Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Quốc Thanh

CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGHỆ
THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN KIM LÂN Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2006
Mục Lục
Trang
MỞ ĐẦU 1

3.2. Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân ......... 93
3.2.1. Dạng cấu trúc trần thuật theo trình tự thời gian...................... 94
3.2.2. Dạng cấu trúc trần thuật rẽ ngang lồng ghép nhiều tầng bậc trần
thuật, ở nhiều thời đ
iểm khác nhau ...............................................................99
3.2.3. Dạng cấu trúc trần thuật theo tâm lí........................................105
3.2.4. Dạng cấu trúc trần thuật đảo lộn trình tự thời gian ................111
Kết luận .........................................................................................................116
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1921,
quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, tỉnh Bắc Ninh. Bởi rất mê tuồng nên
nhân vật tuồng Kim Lân đã trở thành bút danh của ông từ những năm bốn
mươi của thế kỉ trước. Kim Lân sinh ra ở mảnh đất “đời tạo văn nhân”,
“nhân tài nảy nở” nhưng lại không giống như nhiều nhân tài ở mảnh đất
này. Ông có một đời sống riêng thua thiệt: con một ngườ
i vợ thứ ba trong
một gia đình bình thường, bị mọi người rẻ rúng... Do điều kiện khó khăn
nên Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học. Sau đó làm thợ sơn guốc, sơn bình
phong, thợ sơn tranh sơn mài... Kim Lân đến với văn học ban đầu là từ say
mê và ham thích. Ông bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của
Kim Lân đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắ
c chủ nhật. Ông

nhưng ở giai đ
oạn nào ông cũng có tác phẩm hay. Ông là cây bút viết
truyện ngắn vững vàng. “Thành công của Kim Lân chủ yếu do năng khiếu
bẩm sinh và vốn sống của người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Một lòng đi
về với “đất”, với “ thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn” [89,
tr.758].
Truyện ngắn Kim Lân hấp dẫn và được các nhà nghiên cứu quan tâm,
đề cập đến ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, v
ấn đề cảm hứng chủ đạo
và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân cần được xem xét
ở bình diện rộng và mức độ bao quát hơn để hiểu rõ tài năng và đóng góp
của nhà văn.
2. Giới hạn của đề tài
2.1. Đối tượng khảo sát
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Tác phẩm đã xuất bản:
- Làng, truyện ngắn, Tạ
p chí Văn nghệ, 1948, nhà xuất bản Văn nghệ,
Hà Nội, 1955.

3
- Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội,
1955.
- Ông lão hàng xóm (cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng), nhà
xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1957.
- Anh chàng hiệp sĩ gỗ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1958 .
- Cô gái công trường, truyện phim, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội,
1960.
- Vợ nhặt, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn học, Hà nội, 1984.
- Ông C
ản Ngũ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1984.

bốn nhóm. Một là, các bài vi
ết của nhà nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật
truyện ngắn Kim Lân. Hai là, một số bài viết về hai tác phẩm (Làng, Vợ
nhặt) giảng dạy ở trường phổ thông. Ba là, các bài viết của Kim Lân nói về
những tác phẩm của mình. Bốn là, luận văn nghiên cứu về đặc điểm truyện
ngắn Kim Lân. Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã đi vào đặc điểm truyện
ngắn củ
a Kim Lân ở những phương diện và những mức độ khác nhau.
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ hệ thống những ý kiến nổi
bật, những nhận định quan trọng liên quan đến đề tài.
3.2. Để hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận văn, chúng tôi phân chia ra các nhóm ý kiến sau
3.2.1. Hướng tiếp cận về nội dung
Kim Lân đến với văn học bằng sự say mê ham thích và ý chí vượt lên
số phận. Ông bước vào đời sống văn học còn bởi sự gặp gỡ tình cờ, gắn bó
với nhà văn Nguyên Hồng. Nguyên Hồng - người bạn văn của Kim Lân đã
nhận xét về những tác phẩm đầu tay của ông:
Từ giữa những năm 1943 - 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim
Lân. Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân
chương chướng thế nào ấy… Như
ng rồi, chỉ bập vào mấy truyện của anh
mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, trái lại nó có cái gì
chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ đau… [31, tr.10].

5
Ở lời nhận xét này, nhà văn Nguyên Hồng đã rất chính xác khi đánh
giá về phương diện nội dung và mối quan hệ giữa tác phẩm - hiện thực
trong văn chương của Kim Lân. Cũng gần với quan điểm của nhà văn
Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra nhận xét:
Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những người

cảm hứng sâu sắc nhất khi tôi viết Làng [16, tr.268].
Ở những ý kiến trên, Kim Lân khẳng định viết văn đối ông như một
sự đòi hỏi cho mình một thân phận, một chỗ đứng trong xã hội. Văn ông là
những câu chuyện về bản thân và những người gần gũi trong làng xóm.
Nguồn cảm hứng của ông là con người làng quê, quê h
ương và cách mạng.
Năm 1996 trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân, nhà nghiên cứu
Lữ Huy Nguyên có trích dẫn ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu:
Vương Trí Nhàn, Lữ Quốc Văn và Nguyễn Đăng Mạnh:
Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại
diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách đàng hoàng
chững chạc [54, tr.16]
.
Đó là những trang số phận của các đầu thừa đuôi thẹo, được đưa từ
các xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chất chứa nhân thế, nhân
tình hoặc những trang tuy nghiêng về nhiều phía phong tục, trình bày cặn
kẽ những thú chơi lành mạnh…, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm
hồn của một người nông dân trước cách mạng - những người số
ng vất vả,
khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa [54, tr.18].
Kim Lân là một nhà tiểu thuyết phong tục hạng nhất của Việt Nam
[54, tr.18 - 19].
Ở ba ý kiến trên, các nhà nghiên cứu đã rất tinh tế khái quát đặc điểm
về nội dung trong truyện ngắn của Kim Lân. Từ các ý kiến này, nhà nghiên
cứu Lữ Huy Nguyên bổ sung và nhấn mạnh:
Tuy nhiên nếu có dịp đọc lại các tác phẩm của Kim Lân mà chủ yếu
Là truyện ngắ
n, ta sẽ thấy ông không phải chỉ là đại diện văn học của loại
nhân vật đầu thừa, đuôi thẹo; ông còn là đại diện văn học sáng giá của


hiện lên được cuộc sống và con người làng quê Việt Nam cổ truyền, tuy

8
nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn có nhiều thú vui thanh lịch. Những con người
thật thà chất phác, nhưng thông minh, hóm hỉnh và tài hoa, đã đặt tất cả
niềm say mê của mình vào những thú chơi giản dị mà tao nhã tinh tế ấy,
chẳng khác gì những tâm hồn nghệ sĩ say mê sáng tạo nghệ thuật [90,
tr.758].
Ở ý kiến này, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cũng nhấn mạnh hai nội
dung nổi bật trong truyện ngắn Kim Lân là: con người, cu
ộc sống nông
thôn và những sinh hoạt văn hoá phong phú ở vùng thôn quê.
Sau cách mạng tháng tám, Kim Lân tìm thấy nguồn cảm hứng mới, ý
thức hơn về trách nhiệm của một nhà văn cách mạng:
Sau cách mạng tháng tám, ngòi bút Kim Lân tập trung vào phương
diện xã hội chính trị, của đời sống nông dân gắn liền với vận mệnh đất
nước. Về đề tài này, Làng và Vợ nhặt xứng đáng được xem là những truyện
ngắn xuất s
ắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại [62, tr.49].
Với quan điểm lịch sử và cái nhìn biện chứng sắc sảo, Nguyễn Đăng
Mạnh đã đưa ra nhận xét thuyết phục về đặc điểm nội dung và vị trí truyện
ngắn của Kim Lân. Cũng cùng quan điểm này, khi giới thiệu truyện ngắn
Làng, nhà nghiên cứu Lữ Huy Nguyên khẳng định: “Phải nói đ
ây là một
chuyển biến mới, khá thành công của Kim Lân viết về người nông dân sau
cách mạng” [54, tr.20].
Năm 1991, Trần Ninh Hồ đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá về truyện
ngắn của Kim Lân:
Tuy tầm vóc, vị trí của mỗi nhà văn một khác, nhưng Kim Lân cũng
là một nhà văn thường đến với ta trong những khoảng chợt nhớ của đời

người lao động nghèo. Ở nội dung này, tác giả khảo sát các vấn đề: phong
tục và sinh hoạt văn hoá làng quê, những mảnh đời đầu thừ
a đuôi thẹo,
cuộc sống mới của người lao động nghèo sau cách mạng tháng tám. Hai là,
tấm lòng của nhà văn Kim Lân. Nội dung này bao gồm vấn đề: cái tôi giàu
lòng nhân ái, sự trân trọng và ca ngợi cái đẹp trong tâm hồn của người lao
động nghèo. Với những nội dung trên, có thể nói tác giả Đặng Thị Huy

10
Lam đã tìm hiểu nội dung của truyện ngắn Kim Lân theo các định hướng
của những công trình nghiên cứu đã có. Đóng góp của tác giả là đã hệ
thống và cụ thể các quan điểm để phục vụ cho luận văn của mình.
3.2.2. Hướng tiếp cận về nghệ thuật
Như đã trình bày, các công trình nghiên cứu truyện ngắn của Kim Lân
chưa nhiều. Đặc điểm các công trình nghiên cứu v
ề nghệ thuật truyện ngắn
của Kim Lân cũng chỉ ở mức độ riêng lẻ, chưa tập trung và hệ thống.
Năm 1986 trong bài Văn xuôi Kim Lân, nhà nghiên cứu Lại Nguyên
Ân đưa ra nhận định:
Có lẽ do số lượng tác phẩm không nhiều nên truyện ngắn Kim Lân
cũng không thật đa dạng về các kiểu cấu tứ. Bằng vào hai tập Vợ nhặt và
Nên vợ nên chồng, có thể kể đượ
c khoảng ba kiểu truyện chính. Kiểu phổ
biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính cách. Nhiệm vụ nghệ
thuật mà nhà văn vẽ ra ở đó là vẽ ra một con người (…) Hơi khác chút ít
với kiểu truyện tính cách này, Vợ nhặt là truyện ngắn không chú tâm hẳn
vào nhân vật nào (…) Diễn biến của truyện không nhằm khám phá một nét
tính cách nào của một trong số các nhân vật. Cái được chủ yếu
ở đây là
miêu tả một tình huống. Đây có thể gọi là ước lệ là truyện ngắn tình huống

ăn , Kim Lân bộc bạch:
Khi sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng.
Trong truyện ngắn của tôi đầy ắp chi tiết. Tôi nói bằng chi tiết. Truyện của
tôi viết ra không ai kể lại được .
Truyện Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Ông
lão hàng xóm nếu kể cốt truyện ra thì tẻ nhạt không có gì đáng chú ý cả.
Chi tiết lấn át cốt truyện, chi tiết thể hiện một cách tinh tế nhất và rõ ràng
nhất tính cách nhân v
ật cũng như hoàn cảnh sống của nhân vật [16,
tr.264].
Năm 1996 trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân, nhà nghiên cứu
Lữ Huy Nguyên đã mượn lời của nhà nghiên cứu Nguyên An để đánh giá

12
về truyện ngắn của Kim Lân “ông là một nhà văn kỹ lưỡng, tinh tế trong
việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu và tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình
ảnh. Vì thế mà Nguyễn Khải coi ông là một bậc thầy để noi theo” [54,
tr.18].
Năm 1994 trong bài viết về truyện Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân nói:
Tôi quan niệm: truyện ngắn cũng như tiểu thuyết và điều quan trọng
nhất là nhân vật. Nhân vậ
t phải có tính cách và phải hành động theo tính
cách nhân vật một cách tự nhiên, không giả tạo sáo rỗng (…) Ngôn ngữ
trong truyện ngắn phải tinh hơn, gạn lọc kỹ hơn và phải có ý tứ từ bên
trong (…) Tôi nghĩ văn chương bây giờ kêu quá, bóng bẩy quá cũng như
đánh bóng mạ kền, cái đó không cần có trong văn chương; điều quan trọng
văn chương phải thật giản dị. Văn của tôi đã nói đượ
c tiếng nói và suy nghĩ
của tôi [16, tr.41].
Trong cả ba ý kiến trên, Kim Lân và các nhà nghiên cứu đều khẳng

Yêu thương ca ngợi là nét giọng chủ đạo trong các truyện ngắn Kim
Lân. Song ở mỗi truyện ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi nhân vật trong từng điều
kiện Kim Lân sử dụng các giọng khác nhau để miêu tả. Giọng phẫn uất lẫn
mỉa mai trong “Đứa con người vợ lẽ” giọng cảm thương và mỉa mai
trong“Con chó xấu xí” giọng cảm thông lẫn kính phục trong “Thượng
tướng Tr
ần Quang Khải - Trạng vật”.
(…)
Trong các truyện tâm lí xã hội của Kim Lân ta thường bắt gặp một
giọng kể, giọng tả đồng tình, cảm thương [68, tr.232].
Từ những ý kiến đánh giá trên tác giả Bảo Nguyên đã đưa ra kết luận
khái quát:
Ngữ âm từ vựng, giọng điệu được bàn tay nhà nghệ sĩ tài ba Kim Lân
đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xuôi ”. Đ
ó là một
đoá hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả. Đó là phong cách giản
dị mà độc đáo của Kim Lân [68, tr.233].

14
Năm 2005 trong luận văn Đặc điểm truyện ngắn Kim Lân, tác giả
Đặng Thị Huy Lam dành hai chương để khảo sát nghệ thuật truyện ngắn
của Kim Lân. Ở chương Nghệ thuật dựng truyện và xây dựng nhân vật, tác
giả đã đi sâu tìm hiểu các vấn đề cốt truyện, tình huống, chi tiết, nghệ thuật
miêu tả ngoại hình, miêu tả và biểu hiện tâm lý nhân vật. Ở chương
Ngôn
ngữ và giọng điệu, ngoài những định hướng của công trình nghiên cứu có
trước, tác giả luận văn đã có những tìm tòi, phát hiện về đặc điểm câu văn
và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn của Kim Lân.
3.3. Nhận định chung
Các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Kim Lân được thực

rãi trong luận văn. Chúng tôi sẽ đi từ việc khảo sát phân tích từng truyện
ngắn, các yếu tố nổi bật thể hiện cảm hứng và nghệ thuật trần thuậ
t, để từ
đó rút ra những nhận xét có tính tổng hợp, khái quát. Đồng thời, để triển
khai vấn đề một cách khoa học, biện chứng, chúng tôi sẽ đặt đối tượng
nghiên cứu trong mối quan hệ với các yếu tố khác của hệ thống để làm rõ
cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Kim
Lân.
Vận dụng phương pháp hệ thống, chúng tôi nh
ằm mục đích phát hiện
tính lặp lại nhiều lần của các phương diện liên quan đến đề tài. Từ bước tập
hợp các phương diện lặp lại liên quan đến đề tài, chúng tôi sẽ đi đến việc
khẳng định những đặc điểm mang tính ổn định về cảm hứng và nghệ thuật
trần thuật. Từ đó tạo cơ sở vững chắ
c cho những nhận xét của luận văn.
Ngoài các phương pháp vừa nêu, chúng tôi còn sử dụng phương pháp
so sánh và thống kê ở những chừng mực nhất định. Khi trình bày cảm hứng
chủ đạo, chúng tôi có so sánh những tác phẩm của Kim Lân với những tác
phẩm của các nhà văn Nguyễn Tuân, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Thạch Lam…
Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi nhằm để hình dung rõ vấn đề chứ
không nhằm mục đích khẳng định sự h
ơn kém ở các nhà văn. Phương pháp

16
thống kê sẽ được sử dụng để xem xét các phương thức trần thuật, các dạng
cấu trúc trần thuật có tính tập trung cao và có tấn số xuất hiện nhiều lần
trong truyện ngắn của Kim Lân, từ đó hướng đến việc tìm ra các đặc điểm
riêng, ổn định, có dụng ý của nhà văn, nhằm làm vững chắc hơn cho những
nhận xét của luận văn.
5. Những đ

gồm khuynh hướng triết học, chính trị, đạo đức, khuynh hướng nhận thức,
khuynh hướng tình cả
m, thẩm mỹ thể hiện trong tác phẩm. Tư tưởng của
tác phẩm có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về thế giới, với quan niệm về
nhân sinh, với tình cảm và thái độ của nhà văn. Tư tưởng của nhà văn sẽ
chi phối sự đánh giá các hiện tượng đời sống trong tác phẩm. Xuất phát từ
đặc điểm này, nghiên cứu văn học đã hình thành khái niệm cả
m hứng chủ
đạo với tư cách là nhân tố tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật.
Cảm hứng thường được hiểu là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý
được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc
tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả. Cảm hứng là hứng thú sáng
tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng. Hê Ghen và Bêlinxki đều dùng
t
ừ “cảm hứng” “để chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc
chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy
bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và
cải tạo thực tại” [dẫn theo 74, tr.141]. Theo Pôxpêlốp thì cảm hứng là “sự
lý giải,
đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với tính cách được miêu
tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm
hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [74,
tr.141]. Cảm hứng là một phương diện chủ quan thuộc về nội dung tư
tưởng tác phẩm. Lênin từng viết trong bút ký triết học: “Tư tưởng - đó là

18
nhận thức và khát vọng (mong muốn) của con người” [dẫn theo 57, tr.265].
Cùng quan điểm với Lênin, Pôxpêlốp khẳng định:
Tư tưởng của tác phẩm văn học là sự thống nhất tất cả các mặt nội
dung của nó như hệ đề tài, hệ vấn đề và sự đánh giá tư tưởng - cảm xúc đối

như là xuyên suốt vào nó. Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như
là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính
mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện”
[dẫn theo 20, tr.208].
Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Bêlinxki quan niệm cụ thể hơn:
Trong những tác phẩm thi ca (hiểu theo nghĩa rộng: tác phẩm ngh

thuật - người soạn) đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu
tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn toả vào
trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê. Tư tưởng trong sáng
tạo thi ca - đó chính là cảm hứng… Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình
nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó [dẫn theo 20, tr.208].
Cũng với quan
điểm trên, Bêlinxki viết:
Nghệ thuật không cho phép thâm nhập vào nó những tư tưởng triết
học trừu tượng, những tư tưởng lý tính; tư tưởng thi ca - đó không phải là
một thứ tam đoạn luận, không phải là giáo điều, không phải là qui luật; đó
là nhiệt tình sinh động. Cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư
tưởng nào đó trở thành niề
m say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng
lượng và thành khát vọng nồng nhiệt [dẫn theo 20, tr.209].
Từ những quan điểm trên, Bêlinxki đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu
cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng
tác của nhà văn ấy: “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê
bình là giải đoán cảm hứng chủ
đạo của tác phẩm” [dẫn theo 20, tr.209].
Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Huỳnh Như Phương đưa ra quan
điểm:
Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm,
vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật,

nguồn: lòng “ham viết, thích viết” và “nhiều sự nhăng nhít, vô lý” của cuộc
sống xung quanh nhà văn lúc ấy. Mặc nhiên, việc cầm bút viết văn của
người thợ sơn guốc đó có ý nghĩa lớn lao, mang tính nhân đạo và nhân văn

21
là “đòi cho mình một thân phận, một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc
sống nhỏ bé quẩn quanh của quê hương” [54, tr.15]. Và “người thợ sơn
guốc” ấy đã có truyện ngắn đầu tay đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật số
120 ra ngày 26-7-1942. Đó là truyện Đứa con người vợ lẽ thấm đẫm tính
chất tự truyện. Cái “nhăng nhít, vô lý ” từ cảnh ngộ của bản thân mình đến
cái “nhăng nhít, vô lý” ở xung quanh dần dần được Kim Lân đưa vào các
truyện của mình (Nỗi này ai có biết - 1943, Cơm con - 1943,…). Những
trang viết theo cuộc đời, càng ngày nhà văn càng mở rộng không gian nghệ
thuật trong các truyện của mình, từ một số mặt của cuộc sống ở vùng quê
quen thuộc của những lớp người “đầu thừa đuôi thẹo” (chữ của Vương Trí
Nhàn) trước năm 1945,
đến những con người đói nghèo lam lũ vì miếng
cơm tấm áo đổi đời, đi theo cách mạng và kháng chiến sau năm 1945. Theo
trình tự những trang viết của Kim Lân, người đọc có thể thấy nội dung và
chất lượng các truyện ngắn cứ mở dần mở dần, cứ cao dần cao dần…
1.2.2. Về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn của Kim Lân
Kim Lân cho rằng “điều quan trọng là văn chương phả
i thật, phải
giản dị” [16, tr.39]. Nhà văn không bằng lòng với thứ văn chương “kêu
quá, bóng bẩy quá, cứ như là đánh bóng mạ kền …” [16, tr.39]. Tất nhiên,
cái mà Kim Lân gọi là thật là cái thật của văn chương, theo cách văn
chương. Và cái giản dị cũng vậy, nó là cái giản dị nghệ thuật. Bởi vậy,
nhìn vào các truyện của Kim Lân viết, người đọc bắt gặp hầu hết là những
cảnh những người mà nhà văn đã từng sống, từng quen biết, từng gần gũi
và hiểu biết một cách cặn kẽ, sâu sắc. Đó là những làng quê xung quanh

cái mà họ vốn có và đã có, về cuộc sống mà họ đ
ã sống. Những điều ấy có
khi “nhăng nhít, vô lý” nhưng đều là hiện thực đáng kính, đáng yêu, như là
dấu vết riêng biệt của một thời đã qua không còn lặp lại.
Hầu hết những truyện ngắn viết sau năm 1945, “Kim Lân vẫn tiếp tục
viết về làng quê Việt Nam. Ông thường viết về những cảnh tội nghiệp, cuộc
sống khốn khó đến cùng cực c
ủa người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi

Trích đoạn Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân Dạng cấu trúc trần thuật theo trình tự thời gian Dạng cấu trúc trần thuật rẽ ngang lồng ghép nhiều tầng bậc trần
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status