KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC - Pdf 29

Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 1 Trần Thò Đoan Trang
LỜI CẢM TẠ
ϖ
Tháng sáu, màu của hoa phượng, bằng lăng, của mùa thi và của chia tay.
Bốn năm học đại học thắm thoát đã trôi qua. Giờ đây, những đứa sinh viên năm
cuối như chúng tôi đang miệt mài cho niên học cuối cùng của mình với bao tâm
trạng bâng khuâng, tiếc nuối. Có đứa thi môn thay thế, có đứa chọn con đường làm
luận văn tốt nghiệp. Tôi đã may mắn được làm luận văn và càng may mắn hơn khi
được tiếp xúc làm việc cùng thầy Nguyễn Kim Châu. Biết nói sao cho hết những ân
tình, những tấm lòng của thầy cô đã dành cho những đứa học trò như chúng tôi. Chỉ
mong qua bài luận văn này xin cho phép tôi được bày tỏ lòng thành kính biết ơn
của mình đối với thầy cô và đặc biệt đối với thầy Nguyễn Kim Châu đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành bài luận văn này.
I. Không gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục 18
1. Khái niệm. 18
2. Không gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục. 18
2.1. Không gian thực tại. 19
2.1.1. Không gian thành thò. 19
2.1.2. Không gian làng quê. 20
2.1.3. Không gian núi rừng. 20
2.1.4. Không gian sông nước. 22
2.1.5. Không gian đền chùa. 23
2.1.6. Không gian phủ đệ-dinh thự. 24
2.1.7. Không gian chiến tranh. 26
2.2. Không gian hư ảo. 26
2.2.1. Không gian hư ảo trần thế. 27
2.2.2. Không gian tiên cảnh. 31
2.2.3. Không gian thiên đường. 34
2.2.4. Không gian đòa ngục. 35
2.3. Sự chuyển hóa giữa không gian thực tại và không gian hư ảo. 36
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 3 Trần Thò Đoan Trang
II. Thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục. 39
1. Khái niệm. 39
2. Thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục. 39
2.1. Thời gian thực tại. 39
2.1.1. Thời gian thực tại trong Truyền Kì Mạn Lục gắn liền với biến
cố lòch sử, số phận con người. 39
2.1.2. Thời gian thực tại trong Truyền Kì Mạn Lục mang tính chất
tuyến tính. 41
2.1.3. Thời gian thực tại trong Truyền Kì Mạn Lục tương ứng với nhu
cầu trần thuật. 43

Không gian thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn Dữ
là đề tài mới lạ và hấp dẫn đối với những người nghiên cứu tác phẩm văn chương.
Đến với đề tài này, người viết tiến hành sưu tầm khảo sát những tài liệu của
các nhà nghiên cứu trước để lại.
ϖ Không gian thời gian nghệ thuật trong văn chương tự sự trung đại:
- Đặc trưng văn học trung đại của giáo sư Lê Trí Viễn.
- Phân tích văn học từ góc độ thi pháp của Nguyễn Thò Dư Khánh.
- Giáo trình thi pháp học của Đại học Huế.
ϖ Không gian thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
- Văn xuôi tự sự thời trung đại của Nguyễn Đăng Na.
- Mấy vấn đề về thi pháp văn học trung đại Việt Nam của Trần Đình
Sử.
Để góp phần làm nên sự hoàn thiện cho đề tài điều cần thiết không kém
phần quan trọng mà ngươi viết quan tâm đến là phần sơ lược về tác giả tác phẩm.
Dù rằng, Truyền kì là thể loại mới lạ không được sự chào đón nhiệt tình của
những vò độc giả lúc xưa nhưng khi đến với bàn tay tài hoa của Nguyễn Dữ, tác
phẩm đã trở thành “thiên cổ kì bút” của các bậc đại gia.
Thật vậy, chỉ hai mươi câu chuyện với nội dung truyện có tính chất luận đề
và truyện có kết cấu phức tạp mang giá trò cao đã đem đến cho tác phẩm giàu giá
trò nội dung và nghệ thuật.
Song, những điềàu đó chưa đủ để khẳng đònh giá trò của Truyền Kì Mạn Lục
với người đọc. Phải kể đến sự tham gia của phần không gian, thời gian trong
Truyền Kì Mạn Lục mới làm cho tác phẩm trở nên bất hủ với thời gian.
Trước hết, trên cơ sở khái niệm về không gian nghệ thuật, người viết tìm

đem đến cho chúng ta không gian nghệ thuật và thời gian trong Truyền Kì Mạn
Lục đậm tính nhân văn. Chính đề tài đã giúp người viết nhận ra được điều đó. Nếu
không có hoài bão, không có tình yêu thương nhân dân sâu nặng, nhà văn không
thể viết nên nhưng trang viết truyền thần như thế. Thông qua không gian nghệ
thuật và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm, Nguyễn Dữ đã bày tỏ quan niệm tư
tưởng của mình trước hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam vào thế kỉ XVI và góp
phần khẳng đònh một cách thuyết phục giá trò nghệ thuật của “thiên cổ kì bút”
không hề kém xa các tác phẩm văn chương của thời đại.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 6 Trần Thò Đoan Trang


SV thực hiện 7 Trần Thò Đoan Trang
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Từ thế kỉ X văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam cùng với thơ ca đã từng bước
khẳng đònh vò trí của mình trong nền văn học dân tộc. Nói như Nguyễn Đăng Na-
nhà nghiên cứu phê bình: “Văn xuôi tự sự Việt Nam không chỉ là một bộ phận cấu
thành của nền văn học dân tộc mà còn là ánh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ
thuật của nền văn học đã sản sinh ra nó. Văn xuôi tự sự trung đại cũng vậy, vừa
phản ánh tư duy nghệ thuật của người Việt Nam vừa gắn liền quá trình phát triển
của văn học dân tộc” [16;3].
Trong tiến trình đó, thế kỉ XVI được xem là thời kì khởi sắc của văn xuôi tự
sự bằng chữ Hán. Với sự ra đời của thiên cổ kì bútø Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn
Dữ. Với tác phẩm này như Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Đến với Truyền Kì Mạn
Lục, Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào q đạo nghệ thuật:
văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” [15;13].
Xuất phát từ vò trí quan trọng đó, người viết đã chọn phần “Không gian và
thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục” để khảo sát.
Vì vậy:
- Việc khảo sát Truyền Kì Mạn Lục nhằm khẳng đònh lại những thành công
của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trong thế kỉ XVI nói chung.
- Nhằm đánh giá đúng những đóng góp về mặt nghệ thuật mà Nguyễn Dữ đã
làm được trong tác phẩm Truyền Kì Mạn Lục nói riêng.
- Mặt khác, đây là tác phẩm tiêu biểu cho nền văn xuôi tự sự Việt Nam thế
kỉ XVI, một số truyện ngắn trong Truyền Kì Mạn Lục được lựa chọn giảng dạy
trong nhà trường phổ thông. Cho nên, việc tìm hiểu đề tài này sẽ góp phần làm
phong phú kiến thức cho chúng tôi trong việc giảng dạy sau này.
Cuối cùng, chính tên đề tài đã thực sự thu hút người viết. Bởi người viết nghó
rằng: tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao phải là một tác phẩm được nhìn dưới
góc độ mới lạ, hấp dẫn và toàn diện.
Người viết hi vọng với đề tài này,người viết sẽ khẳng đònh được rõ hơn
những thành công và những đóng góp về mặt nghệ thuật của Truyền Kì Mạn Lục

nghệ thuật Trung Đại.
- Trần Khánh Thành trong Thi pháp thơ Huy Cận cũng có những ý kiến
đúng đắn về không gian, thời gian của văn chương Trung Đại. Ông nói: “Thời gian
trong tác phẩm là sự tuần hoàn của vũ trụ trong không gian bốn mùa lưu chuyển”
[25;10]. Như vậy, tác giả này đã thấy được mối quan hệ biện chứng giữa không
gian và thời gian trong một chỉnh thể nghệ thuật.
- Nguyễn Thò Dư Khánh với Phân tích văn học từ góc độ thi pháp đã đưa
ra nhận xét tinh tế hơn về không gian, thời gian trong tiểu thuyết Trung Đại. Bà
cho rằng: “Tiểu thuyết Trung Đại khác các thể loại khác, một phần nhờ vào sự thay
đổi các trục tọa độ trong không gian và thời gian của hình tượng văn học trong tiểu
thuyết” [14;37]. Tác giả còn nhấn mạnh: “Không gian, thời gian trong tiểu thuyết
chỉ có tính ước lệ và được tác giả sắp xếp theo trình tự vai trò người đọc gần như thụ
động, họ được ví như người ngồi ở phòng xem một cuốn phim đã hoàn thành”
[14;43].
- Giáo sư Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp học hiện đại cũng đã
dề cập đến vấn đề này: “Qui luật cảm thụ toàn vẹn đã chi phối thời gian, không
gian trong văn học Trung Đại” [18;367]. Ông còn nhận đònh: chính yếu tố thời gian
lòch sử đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Trung
Đại.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 9 Trần Thò Đoan Trang
Quả thật, những ý kiến đánh giá này đã góp phần làm nên diện mạo không
gian và thời gian nghệ thuật trong văn chương Trung Đại và tạo đà phát triển trong
việc nghiên cứu không gian, thời gian trong tác phẩm Truyền Kì Mạn Lục sau này.
2.2 Không gian, thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục.
Tiếp tục kế thừa phát huy những ý chí của các vò nghiên cứu trong không
gian, thời gian trong văn chương Trung Đại, các học giả cũng đã đề cập đến đề tài
này nhưng ở phương diện ít hơn nhiều.
Nguyễn Đăng Na trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung Đại tập 1 đã nhận

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 10 Trần Thò Đoan Trang
Thông qua việc khảo sát những hình thức không gian, thời gian trong tác phẩm sẽ
thấy được những tư tưởng, quan niệm của nhà văn. Từ đó có thể khảo sát khẳng
đònh thuyết phục hơn những giá trò nghệ thuật và nội dung của tác phẩm.
IV.PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Đề tài”Không gian, thời gian trong Truyền Kì Mạn Lục “ đòi hỏi người viết
phải xoáy sâu vào:
Không gian , thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục .
Bên cạnh đó, người viết đã liên hệ so sánh với”Tiễn đăng tân thoại”- một tác phẩm
văn xuôi tự sự của Cù Hựu, Trung Quốc, cùng thời với Nguyễn Dữ để phân tích rõ
những nét khác biệt của Truyền Kì Mạn Lục so với tác phẩm của Trung Quốc
V.PHƯƠNG HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Khi tiếp nhận đề tài này, người viết tiến hành đọc sách lí luận chung có liên
quan đến không gian, thời gian nghệ thuật và phần văn bản Truyền Kì Mạn Lục.
Sau đó dùng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê một cách có hệ thống nhằm
dùng thực tiễn để chứng minh cụ thể sinh động cho phần lí luận chung.

CHƯƠNG 1:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 12 Trần Thò Đoan Trang
SƠ LƯC VỀ TÁC GIẢ-TÁC PHẨM.
ϖ

I. TÁC GIẢ.
Nguyễn Dữ là ẩn só của thế kỉ XVI và Truyền Kì Mạn Lục là đứa con tinh
thần của ông. Vấn đề này không ai nghi ngờ. Nhưng về cuộc đời Nguyễn Dữ có rất
nhiều nghi vấn.
Có hai khuynh hướng đưa ra cho năm sinh, năm mất của ông:

Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 13 Trần Thò Đoan Trang
Tóm lại, căn cứ vào những tài liệu, ta biết Nguyễn Dữ thuộc dòng dõi khoa
hoạn, từng dùi mài kinh sử, ôm ấp lí tưởng đã đi thi và có thể xuất só. Song là một
nhà nho”Cửa Khổng sân Trình” sống vào buổi suy loạn, ông thấy được”đại thế bất
an” bất mãn với kẻ đương quyền. Vì thế, ông chọn cho mình con đường”lánh đục
về trong” để nuôi mẹ già cho tròn đạo hiếu.
Tuy vậy, Truyền Kì Mạn Lục ta vẫn thấy được tấm lòng ưu tư hoài bão”đêm
ngày cuồn cuộn” kí thác tâm sự của nhà nho trước thời thế biến động ba đào.
II. TÁC PHẨM.
2.1. Thể loại:
Trong dòng chảy của văn chương Trung Đại, thể loại Truyền Kì ra đời làm
nên diện mạo sinh động đa dạng trong lòch sử văn học nước nhà. Truyền Kì Mạn
Lục của Nguyễn Dữ đã đánh dấu sự thành công của Truyền Kì.
Tác phẩm có tính chất là tác phẩm nghệ thuật, có sự tham gia hư cấu sáng
tạo của nhà văn phản ánh thời kì lòch sử đầy biến động ba đào. Như giáo sư Đinh
Gia Khánh đã nhận xét: “Rõ ràng Nguyễn Dữ đã mượn truyện quái để nói việc thực.
Căn cứ vào tính chất truyện để thấy Nguyễn Dữ không chép qua mà truyền lại. Và
Truyền Kì Mạn Lục có tính chất là sáng tác văn học chứ không phải sao
chép”[13;506].
Và quả thật, Nguyễn Dữ đã có sự thành công trong thể loại này. Truyền Kì
Mạn Lục xứng đáng là thiên cổ kì bút, thể hiện được tính chất hư cấu sáng tạo của
người nghệ só nhưng vẫn phản ánh được hiện thực đương thời và bộc lộ được quan
điểm của người cầm bút.
2.2. Kết cấu Truyền Kì Mạn Lục .
Truyền Kì Mạn Lục gồm có 20 truyện: gồm 4 quyển, mỗi quyển chia thành
5 truyện:
Quyển 1:
1. Câu chuyện ở đền Hạng Vương.
2. Chuyện người nghóa phụ ở Khoái Châu.

Ích Nguyên đã phản đối lại những ý kiến này.
Với 20 truyện, bằng ngòi bút tài hoa, Nguyễn Dữ đã đưa tác phẩm đến vò trí
cao trong tiến trình văn chương Trung Đại Việt Nam. Nguyễn Dữ rất tinh tế chú
trọng sắp xếp cốt truyện sao cho hợp lí, cải tạo chúng thành một truyện mới phong
phú đa dạng với hai khuynh hướng rõ ràng:
- Truyện có tính chất luận đề.
- Truyện có kết cấu phức tạp mang giá trò nghệ thuật cao.
Tóm lại, dù cho Truyền kì xưa kia được xem là “ngoại thư” nhưng với
Truyền Kì Mạn Lục , được xem là đỉnh cao của Truyền Kì Việt Nam. Nó vẫn là
“áng văn hay của bậc đại gia” và sẽ là tác phẩm mở đường cho các truyền kì khác
ra đời sau này như Tân Truyền Kì Mạn Lục của Đoàn Thò Điểm .
2.3 . Giá trò nội dung:
Trải qua bao thăng trầm của lòch sử, luân chuyển của thời gian nhưng những
gì Nguyễn Dữ thể hiện vẫn còn nguyên giá trò.
ϖ Trước hết, Truyền Kì Mạn Lục dù viết dưới dạng chữ Hán nhưng vẫn thể
hiện được lòng tự hào dân tộc sâu sắc.
Xuyên suốt 20 truyện, các nhân vật, sự kiện đều xảy ra ở nước Nam. Thời
gian để xảy ra sự kiện từ Nghệ An trở vào. Tác giả thể hiện niềm tự hào của mình
bằng cách ca ngợi các danh nhân văn hóa Trung Quốc qua các câu chuyện sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 15 Trần Thò Đoan Trang
Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa, Câu chuyện đền
Hạng Vương, Chuyện người nghóa phụ Khoái Châu.
ϖ Truyền Kì Mạn Lục còn thể hiện tư tưởng của thời đại. Xuất thân từ nhà
nho nhưng khi viết tác phẩm ông đã chòu ảnh hưởng của dòng văn hóa dân gian
Đạo giáo và Phật giáo.
Sống trong xã hội suy vi, Nho giáo không còn giữ vò trí chính thống, xã hội
chỉ tồn tại những chuyện kì dò yêu ma. Vì thế, Nguyễn Dữ đã đi tìm giáo lí khác.
Ôâng đã bắt gặp điều đó trong Đạo và Phật giáo. Nhưng, Nguyễn Dữ chưa bằng

Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 16 Trần Thò Đoan Trang
ϖ Truyền Kì Mạn Lục là sự gửi gắm hình ảnh nhà nho Nguyễn Dữ thông
qua những người ẩn cư.
Niềm tâm sự, nguyện vọng của cả một tầng lớp tri thức nho giáo đương thời
được tác giả ý tứ thể hiện trong Chuyện người tiều phu núi Na, Chuyện Từ Thức lấy
vợ tiên.
Với nhà nho Nguyễn Dữ ở ẩn là không can dự vào những hành vi tham tàn
bạo ngược của bọn ác bá, không đắm mình vào dòng ô trọc. Ở ẩn là giữ trọn khí
tiết, phẩm giá của bậc nho gia. Nhưng ta thấy, ở đó vẫn có thái độ tích cực của một
tấm lòng”tiên ưu” với vận mệnh của quốc gia, dân tộc.
Tuy nhiên, xét đến cùng Truyền Kì Mạn Lục vẫn thể hiện lí tưởng chính trò
xã hội của ông. Ngòi bút sắc bén của nhà nho đã lên án, tố cáo những tệ nạn xã hội
nhằm thể hiện ước mơ, khao khát về triều đình thònh vượng trong tương lai bằng
con đường “nhân tâm”.
- Truyền Kì Mạn Lục còn là tiếng nói của khát vọng, tình yêu hạnh phúc:
Lần đầu tiên trong lòch sử văn chương Trung Đại, Nguyễn Dữ đã thể hiện
những khát khao về tình yêu nam nữ, hạnh phúc gia đình với những âm điệu khác
nhau ở người phụ nữ .
Bên cạnh, những mối tình lành mạnh, chung thủy, sắc son với những ước mơ
hạnh phúc chân chính như: Lệ Nương, Túy Tiêu, Đào Thò, Vũ Thò Thiết; còn có
những chuyện yêu đương táo bạo không lành mạnh giữa Trình Trung Ngộ và Nhò
Khanh, Hà Nhân và hai nàng Đào, Liễu.
Chính những hình ảnh ấy là tiếng chuông cảnh báo của nhà văn đến thế lực
phong kiến đã tàn bạo hủy diệt đi hạnh phúc của người phụ nữ. Ôâng đã lên tiếng
đòi quyền sống cho họ trong bóng chiều tà của lòch sử.
Tóm lại, Truyền Kì Mạn Lục là sự thắng thế của chủ nghóa nhân đạo. Tác
phẩm có sức mạnh công phá vào thành trì kiên cố của chế độ phong kiến mục nát
và đấu tranh cho ước mơ khát vọng của nhân dân tiến lên giành quyền được sống,
được yêu, được hạnh phúc và tự do.

lòng một nỗi buồn không sao ngủ được …”[27;111].
Quả thật, tác phẩm đáng được ghi là “Thiên cổ kỳ thư”bởi nó vượt xa khỏi
khuôn khổ tự sự vốn chú trọng hành động hơn là đi sâu phản ánh nhân vật.
Câu văn trong Truyền Kì Mạn Lục lưu loát sinh động, hấp dẫn. Tác giả khéo léo
vận dụng mọi hình thức tu từ : ẩn dụ, hoán dụ, cân xứng, đối lập, ám dụ. . . kết hợp
với ý nghóa âm thanh của từ tạo nên nội dung nhòp nhàng cho câu chữ.
Nhà văn còn tinh tế, kì tài trong việc sử dụng những điển cố Hán học đầy tính uyên
bác của bậc tri thức. Nhưng ông đã có sự chọn lọc không sa vào khuôn sáo nhằm
thể hiện mục đích quan điểm của mình.
Tóm lại, vượt qua không gian, thời gian lòch sử Truyền Kì Mạn Lục xứng
đáng là áng văn hay của bậc đại gia. Bởi nó giàu giá trò hiện thực và nghệ thuật tài
tình của người cầm bút. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 18 Trần Thò Đoan Trang

CHƯƠNG 2:
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỀN KÌ MẠN LỤC.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 19 Trần Thò Đoan Trang
2.1. Không gian thực tại.
Không gian thực tại là không gian mà con người tồn tại và nó không nằm
ngoài sự vận động của các sự vật hiện tượng.
Trong Truyền Kì Mạn Lục, Nguyễn Dữ đã thể hiện được cá tính sáng tạo
của mình trong việc vận dụng không gian thực tại qua các không gian sau:
2.1.1. Không gian thành thò:
Chuyện người nghóa phụ Khoái Châu; Chuyện cây gạo; Chuyện Lệ Nương
đều có sự xuất hiện của không gian này.
Bằng nghệ thuật miêu tả của mình, nhà văn đã xây dựng lại không gian phố
phường tấp nập của thế kỉ XVI với những đòa danh quen thuộc mang tính dân tộc
sâu sắc: Cầu Đồng Xuân, thành Đông Quan trong Chuyện người nghóa phụ Khoái
Châu; Cầu Liễu Khê, chợ Nam Sang với khung cảnh thuyền bè ngược xuôi trên
sông; Chuyện cây gạo hay Chuyện Lệ Nương với cảnh buôn bán ở huyện Cẩm
Giang (Hải Dương) của thành Tây đô (Thanh Hóa) cũng có không gian phố phường
sung túc.
Tất cả những không gian này đều được tái hiện trên mảnh đất Việt Nam chứ
không phải không gian của Trung Quốc. Dù rằng ở Chuyện cây gạo, Nguyễn Dữ đã
mượn cốt chuyện của Cù Hựu. Nhưng Chuyện chiếc đèn mẫu đơn của ông, không
gian ở Trung Quốc. Nơi mà Kiều Sinh và người con gái Phù Lệ Khanh gặp gỡ là
tỉnh Chiết Đông vào ngày rằm tháng giêng ở Châu Minh. Còn với Chuyện cây gạo
nhân vật và không gian xảy ra sự kiện đều mang đòa điểm Việt Nam. Bởi thế
không hề kém xa Cù Hựu, Nguyễn Dữ có thể tổ chức một không gian đầy náo nhiệt
bằng những đòa danh nổi tiếng về buôn bán sầm uất của thời xưa để bày tỏ lòng
yêu nước tự hào của mình.
Không dừng lại ở đó, việc ông sắp xếp không gian thành thò là nơi gặp gỡ
ước hẹn của những đôi trai gái như: Trình Trung Ngộ với Nhò Khanh, Lệ Nương với
Phật Sinh, Trọng Quỳ với Nhò Khanh đều có nguyên nhân của nó.

Đó là không gian ở xứ Hưng Hóa.
Còn đến Chuyện cây gạo ở làng Đông Thôn của Nhò Khanh, khung cảnh
cũng tương tự “chung quanh có bức hàng rào bằng gióng tre, thỉnh thoảng chen lẫn
vào vài khóm lau khô, trong có túp nhà gianh thấp nhỏ lụp xụp, dây vôi bìm leo đầy
lên vách và lên mái. . .” [27;113]. Đây là hiện thực xã hội rối ren đầy phức tạp. Cái
nhìn của nhà văn với không gian này mang tính cảm thông sâu sắc. Việc xuất hiện
những hình ảnh, âm thanh hiu quạnh, hoang phế chứng tỏ mọi sự vật, hiện tượng
xảy ra trong cuộc sống xunh quanh không được mọi người quan tâm đón nhận.
Vì thế, không gian mới trở thành hoang phế và mọi chuyện rắc rối có thể
xảy ra, yêu ma tà đạo mới có dòp lợi dụng hoàn cảnh này mà làm náo động cuộc
sống của người dân.
Hình ảnh làng quê không được tác giả nhìn với cái nhìn quen thuộc trong
không khí yên bình như: cây đa, bến nước, con đò, . . . mà làng quê trong Truyền Kì
Mạn Lục đầy màu sắc hoang đường, không có sự sống.
Như vậy, không gian làng quê hiện lên qua hình ảnh cây “lau sậy”, “rêu
trùm” đã lí giải phần nào cho cuộc sống của xã hội Việt Nam thế kỉ này.
2.1.3. Không gian núi rừng.
Mỗi một không gian đều được đánh dấu sự xuất hiện phù hợp với nhân vật
mà nó tồn tại. Nguyễn Dữ đã vận dụng khéo léo tài tình từng không gian cụ thể cho
từng nhân vật cụ thể trong tác phẩm của mình.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 21 Trần Thò Đoan Trang
Truyền Kì Mạn Lục đã dánh dấu sự xuất hiện của không gian núi rừng với
sự xuất hiện của những ẩn só hay những người đạo nhân có phép thuật để trừ ma,
diệt yêu quái giúp người đời.
Ngoài những nhân vật chính diện xuất hiện trong không gian ấy, ta còn thấy
ở đây những hồn ma bóng quế, những con vật hóa người để thông qua đó bày tỏ tư
tưởng của người viết văn.
Những nhân vật này xuất hiện trong không gian núi rừng qua những câu

mà buộc mình vào áng lợi danh”[27;100]. Chàng thực sự tìm quên bên khung cảnh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 22 Trần Thò Đoan Trang
núi non ở quê hương mình. Với một chiếc thuyền nan, Từ Thức đã đi đến không
gian núi non hùng vó “có những vách đá cao vút nghìn trượng đứng thẳng”[27;101]
với những đòa danh: núi Chính Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga đã làm nao
nức lòng người ẩn só.
Không gian này còn được dành cho những bậc pháp sư uy nghiêm có những
ngày tháng chân tu khổ hạnh nhằm giúp đời hành đạo. Chẳng hạn trong Chuyện
nghiệp oan Đào Thò có vò sư cụ pháp Vân ở núi Lệ Kì.
Từ không gian như vậy, nhân vật như thế đã giúp chúng ta hiểu được ý niệm
cũng như cuộc sống tâm linh của người Trung Đại. Dù rằng đó là tư tưởng bi quan
yếm thế của người xưa nhưng vẫn toát lên tinh thần nhân văn sâu sắc.
2.1.4. Không gian sông nước.
Nếu như không gian núi rừng phù hợp với những bậc cao nhân, những con
vật hóa người thì đến không gian này ta sẽ được tiếp xúc với những đặc trưng của
vùng sông nước như: Thần Thuồng Luồng trong Chuyện đối tụng ở Long Cung hay
thần rùa Linh Phi trong Người con gái Nam Xương, Chuyện yêu quái Xương Giang
cũng mượn vùng sông nước làm nền cho nhân vật xuất hiện.
Để có thể cho nhân vật xuất hiện dễ dàng ở những không gian này, nhà văn
đã tạo nên những đòa danh cố đònh gắn liền với hình ảnh sông nước ở quê hương.
Tất cả chúng ta đều biết, nước ta có hệ thống sông ngòi chằng chòt với rất
nhiều ngã ba, ngã tư ở bến sông. Mỗi bến sông đều có một ngôi chùa, đền hay
miếu của nhân dân dựng nên để thờ phụng các vò thần. Và nhà văn Nguyễn Dữ đã
để cho nhân vật của mình xuất hiện trong không khí ấy.
Ở Chuyện đối tụng ở Long Cung, không gian mà thần Thuồng Luồng tồn tại
là ngôi đền thờ thần thủy tộc ở men sông. Khung cảnh thật hoang vắng, ngoại trừ
bến nước, con thuyền chỉ có “bãi cát phẳng lặng không có nhà cửa gì, duy lèo tèo
mấy khóm lau sậy đứng rung mình trên mặt nước”[27;67]. Không gian hoang lạnh

Mỗi loại hình không gian đều ứng với nhân vật mà nhà văn đã cố tình sắp
đặt.
Với loại hình đền, Nguyễn Dữ đã cho xuất hiện những vò thần mà nhân dân
tín ngưỡng, tôn thờ Chuyện ở đền Hạng Vương tuy mượn không gian Trung quốc để
nói chuyện bên Tàu, đòa danh mang những đặc điểm Phương Bắc: Trạch Tả, Giang
Đông, những điển tích điển cố cũng là người Trung Quốc, song nhân vật là người
nước Nam.
Việc mượn không gian bên Trung Quốc để nói chuyện chính sự bàn luận
của quan thừa chỉ Hồ Tôn Thốc ở Việt Nam của Nguyễn Dữ là một sự vay mượn
hợp lý khách quan. Vì nhân vật này là người Phương Nam đang phụng mệnh đi sứ
sang Trung Quốc thì phải nói đến không gian bên Trung Quốc, mượn những chuyện
ngày xưa của đất nước phương Bắc để làm nên cho bối cảnh câu chuyện mà nhà
văn muốn truyền đạt lại cho người đọc.
Bên cạnh, việc mượn không gian Trung Quốc, chuyện xưa tích cũ nhưng vấn
đề mà nhà văn muốn truyền đạt không dừng lại ở đây. Ông muốn tiến xa hơn nhằm
phê phán những con người nổi tiếng của Phương Bắc chỉ là những hạng người bình
thường, chỉ mưu cầu danh lợi riêng cho mình mà không có lòng nhân đức, không có
cái tâm của bậc hiền tài. Qua đó, ông đã bày tỏ lòng tự hào dân tộc sâu sắc của
mình trong việc dựng lại không gian bên Tàu ấy.
Chuyện ở đền Tản Viên, không gian này hoàn toàn mang tính dân tộc sâu
sắc. Khung cảnh để câu chuyện có thể xảy ra ở núi Tản Viên của vùng đất Lạng
Giang- nhân vật chính là người nước Nam-Ngô Tử Văn. Nhưng ngôi đền lại bò hồn
ma của vò tướng họ Thôi của Mộc Thạnh chiếm giữ.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 24 Trần Thò Đoan Trang
Vậy là, trong cùng một không gian, sự việc khác nhau và nhân vật khác
nhau. Điều này thể hiện được dụng ý của người cầm bút. Ở không gian ngôi đền
Tản Viên, mang đầy bản sắc văn hóa phương Nam, dùng để cho nhân dân thờ cúng
những vò thần của đất nước này. Thế mà người phương Bắc, bọn người xâm lược lại

2.1.6 Không gian phủ đệ-dinh thự.
Mặc dù xuất hiện trong Truyền Kì Mạn Lục, hình thức không gian này
không nhiều. Nhưng qua những câu chuyện: Chuyện nàng Túy Tiêu; Cuộc nói
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 25 Trần Thò Đoan Trang
chuyện thơ ở Kim Hoa; chuyện gã trà đồng giáng sinh; Phạm Tử Hư lên chơi Thiên
Tào; Chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na; Chuyện Lý tướng quân.
Nhà văn đã dùng hai hình thức nghệ thuật tương phản với nhau để chia ra
hai ranh giới không gian rõ ràng. Mỗi loại không gian dành cho mỗi loại nhân vật
cụ thể.
Nguyễn Dữ giúp ta hình dung lại lối sống của những bậc vua chúa thời
phong kiến rất sâu sắc. Đó là cuộc sống đầy hưởng thụ. Khi dân làng đang khổ sở:
không nhà không cửa, đói rét lầm than “chiếc bóng vật vờ” thì những tên quan như:
Thân Trụ Quốc đặt tiệc trà, mướn hát bội tiêu khiển và chơi những trò chơi không
đáng có trong thời buổi loạn lạc này.
Qua Chuyện nàng Túy Tiêu giúp ta biết được điều đó. Còn trong Cuộc nói
chuyện thơ ở Kim Hoa cũng có những khoảnh khắc nhà văn khắc họa lại không gian
dinh thự để nhớ lại một thời tươi đẹp mang đậm chất nhân văn của các vò vua quan
thời trước.
Dẫu bất đắc chí quay lưng lại với cuộc sống quan trường nhưng với tấm lòng
“tiên ưu” của bậc nho gia Nguyễn Dữ vẫn khao khát được nhìn lại thời kì vàng son
của thời đại phong kiến. Ông bày tỏ nỗi niềm tiếc nuối ấy qua những nhân vật tài
hoa trong cách dựng lại không gian huy hoàng của những buổi tiệc ngâm thơ đàm
đạo việc văn chương, việc nước nhà, chính sự, quốc gia.
Bên cạnh đó, không gian công đường phán xét công minh có sự góp phần
của những vò quan chính trực thanh liêm làm rõ những oan khuất cho nhân dân, hết
lòng vì nước vì dân, không tư lợi. Đó là không gian trong Chuyện gã trà đồng giáng
sinh với nhân vật Dương Đức Công, Dương Trạm hay Phạm Tử Hư trong Chuyện
Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào. Những nhân vật này chỉ xuất hiện trong không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status