BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
VÕ ĐÌNH HÓA
LỜI VĂN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN- NGẮN TRƯỚC 1945
CỦA NAM CAO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2001
MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................3
32T
32T
DẪN NHẬP ......................................................................................................5
32T
32T
1. Lý do chọn đề tài: ................................................................................................................. 5
T
2
3
6. Kết cấu của luận văn : ....................................................................................................... 24
T
2
3
32T
CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ
32T
THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRƯỚC 1945 NAM CAO ..............25
T
2
3
1.1. Vấn đề lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn ............................................................... 25
T
2
3
T
2
3
1.2. Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật khách quan hóa trong truyện ngắn trước
T
2
3
1945 của Nam Cao ..................................................................................................................... 27
T
2
3
của Nam Cao .............................................................................................................................. 43
32T
1.3.1. Kiểu người thường tường thuật xưng "tôi "đóng vai trò người dẫn truyện ............. 43
T
2
3
T
2
3
1.3.2. Người tường thuật xưng "tôi” tự kể về mình ............................................................ 47
T
2
3
T
2
3
1.3.3. Kiểu người trần thuật xưng "tôi" vừa là người dẫn truyện vừa là một nhân vật ..... 49
T
2
3
2
3
2.1.2. Lời văn nghệ thuật trong cách kể dòng đối thoại ý thức nhân vật của truyện ngắn
T
2
3
Nam Cao ...................................................................................................................................... 59
T
2
3
2.1.3. Lời văn nghệ thuật trong cách kể biến hoa ở truyện ngắn đa thanh của Nam Cao 71
T
2
3
T
2
3
2.2. Sắc thái biểu hiện của giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn trước 1945 của Nam
T
2
3
Cao .............................................................................................................................................. 77
T
2
3
.......................................................................................................................114
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................118
32T
32T
4
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài:
Vượt qua hơn nửa thế kỷ với những thăng trầm và đầy thử thách khắc nghiệt, đến nay hầu
hết các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đều khẳng định Nam Cao là một tài năng lớn của văn
học Việt Nam thế kỷ XX, là nhà văn "hiện thực xuất sắc" của nền văn xuôi nước nhà đặc biệt
là ở giai đoạn 1930 - 1945. Biên soạn các giáo trình giảng dạy Đại học, Cao đẳng và sách giáo
khoa bậc PTTH môn văn, các nhà nghiên cứu đều xem Nam Cao là một tác giả lớn. Điều đó là
sự minh chứng cho vị trí xứng đáng của một tài năng văn học mà tầm ảnh hưởng hết sức sâu
rộng và bền vững.
Sức hấp dẫn của văn chương Nam Cao đã thu hút số đông nhà nghiên cứu văn học quan
tâm. Nhiều khối lượng sách, các bài báo, chuyên luận, các luận án đã viết về cuộc đời và văn
nghiệp Nam Cao. Các công trình này, đã tiếp cận ở nhiều góc độ, xem xét đánh giá ở nhiều
bình diện, khai thác khá công phu, có hệ thống và tìm ra nhiều điều mới mẻ, đóng góp độc đáo
của văn Nam Cao so với những cây bút cùng thời đầy sức thuyết phục.
Tiếp cận dưới góc độ thi pháp học, nhìn chung nhiều nhà nghiên cứu có đi vào khai thác
những yếu tố thi pháp nổi bật trong đó có lời văn. Lời văn được quan tâm đáng kể, xem là sự
độc đáo của nhà văn nhưng được xem xét chưa có hệ thống, còn là sự tản mạn, thường nhận xét
lướt qua, đề cập ít hơn các yếu tố khác hay sau khi phân tích, bàn luận rồi đưa ra một nhận định
3. Lịch sử vấn đề :
3.1. Phần mở đầu:
Giờ đây, tác phẩm của Nam Cao không còn là "khu rừng nguyên sinh" nữa. Người ta bắt
đầu lưu ý đến tên ông kể từ năm 1941, khi Lê Văn Trương viết lời giới thiệu tập Đôi lứa xứng
đôi cho Nxb Đời Mới. Nhưng đến hết thập niên 50, tài năng Nam Cao vẫn chưa được các nhà
chuyên môn nghiên cứu; ngay trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan khi sơ kết giai đoạn
văn học từ 1900 -1943, nhắc đến gần 100 nhà văn mà vẫn có không lấy một dòng viết về Nam
Cao. Mãi đến thập niên 60 về sau, giới nghiên cứu phê bình mới thực sự quan tâm đến Nam
Cao. Người đầu tiên phải kể đến là Hà Minh Đức với Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc
xuất bản 1961. Đến những thập niên tiếp theo xuất hiện ngày càng nhiều những bài viết, những
chuyên luận của các nhà nghiên cứu, nổi bật là cuốn Nam Cao đời văn và tác phẩm (Hà Minh
6
Đức, 1997), Nam Cao phác thảo sự nghiệp và chân dung (Phong Lê,1997). Đặc biệt là hai cuộc
hội thảo khoa học nhân 40 năm ngày mất của Nam Cao 1951-1991 (tháng 11/1991) và nhân 80
năm ngày sinh của Nam Cao 1917-1997(tháng 10/1997) đã khẳng định rõ tài năng và vị trí của
ông ương lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Tính đến nay, tác phẩm của Nam Cao được nghiên cứu trên nhiều phương diện ở mức độ
đậm nhạt khác nhau và được tiếp cận ở các khuynh hướng : xã hội học, phương pháp sáng tác,
phong cách nghệ thuật và đáng lưu ý từ cuối thập niên 80 trở đi các nhà nghiên cứu đã đi sâu
hơn vào nghệ thuật tác phẩm dựa trên các thành tựu của thi pháp học.
Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi sẽ trình bày những ý kiến nổi bật
trong những công trình nghiên cứu phê bình quan trọng, có trực tiếp hoặc có liên quan đến đề
tài: Lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn trước 1945 của Nam Cao.
3.2. Để hình dung cụ thể, có hệ thống những công trình nghiên cứu về lời văn nghệ thuật,
chúng tôi phân ra các loại ý kiến như sau:
3.2.1. Những nhận xét về văn, câu văn, ngôn ngữ và cách kể chuyện trong tác phẩm
Nam Cao:
tinh tế phát hiện ra câu văn, hơi văn khi cho rằng: "Văn Nam Cao thường có cấu trúc câu gọn,
đanh và khỏe. Nhiều lúc hen vãn gấp dồn dập trong những tâm trạng mâu thuẫn của nhân vật"
[10;246]. Về phương diện người miêu tả, Nam Cao không để chữ nghĩa che lấp sự vật, tôn
trọng tối đa đặc điểm tình huống, diện mạo, tính cách, với sự chính xác của các chi tiết của thứ
văn "bật lên từ cuộc sống thực", "khỏe khoắn, mộc mạc, chính xác, gợi cảm và nhiều khi xót xa,
chua chát" [10;245]. Một lần nữa, với công trình này, ông đã nhấn mạnh chất hiện đại Ương
văn Nam Cao: "không tả ước lệ và công thức mòn sáo", "sử dụng nhiều từ mới, nhiều so sánh
liên tưởng" [Ỉ0;247] và để tạo nên nhiều màu vẻ khi miêu tả tính cách nhà văn đã dùng "hình
thức đối thoại bên trong kết hợp với đối thoại" [10;245]. Đây là nhận xét xác đáng về phong
cách nghệ thuật của Nam Cao.
Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945, xuất bản năm 1976, ở đặc điểm thứ ba
khi viết về đặc điểm nghệ thuật tác phẩm Nam Cao, Nguyễn Hoành Khung nhấn mạnh sở
trường "đi sâu vào đời sống nội tâm của nhân vật" bằng cách kể sinh động có duyên với ngôn
ngữ là "lời ăn tiếng nói quần chúng, giản dị mà phong phú, chắc chắn mà uyển chuyển, tinh tế,
có khỉ xù xì, dài dòng nhưng vẫn trong sáng đậm đà, thường xen lẫn tục ngữ, thành ngữ, ca
8
dao và những lối nói đưa đẩy duyên dáng rất độc đáo, đặc biệt Việt Nam" [20;310]. Theo tác
giả, đó là ngôn ngữ bậc thầy đánh dấu sự phát triển ngôn ngữ, khác xa thứ văn chương "sạch
sẽ" của Tự lực văn đoàn. Ở góc độ khác, Nguyễn Hoành Khung nhấn mạnh nhân vật Nam Cao
"hiện hình trước mắt người đọc chủ yếu bằng ngôn ngữ của mình (đối thoại và độc thoại nội
tâm) hơn là bằng sự miêu tả bên ngoài" [20;311]. Có thể nói, những nhận xét trên rất quan
trọng dù tác giả chưa phân tích cụ thể về biểu hiện của nó ở nhiều tác phẩm cũng như về cấu
trúc câu văn là cái thú vị khi đọc văn Nam Cao.
Với 36 trang viết về Nam Cao trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945-1975, tập II, xuất bản
1979, Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức cùng cho rằng chính dòng tâm lý quẩn quanh, không tìm
được hướng giải quyết đã làm cho "nó không được giao lưu với hành động nên có những phát
triển ở bên trong ngày càng đi sâu vào nội tâm". Cách miêu tả tâm lý gần gũi lối miêu tả tâm lý
của Dostoievski này đã đưa đến cho văn "Nam Cao vận dụng về đối thoại", "ừ chú ý miêu tả kỹ
ngữ tĩnh lặng cửa kẻ đang tự nguyền rủa mình, đang tự đối thoại với chính mình"[49;221]. Nó
là "chìa khóa"giấu trong lời chửi của Chí Phèo - một loại hình folklore có những sắp xếp nghệ
thuật phù hợp với nội dung triết lý, xã hội mà nó chuyển tải. Tuy chỉ đề cập một tác phẩm
nhưng nó có những phát hiện thú vị về mặt ngôn ngữ nhân vật. Trong Nghĩ tiếp về Nam Cao,
xuất bản 1992, với bài viết Nam Cao và cuộc cách tân văn học đầu thế kỷ XX, Lại Nguyên Ân
cho rằng đóng góp vào việc xây dựng và phát triển văn xuôi mới đầu thế kỷ XX của Nam Cao
là ngôn ngữ văn xuôi "không bị thôn tính bởi ngôn ngữ tác giả như ở các nhà Tự lực văn đoàn".
Và do quan tâm nhiều về biến thiên tâm trạng nên đã tạo được "một ngôn ngữ ít nhiều phức
điệu, tổ chức được những mạng lưới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên
trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí cả ngôn ngữ đan xen và nhòe lẫn vào
nhau của hai ngồn ngữ ấy" [2; 123]. Nó là thứ ngôn ngữ không cũ đi với thời gian, đạt đến
mức cổ điển của văn xuôi tiếng Việt. Đây là sự nhận định chung của tác giả khi so sánh với các
nhà văn tả chân khác, đặc biệt là các nhà văn Tự lực văn đoàn ở đầu thế kỷ.
Theo tác giả chuyên luận Phong cách truyện ngắn Nam Cao, viết năm 1992, cấu trúc
truyện ngắn là "một dòng xám buồn của chất văn xuôi - đời thường". Vũ Tuấn Anh cho rằng
chính điều này hợp với "câu văn Nam Cao cũng chỉ là thứ văn bị xé rách về ngữ điệu, chúng
nhấm nhẵn, đứt nối, cắn rứt, chì chiết, nghẹn ngào đầy kịch tính: dường như không phải ông
viết, mà ông đang sống mỗi từng câu chuyện được viết ra" [1;366]. Theo tác giả, đó là những
câu văn không có gì nguyên vẹn, ngay ngắn, tròn trịa với hệ thống hình tượng méo mó, xấu xí,
dị dạng điển hình như ở tác phẩm : Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận,... Như vậy, tác giả đã có nhận
10
xét quan trọng : một trong yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật Nam Cao là ngôn ngữ mang
đầy sức sống hiện thực.
Tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ nghệ thuật, Phan Diễm Phương tinh tế khi cho rằng một
trong "lối văn kể chuyện của Nam Cao" là không chỉ kể chuyện mà còn kể về tâm trạng: "Đó là
sự chuyển hóa ngôn ngữ từ người kể sang ngôn ngữ nhân vật ị thực chất vẫn là ngôn ngữ người
kể chuyện, nhưng hiện ra dưới dạng thức độc thoại nội tâm của nhân vật)". Thủ thuật này là kể
chuyện nhân vật A cũng là kể tâm trạng nhân vật B nên nó ôm vào mình "những cặp đặc điểm
hợp với "ngôn ngữ nhân vật, người nào giọng ấy, không ai giống ai", "cảnh ngộ nào ngôn ngữ
ấy, tính cách nào lời lẽ ấy" [24;83]. ở đây nhân vật không chỉ biết nối lời tác giả, mà nói băng
ngôn ngữ chính mình. ơ đoạn khác ông nhận xét vê truyện ngăn Nam Cao như sau: "số trang
ngắn, lượng chữ ừ, nên tình huống phải thật cô gọn, nguyên tắc tiết kiệm phải vận dụng tối đa",
"cách dẫn truyện không cố chút dềnh dàng, rề rà: Mạch truyện chuyển rất nhanh. Vào truyện
ngay, đúng lúc cần vào" [24;94]. Đây là nhận định có giá trị về đặc trưng bút pháp hiện thực
Nam Cao.
Cũng trong năm này, với chuyên luận Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước Cách
mạng, Bùi Công Thuấn tinh tế khi phát hiện "có thể coi những kiểu câu ngắn này là một đặc
điểm của phong cách ngôn ngữ của Nam Cao. Ngay cả khi Nam Cao viết cả những câu dài,
những câu ấy cũng được ngắt vụn ra. Câu ngắn làm cho mạch văn đì nhanh, giọng văn đanh
lại. Đọc văn Nam Cao ít khi gặp giọng văn mềm mỏng, âu yếm” ,dù diễn tả nỗi đau thương hay
cảnh ngọt ngào. Đôi lúc ta tưởng như mọi tình cảm bị khô kiệt chỉ còn lại cái chất suy nghĩ khô
khốc của lý trí, "Câu văn Nam Cao dường như không chuyển tải tình cảm, không diễn đạt tình
cảm, nó có vẻ cộc và khô gần như bốp chát. Chính những câu văn ngắn này làm nên chất giọng
riêng ở văn Nam Cao"[48;369]. Để minh chứng điều này, tác giả đưa ra hai đoạn văn trong
Xem bói và Điểu văn. Tuy chưa bao quát, phân tích nhiều tác phẩm nhưng đây là những nhận
định quan trọng khi nghiên cứu câu văn Nam Cao.
Dựa trên sự thống kê qua các tác phẩm : Chí Phèo, Trăng sáng, Lão Hạc, Đời thừa, Sống
mòn (Chương VI, vu và XX), Phan Trọng Thưởng thấy tần số xuất hiện chữ "nhưng" khá ấn
tượng, đặc biệt ở chữ "nhưng" đứng đầu câu. Tác giả đi vào giải thích lý do xuất hiện ở hai
phương diện : do xã hội Nam Cao sống và viết đầy những bất trắc, bất ngờ; làng xã và gia đình
của nhân vật sống trong một nghịch lý những điều ham muốn, những ước mơ và thực tại; về
phía nhà văn do tâm hồn nặng trĩu những lo toan, bi phẫn, luôn muốn giãi bày, cắt nghĩa, không
12
muốn bỏ sót chi tiết, biến cố nào nên "văn phong ông nhiều khi quay quắt, bất ngờ"[52;474].Ở
phương diện văn chương, tác giả giải thích do văn Nam Cao xuất hiện nhiều tình huống mâu
thuẫn, trái ngược, tương phản, bất ngờ... của một thế giới nghệ thuật "không thuận chiều, không
gân guốc, vừa chan chứa yêu thương; vừa tỉnh táo nghiêm ngặt, vừa thắm thiết trữ tình"
[20;308]. Đến năm 1997, khi phân tích tác phẩm Đời thừa, khẳng định tấn bi kịch đã đặt ra vấn
đề cá nhân đúng đắn tiến bộ, ý thức nghệ thuật của xu hướng hiện thực sâu sắc mới mẻ lúc bấy
giờ, Nguyễn Hoành Khung một lần nữa đã nhấn mạnh chất triết lý ở truyện này, khổng một
chút trừu tượng mà là suy nghĩ vắt ra từ cuộc đời vất vả, từ những giằng xé tâm hồn trung thực,
dũng cảm, cố vươn tới chân lý và tác giả đã thừa nhận "chất suy nghĩ, triết lý này đem đến cho
Đời thừa một giọng điệu riêng" [2ỉ;30ỉ].Đấy là những nhận xét sâu sắc về nghệ thuật viết văn
của Nam Cao.
Đến năm 1983, trong bài Khải luận của Tổng tập văn học Việt Nam 30A, Nguyễn Đăng
Mạnh khi đề cập lối văn kể chuyện đầy biến hóa linh hoạt và cho rằng "đó là sự kết hợp bút
phát tự sự lạnh lùng với bút pháp trữ tình thiết tha, hoặc viết lên những tứ thơ man mác, hoặc
lãng mạn trong những suy nghĩ triết lý thâm trầm (Dì Hảo, Lão Hạc, Đời Thừa, Mua nhà, sống
mòn...)" [30;51]. Đây là nhận định có tính chất tổng quát về bút pháp của Nam Cao.
Tiếp cận ở khuynh hướng phong cách nghệ thuật, bài nghiên cứu Phong cách truyện ngắn
của Nam Cao, viết năm 1992, Vũ Tuấn Anh xem Nam Cao là người mở đầu và thành công khi
dồn chất tiểu thuyết vào truyện ngắn và nếu như trước đây đã có "một Vũ Trọng Phụng tả chân
sắc sảo, một Nguyễn Công Hoan trào phúng đôi khi pha chất hề, một Thạch Lam trầm lặng tinh
tế và đồng thời một Tô Hoài thiên về những nét sinh hoạt phong tục" thì Nam Cao đã bồi đắp
cho thể truyện ngắn sự hàm súc, chiều sâu mới, góp vào nền văn học hiện thực phê phán giai
đoạn cuối một phong cách riêng: "văn Nam Cao phức hợp, là tổng hòa những cực đối nghịch:
bi và hài, trữ tình và triết lý, cụ thể và khái quát" [1;364]. Đây là những nhận xét bổ ích về sự
"không vơi cạn" của văn Nam Cao.
Cũng trong năm 1992 này, một chuyên luận khác của Phan Diễm Phương là Lối văn kể
chuyện cửa Nam Cao. Một trong ba cách kể chuyện mà tác giả đưa ra có cách kể chuyện "vừa
kể vừa suy ngẫm" với cách thức : sau khi tác giả đưa vào tâm trí người đọc những chi tiết về
cảnh đời, rồi "nhẹ nhàng đưa ra những câu khái quát, triết lý mà như là bất ngờ, nhưng lại thật
hiển nhiên" [37;247]. Điều này hoàn toàn xác đáng. về sau này ở bài Đặc trưng bút pháp hiện
14
Nam Cao đậm tính trữ tình nhưng người đọc vẫn nhận rồ "hiện tượng đa thanh, hiện tượng
nhiều tiếng nối: tiếng nối của tác giả, tiếng nói của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất - nhân vật
tôi - và tiếng nói của nhiều nhân vật khác" [12;41], đã làm cho tác phẩm sinh động biến hóa.
Đây là những nhận định tin cậy đầy trân trọng và một lần nữa đã khẳng định sự đa thanh trong
tác phẩm Nam Cao.
Là một người sớm nghiên cứu thi pháp, Trần Đình Sử trong Một số vấn đề thi pháp học
hiện đại, xuất bản 1993, đã cho rằng trong truyện Lão Hạc của Nam Cao "ngôn ngữ trần thuật
đã có tính chất đa thanh: cố tiếng nói của "tôi"chưa thông qua Lão Hạc, có lời lạnh lùng của
vợ "tôi", có lời thuật của việc theo quan điểm Lão Hạc mang tính chất nửa trực tiếp và cuối
cùng là lời độc thoại nội tâm của "tôi", người đã hiểu và kính trọng Lão Hạc". Tính chất đa
19
thanh này "không đơn giản là lời kể hướng đến đối tượng, gọi tên đối tượng, mà còn là lởi đối
thoại với các ý thức khác, kể cả ý thức của mình, để kể về một câu chuyện có thực" [39; 163]. Ở
đây ta tìm thấy nhận xét có chiều sâu của tác giả khi vận dụng thi pháp tiểu thuyết phức điệu
của Bakhtin để soi sáng tác phẩm Nam Cao.
Cũng ở góc độ thi pháp, Phạm Quang Long cho rằng Một đặc điểm của thi pháp truyện
ngắn Nam Cao (viết 1994), là ông sử dụng một hệ thống tình huống truyện dưới dạng "tình
huống nhận thức - lựa chọn" gắn chặt với tình huống tâm lý. Tình huống này cho phép nhà văn
đi sâu vào thế giới tâm lý, vào những "đối thoại tư tưởng giữa nhà văn với người đọc" dưới
dạng những tư tưởng triết lý, quan niệm đạo đức nhân sinh được cảm nhận từ hệ thống hình
tượng, những rung động thẩm mỹ, tạo nên "tính phức điệu trong văn xuôi Việt Nam trước 1945
trong sáng tác của một Nam Cao"[26;382]. Nhấn mạnh tài năng tạo tình huống làm nên tính
phức điệu của Nam Cao, là đóng góp trân trọng về ứng dụng thi pháp trong nghiên cứu văn
chương của tác giả.
Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (viết 1995), Nguyễn Thị Dư Khánh cho
rằng tính nhiều giọng của ngôn ngữ người kể chuyện rất đa dạng "khi xuất hiện trong tư cách
người kể chuyện ẩn mình, cố lúc lại trong tác phẩm ấy bỗng xuất hiện với tư cách người trực
tiếp kể chuyện của mình hoặc kể chuyện người khác"[19;40]. Việc nhà văn đóng góp nhiều vào
của tác giả, một lần nữa khẳng định cho chúng ta tài năng sáng tạo trong lối hành văn của Nam
Cao.
Là một người nhiều năm nghiên cứu về Nam Cao, Phong Lê với cái Nhìn -từ cuối thế kỷ,
đã cho rằng cái làm cho tác phẩm của Nam Cao vượt lên mọi thử thách của thời gian vì ông là
"một nhà văn có văn". Theo nhà nghiên cứu, so với Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài... các nhà văn đi trước, thì "ở văn Nam Cao gần như có đủ
chất liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lý và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô
nhám và chất thơ...". Nhưng để đúng là Nam Cao lại cần hình dung trong "một sự tổng hợp
nhiều chất liệu, nhiều giọng điệu; và đồng thời là một giọng riêng không lẫn với bất cứ ai" [25;
1 13].
Cũng trong năm 1997 này, trong Đặc trưng bút pháp hiện thực của Nam Cao, ông có đưa
vài câu và một số đoạn trong tác phẩm tiêu biểu để làm rõ một trong những đặc trưng đó là:
văn có giọng điệu rất Nam Cao. . Chính giọng điệu riêng của thứ "văn nói" không có "chút mùi
vị sách vở nào, đang diễn ra ngoài đời, không hề cũ" [24;84], đã giúp văn Nam Cao không
21
giẫm lại người khác, không lẫn với ai. Tuy phần giọng điệu riêng của tác giả chỉ nhấn mạnh
chứ chưa đi vào một cách cụ thể các biểu hiện của nó ở nhiều tác phẩm, nhưng đã khẳng định
cho ta điều quan trọng: văn Nam Cao chứa đựng nhiều giọng điệu như chính cuộc đời vốn có.
Để kết thúc phần này, chúng tôi xin lấy một nhận định đầy thuyết phục của Bích Thu
trong Lời đề dẫn cho cuốn Nam Cao về tác gia và tác phẩm, xuất bản 1998 như sau: "Nam Cao
không tạo ra một giọng điệu chủ đạo, thống lĩnh. Ông đã có đóng góp lớn trong việc đa thanh
hóa giọng điệu tự -sự. Việc sử dụng giọng điệu căn cứ vào đối tượng và hiện thực mà tác phẩm
phản ánh. Nhưng ngay trong một tác phẩm cụ thể, mỗi đoạn, mỗi tứ, vẫn có sự chuyển hóa
giọng điệu tạo nên trữ lượng thẩm mỹ không vơi cạn trong sáng tác Nam Cao" [46;33].
3.3. Nhận định chung :
Hơn nửa thế kỷ qua, tác phẩm Nam Cao được khai thác trên nhiều phương diện, đề cập ở
nhiều mức độ khác nhau và lý giải từ nhiều góc độ: xã hội học, phương pháp sáng tác, phong
cách nghệ thuật và đặc biệt là thi pháp ở những năm gần đây. Nhiều nhà nghiên cứu đã tốn
4. Phương pháp nghiên cứu :
Trong quá trình viết đề tài, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp
phân tích - tổng hợp và phương pháp hệ thống. Để đi đến một nhận xét có tính chất tổng hợp,
chúng tôi phải đi vào các thành phần cơ bản của lời văn ở mỗi kiểu trần thuật và xem xét sự
biểu hiện giọng điệu cụ thể, phức tạp của lời văn nghệ thuật qua các tác phẩm cụ thể của Nam
Cao. Đồng thời để triển khai vấn đề một cách khoa học, biện chứng, chúng tôi đặt thành phần
lời văn, giọng điệu nghệ thuật của lời văn Nam Cao trong sự tương tác với các yếu tố nghệ
thuật khác trong một hệ thống chung. Hơn nữa, chúng tôi đặt lời văn nghệ thuật của Nam Cao
vào giai đoạn 1930 - 1945 và tiến trình phát triển chung của văn học dân tộc để tìm giá trị của
vấn đề.
Ngoài hai phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh và thống kê ở
chừng mực nhất định. Trong khi trình bày lời văn nghệ thuật của Nam Cao, chúng tôi có đối
sánh với lời văn nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam ở từng vấn đề nhỏ, để suy
nghĩ về những nét tương đồng và dị biệt trong lời văn ở các tác giả này. Những tác phẩm của
hai tác giả này đều dựa vào văn bản truyện: Tuyển tập Thạch Lam (Phong Lê sưu tầm, tuyển
chọn và giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội 1988) và truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trích từ
cuốn Ngựa người và người ngựa (Nxb Văn nghệ, TP.Hồ Chí Minh, tái bản 1994). Từ đó,
23
chúng ta hình dung vấn đề rõ hơn chứ không nhằm mục đích khẳng định sự hơn kém ở các nhà
văn này.
Ở trường hợp cần thiết thì chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê các yếu tố nghệ thuật
trong lời văn theo hướng định lượng và định tính để xem xét những hiện tượng có tính tập
trung cao, có tần số xuất hiện nhiều lần trong truyện ngắn, mong tìm ra các đặc điểm riêng, ổn
định, có dụng ý trong lời văn nghệ thuật của Nam Cao, nhằm làm vững chắc hơn cho nhận xét
của mình.
5. Những đóng góp của luận văn :