ thể là:
1. Anh thừa nhận quyền bảo hộ của Xiêm đối với Patani, Trengganu, Kedah
và Kelantan. Ngược lại, Xiêm đồng ý không cản trở việc buôn bán của người Anh
ở những tiểu quốc này và không can thiệp vào công việc nội bộ của họ, các tiểu
quốc này tiếp tục gửi cây vàng, cây bạc đến triều cống Xiêm như trước đây.
2. Người Anh được phép buôn bán ở Kedah mà sẽ không phải trả thêm thuế
quan. Anh không được tìm cách giúp đỡ Sultan Ahmad Tajuddin (người đã bị
Xiêm trục xuất) để trở lại ngôi vua. Anh phải buộc ông ta rời khỏi vùng Penang,
nơi người Anh đang kiểm soát.
3. Xiêm đồng ý không can thiệp vào Perak và Anh cũng đồng ý không can
thiệp vào chính quyền của Perak và Selangor.
4. Thương nhân Anh được tự do mua, bán hàng hóa tại Bangkok và chỉ trả
thuế hải quan.
5. Xiêm thừa nhận quyền kiểm soát của Anh ở Penang và các tỉnh phía tây
[6, tr.188].
Hai bên khẳng định một nền hòa bình vững chắc Xiêm - Anh, tự do buôn
bán với nhau. Ngoài ra, hiệp ước này còn quy định: nhà nước Xiêm từ bỏ độc
quyền của mình trong thương mại, thay toàn bộ các loại thuế đánh vào tàu Anh 98
bằng một thuế duy nhất là 750 bạt đối với mỗi mét chiều dài và rộng của tàu,
khoản thuế mà cả Xiêm và Anh đều chấp thuận.
Như vậy, Xiêm không hề bị thua thiệt trong bất cứ một điều khoản nào cả
đối với Anh. Chính vì vậy, sau này khi Anh thắng lợi trong cuộc chiến tranh
thuốc phiện ở Trung Quốc vào những năm 40 của thế kỷ XIX, Anh đòi Xiêm xét
lại, ký lại các điều khoản của hiệp ước này theo chiều hướng có lợi hơn đối với
Baptist mission đến Xiêm vào năm 1833. Nhóm Presbyterien đến Băng Cốc vào
các năm 1840, 1847 [8, tr.139]. Trong các nhóm truyền đạo nói trên có nhiều bác
sĩ cấp phát thuốc và chữa bệnh miễn phí và giúp cho Xiêm cách tiêm chủng đậu
mùa. Ngày 18-7-1835, nhà truyền đạo Wyliam đã mang theo máy in. Nhờ đó,
tháng 6 năm 1835, thầy giảng Robinson đã chế tạo ra máy in chữ Thái đầu tiên ở
Băng Cốc. Năm 1849, chính phủ Xiêm lần đầu tiên đã in thông báo cấm buôn bán
thuốc phiện. Năm 1833, thông qua các nhà truyền giáo Xiêm đã chế tạo tàu thủy
chạy bằng máy trên sông Chao-phray-a [8, tr.140].
Sau đó, Rama III còn chủ động đề nghị ký một hiệp ước tương tự như trên
với Pháp nhưng không thành. Bảy năm sau, năm 1840 Xiêm chủ động ký với Mỹ
một hiệp ước khác nhằm đẩy mạnh trao đổi thương mại giữa hai nước. Từ 1826 –
1840, Rama III đã sáu lần tiếp sứ thần phương Tây đã giúp ông nhận thức được
rằng là một nước nhỏ, đứng trước các đối thủ lớn như vậy, phải biết cách để sinh
tồn. Từ đó, Rama III thận trọng và dè dặt hơn trong quan hệ đối ngoại với Mỹ.
Sau hiệp ước 1833 và 1840 giữa Mỹ và Xiêm, cũng như Anh, Mỹ không
thoả mãn tham vọng của mình. Mỹ muốn lấn tới hơn nữa. Các hiệp ước Mỹ ký
với Trung Quốc năm 1844 đem lại cho họ những món lợi khổng lồ, điều đó thôi
thúc Mỹ tiếp tục tìm kiếm thị trường và đỏi hỏi ở nước Xiêm nhiều hơn nữa. Năm
1850, tổng thống Mỹ Taylor đã cử Josep Barestier đến Băng Cốc yêu cầu Xiêm 100
xét lại hiệp ước đã ký năm 1833. Triều đình Xiêm một mặt tỏ ra nhu mì, tiếp thu
những ý kiến phía Mỹ đưa ra, song mặt khác soạn thảo một công hàm gửi tới
Josep Barestier với nội dung từ chối những yêu cầu của Mỹ. Trước sự từ chối của
Xiêm, Mỹ đe doạ sẽ tấn công Xiêm, Mỹ tuyên bố rằng: Mỹ sẽ cấm thương nhân
Xiêm tới Mỹ buôn bán, kế tiếp Mỹ phát động phong trào bài trừ hàng hóa của
Xiêm. Mỹ đóng cửa không thông thương buôn bán với Xiêm, mục đích của Mỹ là
cô lập Xiêm về kinh tế, buộc Xiêm chấp nhận các điều khoản của Mỹ.
nước đó không thể gây ra cuộc chiến tranh xâm lược đối với Xiêm. Ngược lại,
ông đã tranh thủ tiếp nhận được một số thành tựu về khoa học và kỹ thuật tiên
tiến của phương Tây. Có thể đó là lý do mà một số học giả phương Tây cho rằng
Rama III “là người bảo thủ và cứng rắn”.
4. Nhờ những thành tựu to lớn trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại mà
Xiêm đạt được dưới thời Rama III đã tạo điều kiện thuận lợi cho vương quốc
Xiêm thực hiện cải cách, đổi mới trong thời Mongkút và Chulalongkon, đồng thời
giúp Xiêm tiếp tục giữ vững độc lập, phát triển đất nước theo con đường hiện đại
của các nước phương Tây.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
5. Akin Rabibhadawa. The organization of Thai Society in the early
Bangkok period, 1782-1873, Amarin Printing & Publishing Public
Compagny limited, Bangkok (1996)
6. B.J. Terwiel. A history of modern Thailand 1767 - 1942, University of
Queensland Press, London (1983) 102
7. Đặng Văn Chương. Quan hệ Xiêm - Việt từ 1782 đến 1847 (Luận án tiến
sĩ), Hà Nội (2003)
8. Đào Minh Hồng. Chính sách đối ngoại của Thái Lan (Xiêm) nửa cuối
thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (luận án tiến sĩ lịch sử), Thành phố Hồ Chí
Minh (1999).
9. Lê Văn Quang. Lịch sử vương quốc Thái Lan, Nxb Tp Hồ Chí Minh
(1995).
10. Nigel Kelly. History of Malaya & South - East Asia, Heinemann Asia,
Singapore (1995).
11. Nguyễn Khắc Viện. Thái Lan - Một số nét về chính trị, kinh tế xã hội,
development.