So sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn lỗ tấn và nam cao - Pdf 39

LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập và nghiên cứu được sự giúp đỡ tận tình của thạc sĩ
Hà Thị Hải, đến nay đề tài nghiên cứu của chúng em đã hoàn thành. Trước tiên chúng
em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo thạc sĩ Hà Thị Hải người đã bỏ nhiều
công sức để hướng dẫn, giúp đỡ chúng em về kiến thức, kinh nghiệm và tư liệu trong
suốt quá trình chúng em thực hiện đề tài. Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các
thầy cô trong khoa Ngữ Văn nói chung và đặc biệt là tổ Lí luận – Văn học nước ngoài
nói riêng, các cán bộ ở bộ phận thư viện đã tạo điều kiện cho chúng em thực hiện đề
tài nghiên cứu khoa học này.
Vì thời gian có hạn cũng như trình độ năng lực của chúng em còn hạn hẹp nên
đề tài còn có nhiều sai sót. Kính mong các thầy cô giáo, các bạn đọc nhận xét và góp ý
để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Lệ Giang
Đỗ Thị Thu Hiền
Lê Thị Mai Nhung
Nguyễn Thị Thơ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...........................................................................................2
2.1. Truyện ngắn Lỗ Tấn .................................................................................................2
2.2. Truyện ngắn Nam Cao.............................................................................................. 4
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................... 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................5
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................... 5

CHƢƠNG 3. ĐIỂM TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG NGHỆ THUẬT
XÂY DỰNG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ
TẤN VÀ NAM CAO ...................................................................................................56
3.1. Hình ảnh và màu sắc............................................................................................... 56
3.1.1. Hình ảnh ..............................................................................................................56
3.1.1.1. Tương đồng ......................................................................................................56
3.1.1.2. Khác biệt ...........................................................................................................63
3.1.2. Màu sắc ................................................................................................................68
3.1.2.1. Tương đồng ......................................................................................................68
3.1.2.2. Khác biệt ..........................................................................................................69
3.2. Âm thanh .............................................................................................................. 71
3.2.1. Tương đồng ........................................................................................................71
3.2.2. Khác biệt .............................................................................................................73
3.3. Mùi vị ....................................................................................................................78
3.3.1. Tương đồng .........................................................................................................79
3.3.2. Khác biệt ..............................................................................................................80
KẾT LUẬN ..................................................................................................................84
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 87


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thi pháp là bộ môn hiện đại của nghiên cứu văn học. Nó đã và đang làm
thay đổi cách tiếp nhận văn học, khắc phục những hạn chế mà truyền thống nghiên cứu
còn sơ lược và chưa đánh giá đúng, mở ra những chân trời mới cho hoạt động nghiên
cứu, phê bình văn học. Thi pháp học bên cạnh một số phạm trù truyền thống được xác
lập như cốt truyện, kết câu, thể loại, lời văn, quan niệm nghệ thuật về con người, kiểu
tác giả, chi tiết nghệ thuật thì không gian nghệ thuật còn mở ra một hướng mới trong
cách tiếp cận tác phẩm văn học và khám phá giá trị tiềm ẩn của thế giới nghệ thuật.
Lỗ Tấn là tên tuổi vĩ đại của văn học Trung Quốc thế kỉ XX. Ông là một trong

chúng tôi đặc biệt yêu thích. Không gian thành thị, nông thôn hiện lên rõ nét, sinh
động với sự tiêu điều, buồn bã của nông thôn; cuộc sống bế tắc, tẻ nhạt ở thành thị. Từ
sự yêu thích, chúng tôi muốn so sánh tìm hiểu điểm tương đồng và khác biệt của
không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao để hiểu sâu sắc hơn sáng
tác truyện ngắn của hai ông.
1.3. Lỗ Tấn và Nam Cao là những nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn
học hiện đại Trung Quốc và Việt Nam. Cả hai tác giả đều có tác phẩm được giảng dạy
trong chương trình Trung học Phổ thông. Nam Cao: Chí Phèo SGK lớp 11, tập 2; Lỗ
Tấn: Thuốc SGK lớp 12, tập 2. Tìm hiểu, so sánh không gian nghệ thuật trong truyện
ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao giúp chúng tôi có thêm kiến thức để sau này giảng dạy
Trung học Phổ thông đạt chất lượng tốt hơn.
Lựa chọn đề tài “So sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và
Nam Cao” chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn giá trị tư tưởng, nghệ thuật
trong sáng tác của mỗi nhà văn. Qua đó nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn cống hiến vẻ
vang của hai tác giả với nền văn học dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Truyện ngắn Lỗ Tấn
Suốt cuộc đời cầm bút của mình Lỗ Tấn đã để lại cho đời một khối lượng tác
phẩm đồ sộ, phong phú. Chính vì vậy, ở Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều công
trình nghiên cứu về ông và truyện ngắn của ông.
Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc tác giả Nguyễn Khắc Phi đã cho người
đọc thấy được toàn bộ cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn. Qua việc
phân tích nhiều truyện ngắn trong ba tập truyện ngắn: Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện
cũ viết lại tác giả cho ta thấy được tư tưởng chống phong kiến, số phận và phẩm chất
của người nông dân, những người trí thức và phụ nữ trong xã hội Trung Hoa lúc bấy
giờ. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Khắc Phi cũng khái quát những thành công trong
nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: hóm hỉnh, hài
2



thì “không gian nghệ thuật là không gian hiện thực, không gian đời thường. Một làng
Mùi yên tĩnh nhưng u ám, khép kín, ngơ ngác xa lạ trước những biến động của thời
3


cuộc” [12; 64-65]. Tác giả đã nêu được khái quát không gian nghệ thuật trong truyện
ngắn Lỗ Tấn.
Như vậy, qua khảo sát một số tài liệu chúng tôi thấy các tác giả trên chủ yếu nêu
khái quát về các loại không gian nghệ thuật mà ít quan tâm đến nghệ thuật xây dựng
không gian nghệ thuật truyện ngắn Lỗ Tấn.
2.2. Truyện ngắn Nam Cao
Trong cuộc đời cầm bút của mình Nam Cao đã để lại một kho tàng đồ sộ với
nhiều tác phẩm có giá trị. Tác phẩm của ông thấm đẫm tinh thần nhân đạo, một quan
niệm hiện thực nhạy bén, khẳng định tài năng bậc thầy của ông. Chính vì vậy đã xuất
hiện nhiều công trình nghiên cứu về ông và truyện ngắn của ông.
Năm 1961, chuyên luận Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của Hà Minh
Đức ra đời. Đây là công trình đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu Nam Cao. Năm
1975, Hà Minh Đức tiếp tục giới thiệu Tuyển tập Nam Cao gồm hai tập. Trong những
cuốn sách này tác giả chỉ đề cập đến vấn đề đề tài, nội dung, tư tưởng, nghệ thuật xây
dựng tính cách nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao.
Cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại 1900-1945, tập 1, do Trần Đăng
Suyền và Nguyễn Văn Long chủ biên đã giới thiệu cho bạn đọc về tiểu sử, con người
Nam Cao, quan điểm nghệ thuật, đề tài nông thôn, đề tài về tiểu tư sản và một vài đặc
điểm nghệ thuật phân tích, miêu tả tâm lí nhân vật của Nam Cao. Tác giả cũng đã chỉ
ra và bao quát được không gian nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám:
“Bao trùm lên toàn bộ thôn quê trong tác phẩm Nam Cao là không khí xơ xác, hoang
vắng, nghèo đói đến rợn người” [33; 316].
Trước đây, những nghiên cứu về Nam Cao mới chỉ triển khai ở phương diện đề
tài, chủ đề. Đa số các nhà nghiên cứu chỉ thống nhất khẳng định Nam Cao là cây bút
hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Tuy

Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu, so sánh một số loại không
gian nghệ thuật tiêu biểu và một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong nghệ thuật xây
dựng không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao. Riêng với Nam
Cao phạm vi nghiên cứu và khảo sát của chúng tôi chỉ giới hạn ở những truyện ngắn
trước cách mạng. Văn bản khảo sát chính là: Tuyển tập truyện ngắn Lỗ Tấn, NXB Văn
hóa, Hà Nội, 2003 và Tuyển tập Nam Cao, NXB Văn học, Hà Nội, 2003.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài chúng tôi tập trung so sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ
Tấn và Nam Cao, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các loại hình không gian
và nghệ thuật xây dựng không gian trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp sau khi nghiên cứu đề tài:
5


Phương pháp khảo sát văn bản:
Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại một số dữ liệu cần thiết,
cụ thể để phân thích, chứng minh cho nhận định, đánh giá trong đề tài. Thống kê, phân
loại những chi tiết để làm sáng tỏ những điểm tương đồng, khác biệt về không gian
nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao.
Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp quan trọng nhất để tìm ra những điểm tương đồng và khác
biệt về không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao. Chúng tôi cũng
vận dụng một số phương pháp của văn học so sánh như phương pháp thực chứng (tìm
hiểu giống nhau giữa các hiện tượng văn học quốc tế để từ đó rút ra ảnh hưởng và vay
mượn trong văn học), phương pháp loại hình (là phương pháp được xây dựng trên cơ
sở nguyên tắc về tính cộng đồng của các hiện tượng khác nhau), phương pháp tổng
hợp và liên ngành (kết hợp các phương pháp khác nhau) để làm nổi bật nhiệm vụ
nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp phân tích:

chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về truyện ngắn của Lỗ Tấn, Nam Cao và một số vấn
đề lí luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của đề tài.
1.1. Giới thiệu truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
1.1.1. Truyện ngắn Lỗ Tấn
1.1.1.1. Tác giả Lỗ Tấn
a. Tiểu sử
Lỗ Tấn tên khai sinh là Chu Chương Thọ sau đổi thành Chu Thụ Nhân, tên chữ
Dự Tài, nhưng khi đến với văn học ông dùng khá nhiều bút danh: Lỗ Tấn, Thân Phi,
Đường Sĩ, Ba Nhân… Ông có chừng 80 bút danh, riêng năm 1933 ông đã sử dụng tới
20 bút danh. Lỗ Tấn sinh ngày 25/9/1881 ở phường Đông Xương, phủ Thiệu Hưng,
tỉnh Chiết Giang, xuất thân trong một gia đình đại sỹ phu phong kiến sa sút từ thời ông
nội Chu Phúc Thanh (tự là Giới Phù). Thân phụ Chu Phượng Nghi (tự là Bá Nghi),
học đến tú tài nhưng không ra làm quan. Thân mẫu là bà Lỗ Thụy, người con gái xuất
thân thôn quê, bà tự học đến trình độ có thể xem sách, tính tình hiền hậu, thương yêu
con cái và tiếp thu tư tưởng mới. Bà có sức ảnh hưởng khá mạnh đến Lỗ Tấn, bút danh
Lỗ Tấn được ông lấy từ họ mẹ.
Từ 6 đến 17 tuổi ông học trường tư thục ở quê nhà, trường Tam Vị nổi danh
quanh vùng lúc bấy giờ, thầy dạy giỏi lại rất nghiêm khắc. Lỗ Tấn đặc biệt thích bà nội
và vú em kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ham mê
xem tranh dân gian, xem hát tuồng. Chính những điều này đã ấp ủ lòng ham mê nghệ
thuật của cậu bé Lỗ Tấn.
Năm 13 tuổi, ông nội bị bắt giam, cha lâm bệnh nặng, cảnh nhà trở nên sa sút.
Mấy năm liền ông suốt ngày lam lũ kiếm tiền chữa bệnh cho cha nhưng không có kết
7


quả gì, năm Lỗ Tấn 16 tuổi thì cha mất. Năm 1898, Lỗ Tấn đến Nam Kinh dự thi vào
trường Thủy Sư chuyên đào tạo kỹ sư hàng hải. Học chưa đầy một năm Lỗ Tấn thấy
chán ghét cảnh sống và chương trình học ở đây liền chuyển sang trường Khoáng Lộ
học kĩ sư hầm mỏ. Tháng 3/1902, Lỗ Tấn tốt nghiệp trường Khoáng Lộ, vì thi đỗ xuất



Năm 1918 khi 37 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn nghệ của mình với
tác phẩm đầu tay Nhật kí người điên. Từ đó ông sáng tác liên tục trong vòng 18 năm,
hầu như ngòi bút và đôi tay không lúc nào ngừng nghỉ.
Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ cổ, thơ mới, kịch, tạp
văn, khảo cứu, phê bình, dịch thuật… Truyện ngắn của ông được in chủ yếu trong ba
tập Gào thét, Bàng hoàng và Chuyện cũ viết lại. Tập Gào thét gồm 14 truyện, sáng tác
từ 1918 – 1922 gồm các tác phẩm tiêu biểu như: Nhật kí người điên, Khổng Ất Kỉ,
Thuốc, Cố hương, AQ chính truyện, Tết Đoan Ngọ… Trong đó, Nhật kí người điên
được coi là “quả bộc phá thật mạnh ném vào dinh lũy của xã hội phong kiến, là tiếng
kèn xung trận trên mặt trận văn hóa mới” [24; 198]. Tập Bàng hoàng gồm 11 truyện
viết từ 1924 – 1925, có các truyện ngắn tiêu biểu như: Lễ cầu phúc, Trong quán rượu,
Một gia đình hạnh phúc, Cao Phu Tử, Con người cô độc, Tiếc thương những ngày đã
mất, Anh em... Từ 1930 – 1933 sáng tác của ông được in trong tập Chuyện cũ viết lại
gồm 8 truyện ngắn lấy đề tài thần thoại, truyền thuyết và lịch sử để phản ánh hiện
thực, mượn xưa để nói nay với các tác phẩm chính như: Vá trời (Bổ thiên), Lên trăng
(Bôn nguyệt), Luyện kiếm, Tri kỉ, Phản đối chiến tranh... “Chuyện cũ viết lại của Lỗ
Tấn đã phá vỡ hình thức của thể loại tiểu thuyết lịch sử cũ mà phát triển thành hình
thức mới mẻ, độc đáo” [24; 223]. Đánh giá về Chuyện cũ viết lại Mao Thuẫn có viết:
“Từ Ngũ Tứ đến nay những tác phẩm viết bằng đề tài lịch sử đã phát triển, về mặt này
Lỗ Tấn là người mở đầu và cũng là người thành công vĩ đại. Chuyện cũ viết lại của
ông với nhiều hình thức, nhiều màu, nhiều vẻ đã xây dựng cho chúng ta những mẫu
mực quý giá, nhưng quan trọng nhất là tính sâu sắc của nội dung” [24; 234].
Bên cạnh thể loại truyện ngắn, Lỗ Tấn còn thành công với thể loại tạp văn. Tạp
văn là thành tựu đặc sắc của Lỗ Tấn, chiếm hai phần ba số lượng sáng tác, tổng cộng
có đến 659 bài, thu thập trong 17 tập với dung lượng đồ sộ về xã hội, về văn học và
hồi kí văn học. Tạp văn đã nâng địa vị Lỗ Tấn ngày càng cao trên văn đàn Trung
Quốc. Nếu truyện ngắn Lỗ Tấn là ngọn cờ tiên phong, là cương lĩnh sáng tác đánh dấu
thời kì vẻ vang của văn học Trung Quốc thì tạp văn của Lỗ Tấn là một bộ sử đấu tranh

như bao người nông dân khác, anh mang trong mình những phẩm chất vô cùng tốt
đẹp: thật thà, lương thiện, hiếu khách, quý bạn, không tham lam. Dù con đông túng
nghèo là vậy, nhưng do quý bạn và thảo tính nên khi đến thăm nhân vật “tôi” anh vẫn
gói một bọc đậu xanh do nhà trồng được làm quà.
Cái nghèo, sự bần cùng phải chăng một phần do chính người nông dân tạo ra cho
họ? Do sự thiếu hiểu biết mà bàn tay họ tiếp thêm sức mạnh đẩy mình xuống vực sâu.
Lỗ Tấn đã chỉ ra những “tật bệnh”của người nông dân và người lao động để tìm ra
cách chữa: đó là Nhuận Thổ an phận thủ thường trong Cố hương, là AQ mê muội với
phép thắng lợi tinh thần trong AQ chính truyện, là thím Tường Lâm mê tín của Lễ cầu
10


phúc và nguy hiểm hơn là cả số đông người dân mê muội tin vào thứ thuốc kì quái
trong tác phẩm Thuốc.
Hơn nữa, Lỗ Tấn còn quan tâm đến người phụ nữ nông dân trong xã hội cũ. Thím
Tường Lâm hiền lành, khỏe mạnh, tháo vát là vậy mà cả cuộc đời thím phải sống trong
sự cô đơn. Đến khi thím chết đi rồi mà vẫn bị người đời hắt hủi, trách móc. Dù có là
người nông dân bần cùng mang trong mình nhiều “tật bệnh” vô cùng nặng nề, khó
chữa thì Lỗ Tấn vẫn nói lên nguyện vọng tha thiết được đổi đời của họ.
Phản ánh cuộc sống của người trí thức
Bên cạnh số phận người nông dân Lỗ Tấn còn đề cập đến số phận người trí thức.
Vì xuất thân từ tầng lớp này nên ông hiểu biết khá sâu sắc về mọi vấn đề cả bên trong
và bên ngoài của họ. Có những con người có học nhưng lại khư khư bảo vệ lễ giáo
phong kiến và tất nhiên trong hoàn cảnh xã hội Trung Quốc lúc ấy họ trở thành kẻ thù
của xã hội mới. Đó là trí thức trẻ Cao Cán Đình trong Cao Phu Tử, Tứ Minh trong Xà
phòng. Cách mạng đang nổ ra mạnh mẽ trên diện rộng, mọi giai tầng trong xã hội đều
vùng dậy đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, đòi tự do, dân chủ thì Cao Cán Đình
lại bảo thủ, ôm khư khư những lễ giáo đã lạc hậu, cổ hủ và còn cho rằng đó là truyền
thống cần được gìn giữ. Qua đó, Lỗ Tấn hết sức phê phán tầng lớp này.
Cũng có những người trí thức vô cùng đáng thương, họ bị văn hóa phong kiến và

Hài hước và lạnh lùng châm biếm
Đọc văn của Lỗ Tấn ta thấy lời văn dí dỏm, hài hước có lẽ bản thân ông cũng là
con người như vậy. Đặc biệt là khi phê phán tật xấu của AQ, AQ lúc nào cũng nghĩ
mình chiến thắng, khi bị người khác đánh cho thua thảm hại thì hả hê rằng: “Nó đánh
mình chẳng khác nào nó đánh bố nó” [27; 97], rồi lại cười ra về đắc thắng. Khi sắp bị
Vương râu xồm đánh thì AQ nghếch đầu nói: “Người quân tử chỉ đấu khẩu, ai đấu
sức” [26; 104]. Ngoài sự dí dỏm, hài hước, ngòi bút của ông còn lạnh lùng mổ xẻ,
điềm tĩnh phân tích, cứng cỏi trong việc phê phán những thói hư tật xấu của quốc dân.
Ông biết rằng nếu như đưa dao vào mổ ung nhọt ra thì người bệnh sẽ đau đớn vô cùng.
Nhưng khi đã lấy được nó ra rồi chắc chắn cuộc sống của họ sẽ nhẹ nhàng hơn rất
nhiều. Điều này một phần do ông có bản lĩnh của người thầy thuốc.
Một số thủ pháp khác
Ngoài ra, truyện ngắn Lỗ Tấn còn sử dụng một số thủ pháp khác như: tiết kiệm,
chọn lọc mô tả ngoại cảnh và đối thoại nhân vật, những chi tiết ít nhưng rất đậm nét.
Trong tác phẩm Thuốc, hình ảnh “nghĩa địa” xuất hiện rất ít nhưng lại vô cùng đậm nét
bởi sự miêu tả kĩ lưỡng của ông: “Miếng đất dọc chân thành ngoài cửa Tây vốn là đất
công. Ở giữa có con đường mòn nhỏ, hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm
12


mãi thành đường. Đó cũng là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa địa những người chết
chém hoặc chết tù ở về phía tay trái, và nghĩa địa những người nghèo ở về phía tay
phải. Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng
thọ” [27; 65]. Ông cũng chú ý mở đầu và kết thúc tác phẩm, hay lặp lại từ. Trong Lễ
cầu phúc, thím Tường Lâm rất hay nói cụm từ “tôi thật khờ” trước khi bắt đầu kể lể
hoàn cảnh của mình cho những người phụ nữ trong làng nghe. Lỗ Tấn còn đặc biệt chú
ý tên biệt hiệu cho nhân vật của mình, có lẽ cái tên đặc biệt và đáng chú ý nhất là AQ
trong AQ chính truyện.
Những nét nghệ thuật mà Lỗ Tấn sử dụng không quá phức tạp, cao siêu nhưng
chỉ vậy thôi cũng đủ làm cho những tác phẩm truyện ngắn của ông trở nên đặc sắc và

Cao được kết nạp Đảng. Ông sống và hoạt động cách mạng ở Bắc Kạn. Năm 1948 1949, ông đi thực tế vùng đồng bằng, dự định viết một tiểu thuyết về quê hương kháng
chiến. Năm 1949, Nam Cao từ đồng bằng trở lên chiến khu Việt Bắc, ông tham dự lớp
Nguyễn Ái Quốc ở Việt Bắc, phụ trách phần văn nghệ trong tạp chí và báo Cứu quốc.
Tháng 5/1950, ông nhận công tác ở tòa soạn tạp chí Văn nghệ, cơ quan của hội Nhà
văn Việt Nam.
Ngày 30/11/1951, nhà văn Nam Cao đã anh dũng hi sinh ở Liên khu 3. Đây là
một mất mát vô cùng to lớn của cách mạng và văn học nước nhà.
b. Sự nghiệp sáng tác
Kể từ thời điểm 1936 đến khi vĩnh biệt cõi đời (1951), Nam Cao có khoảng thời
gian 15 năm gắn bó với văn chương. So với những tác giả cùng thời thì khối lượng tác
phẩm ông để lại cho văn học dân tộc không mấy đồ sộ.
Ở thể loại tiểu thuyết, Nam Cao để lại hai tiểu thuyết lớn đó là: Sống mòn và
Truyện người hàng xóm. Nhưng ở thời điểm hiện tại chỉ có Sống mòn được công nhận
là tiểu thuyết còn Truyện người hàng xóm với dung lượng của nó chỉ được xếp vào
truyện dài.
Nhà văn Nam Cao thành công nhất ở thể loại truyện ngắn. Ông để lại cho đời gần
60 tác phẩm truyện ngắn. Trong đó có một số tác phẩm tiêu biểu như: Chí Phèo,
Nghèo, Đời thừa, Trăng sáng, Xem bói, Một bữa no, Đui mù, Đôi mắt... Phần lớn
truyện ngắn của ông hướng tới hai giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: giai cấp
nông dân và trí thức tiểu tư sản nghèo ở cả trước và sau Cách mạng tháng 8.
Ông còn để lại một tác phẩm kí mang tên Chuyện biên giới, một tác phẩm kịch
Đóng góp, được nhà xuất bản Văn nghệ xuất bản năm 1951.
Nam Cao có một điểm khác biệt so với số đông nhà văn hiện thực là ông còn
dành khá nhiều quỹ thời gian viết truyện thiếu nhi. Truyện dành cho lứa tuổi này
của ông dí dỏm, nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc, mang tính thẩm mĩ, tính giáo
dục, phù hợp với lứa tuổi các em. Đó là những truyện: Nụ cười, Người thợ rèn, Con
14


mèo mắt ngọc, Ba người bạn, Những kẻ khốn nạn, Đầu đường xó chợ, Phiêu lưu,

Người dân luôn chịu sự đói khổ, lần đầu tiên cái đói và miếng ăn được nói
nhiều trong sáng tác của tác giả này. Đó là cả gia đình anh đĩ Chuột trong truyện ngắn
15


Nghèo. Anh cay đắng khi nhìn cảnh vợ con phải ăn cám để nhường cơm cho mình (lúc
này anh đang bị ốm nặng). Ở trong nhà thấy chủ nợ đang ghì riết vợ những nắm gạo
mới vay để nấu cơm cho anh, anh đĩ Chuột thấy sao mà đau đớn, nhục nhã đến thế.
Người đàn ông nông dân ấy đã kết thúc cuộc đời mình bằng cách thắt cổ. Anh mất đi
rồi thì vợ con anh sẽ sống ra sao? Người chồng, người cha trụ cột trong gia đình chết
đi thì vợ con biết bấu víu vào đâu? Đó là thảm hại đói khổ, bế tắc của gia đình anh đĩ
Chuột nói riêng cũng là thảm cảnh chung của người nông dân Việt Nam trước Cách
mạng tháng 8.
Đặc biệt, khi viết về người nông dân, Nam Cao đề cập đến một vấn đề hoàn
toàn mới mẻ, đó là người nông dân bị phá sản và bị đẩy vào con đường lưu manh hóa,
như Chí Phèo, Lang rận trong truyện ngắn cùng tên. Họ đều là những con người có
ngoại hình xấu xí, gớm ghiếc, tâm hồn thui chột, tính cách méo mó. Người nông dân
bần cùng đến mức phải ăn bả chó trong Lão Hạc, hay phải thắt cổ chết đi cho rảnh nợ
trong tác phẩm Nghèo. Nhưng đau đớn hơn là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” - Chí
Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao. Từ nhà tù thực dân trở về, hắn không còn
là một con người. Xót thương với vẻ ngoài xấu xí, Nam Cao đã làm nổi bật nhân tính
của họ. Chí Phèo cũng đã có lúc tỉnh ngộ muốn trở thành người lương thiện, nhưng
hắn đã chết trên ngưỡng cửa của sự trở về. Qua đây ông cũng phản ánh ước mơ được
đổi đời của họ.
Đề tài người trí thức
Với đề tài người trí thức tiểu tư sản nghèo thì phần lớn tác phẩm Nam Cao viết
về chính cuộc đời mình. Ông đã trung thực và dũng cảm tự mổ xẻ mình trên trang viết
vừa day dứt vừa thiết tha và vô cùng tâm huyết. Người trí thức của Nam Cao gặp phải
hai bi kịch lớn: vỡ mộng và sống mòn chết mòn.
Bi kịch vỡ mộng giữa một bên là khát vọng hết sức lớn lao và bên kia là vấn đề

truyện ngắn của mình. Trong đó bao gồm: kết cấu, ngôn ngữ và bút pháp tâm lí của
nhà văn.
Kết cấu
Theo quan niệm truyền thống, cốt truyện đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm
tự sự. Cốt truyện được xây dựng từ những sự kiện và hành động nhân vật. Nhưng
trong sáng tác của mình Nam Cao không mấy quan tâm đến cốt truyện, thậm chí có
những tác phẩm không có cốt truyện. Yếu tố để xây dựng tác phẩm là sự phân tích, lí
giải thế giới nội tâm của nhân vật. Nam Cao đã khắc họa thành công nhân vật Lão Hạc
ở truyện ngắn cùng tên với những suy nghĩ của người cha nghèo thương con đến vô
cùng, những suy nghĩ ấy chỉ được lão giãi bày với ông giáo mà thôi. Và đáng chú ý
trong tác phẩm của mình, Nam Cao thường kết thúc truyện bỏ ngỏ, không có hậu,
kích thích tưởng tượng đối của người đọc, tạo cơ hội đồng sáng tạo của người đọc
đối với tác phẩm. Kết thúc Trăng sáng nhà văn viết “... Sáng hôm sau, Điền ngồi
17


viết, giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và
có cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà” [36; 113]. Chẳng
ai biết liệu rằng Điền có thực hiện được ước mơ của mình hay không, và rồi cuộc
đời anh sẽ ra sao? Đó cũng là câu hỏi chung cho tất cả những người trí thức tiểu tư
sản nghèo lúc bấy giờ.
Ngôn ngữ
Trong tác phẩm của Nam Cao, ngôn ngữ không chỉ là công cụ, là phương tiện
miêu tả mà còn là đối tượng của sự miêu tả. Nhân vật của ông có khẩu khí riêng, cách
diễn đạt riêng: “cảnh ngộ nào - ngôn ngữ ấy; tính cách nào - lời lẽ ấy” [29; 32]. Đối
với những kẻ không còn lương thiện, ngôn ngữ thể hiện tính cách của họ: “Tao chỉ
liều chết với bố con nhà mày thôi. Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn
rũ tù chưa biết chừng” [36; 35]. Còn những người có học, tính cách điềm đạm lại
khác: “Mình ơi! Anh Độ tốt thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng
mình” [36; 822].

Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương pháp. Trong cuộc sống hàng ngày
so sánh là một hành động và yêu cầu rất tự nhiên, là một trong những phương pháp để
xác định sự vật về mặt định tính, định lượng hoặc ngôi thứ. Còn trong văn học nó là
một phương pháp dùng để xác định, đánh giá các hình tượng văn học trong mối quan
hệ giữa chúng với nhau. Việc này đã được tiến hành từ thời Phục hưng. Tuy nhiên, khi
ấy phương pháp so sánh chỉ được áp dụng một cách tự phát, đơn sơ, chưa có cơ sở
khoa học.
Nhờ công lao của các nhà nghiên cứu văn học Pháp, Anh, Italia và về sau là
Liên Xô (cũ), Hunggari và các nước Đông Âu khác, văn học so sánh từ chỗ chỉ là một
phương pháp dần dần trở thành một bộ môn khoa học thực sự. Họ đã chứng minh bằng
các công trình nghiên cứu ứng dụng và lí luận của họ: văn học so sánh có đối tượng và
phạm vi nghiên cứu riêng, nó không chỉ đơn giản là một phương pháp so sánh. Tuy
nhiên, trên thực tế nghiên cứu văn học đòi hỏi và do điều kiện lịch sử quy định, đối
tượng của văn học phải trải qua một quá trình chuyển biến từ đơn giản đến phức tạp,
từ thấp đến cao.
Văn học so sánh được giao một sứ mạng là so sánh hai hay một số hiện tượng
văn học thuộc các nền văn học dân tộc khác nhau, không có sự tương đồng về điều
kiện lịch sử để chứng minh đặc thù dân tộc của mỗi hiện tượng. Do vậy, văn học so
sánh có thể được định nghĩa: “Văn học so sánh là một bộ môn khoa học nghiên cứu
mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” [4; 19]. Cụ thể là văn học so sánh sẽ bao
hàm ba bộ phận nghiên cứu:
Bộ phận thứ nhất: Nghiên cứu những mối quan hệ trực tiếp giữa các nền văn
học dân tộc (những sự ảnh hưởng và vay mượn lẫn nhau giữa các nền văn học).
19


Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu cũng vay mượn tích cổ Trung Quốc để sáng
tác văn học. Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện tiểu thuyết văn xuôi Kim Vân Kiều
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sáng tác nên một tác phẩm thi ca vừa mang tính tự
sự vừa mang tính trữ tình.


1. 2.2. Khái quát về không gian nghệ thuật
1.2.2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật
Khái niệm không gian nghệ thuật luôn được đặt trong mối quan hệ với không
gian, vì vậy muốn hiểu được không gian nghệ thuật ta sẽ đi tìm khái niệm cơ sở của
nó, chính là không gian. Theo triết học Mac - Lênin: Bất kì một khách thể vật chất
nào cũng đều chiếm một vị trí nhất định trong tương quan về mặt kích thước so với
khách thể khác. Các hình thức tồn tại như vậy của vật thể được gọi là không gian.
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, không gian chính là môi trường chung
sống của con người với sự tồn tại của vô vàn các sự vật xung quanh. Không gian chính
là hình thức tồn tại vật chất với các thuộc tính cùng tồn tại và tách biệt, có chiều, có
hướng và có kết cấu. Vậy đặt vào trong văn học thì không gian sẽ được hiểu như thế
nào? Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Trần Đình Sử đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau: “Không gian
nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật là sản
phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất
định về cuộc sống” [38; 88]. Như vậy, không gian nghệ thuật chính là phạm trù của
hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật trở thành một phương tiện chiếm lĩnh đời sống của con người
và thế giới xung quanh, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật” [38; 89]. Nếu thế giới
nghệ thuật là thế giới của cái nhìn mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường
nhìn mở ra từ một điểm nhìn. Căn cứ vào điểm nhìn ấy ta có thể xác định được vị trí
của chủ thể trong không gian, thể hiện ở phương hướng, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm
của đối tượng nhìn.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là một trong những phương diện quan trọng của
thi pháp học. Không gian nghệ thuật cho thấy những cấu trúc nội tại của tác phẩm văn
học, các ngôn ngữ tượng trưng và còn thấy cả những quan niệm về thế giới, chiều sâu
cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó trở thành phương tiện chiếm lĩnh
đời sống, là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm nhận.
1.2.2.2. Đặc điểm của không gian nghệ thuật

vi, trái tim rung động của thi sĩ, Chế Lan Viên thấy không gian ấy mang tâm trạng
đợi chờ, buồn đau, bế tắc, than thở. Nhắc đến mỗi một mặt nhà thơ lại có những
tâm trạng khác nhau, cảm xúc thay đổi và nhà thơ như thấy mình trong đó, như
chính ông cũng đang đợi chờ, buồn đau bế tắc và than thở về một hiện tại, tâm hồn
hướng về dĩ vãng đã qua.
Không gian trong văn học có những ranh giới thể hiện quan niệm về trật tự thế
giới và sự lựa chọn của con người. Nó biểu hiện ở không gian bên trong và không gian
bên ngoài, ranh giới khả biến và bất biến, giữa còn và mất...
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status