Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ LÝ

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN KHẢI SAU 1985
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH

1
HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn tận tình của TS.
La Nguyệt Anh - giảng viên Tổ Văn học Việt Nam. Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng
biết ơn chân thành sâu sắc tới cô.
Tôi cũng xin đƣợc gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong Tổ Văn học
Việt Nam, cùng các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trƣờng Đại Học Sƣ
Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận.
Do hạn chế về mặt thời gian, khả năng bƣớc đầu nghiên cứu khóa
luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong tiếp tục nhận đƣợc
sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Đóng góp khóa luận ...................................................................................... 5
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ
THUẬT VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI............................................ 6
1.1. Những vấn đề lí luận về không gian và không gian nghệ thuật................. 6
1.1.1. Khái niệm không gian và không gian nghệ thuật ................................... 6
1.1.2. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học .............................. 8
1.2. Tác giả Nguyễn Khải và truyện ngắn sau năm 1985 ............................... 11
1.2.1. Tác giả Nguyễn Khải ............................................................................ 11
1.2.2. Quá trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Khải sau 1985 ................. 13
CHƢƠNG 2. NHỮNG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT ĐẶC TRƢNG ...... 18
2.1. Không gian tự nhiên trong sự thay đổi của đất nƣớc ............................... 18
2.2. Không gian gia đình ................................................................................. 22
2.2.1. Không gian gia đình với những giá trị hằng thƣờng, bền vững ............ 22
2.2.2. Không gian gia đình gắn với những đổi thay trong cuộc sống ............. 30
2.3. Không gian xã hội .................................................................................... 33
2.3.1. Không gian thành thị với nếp sống, nếp nghĩ của ngƣời Hà Nội ......... 34
4


2.3.2. Không gian làng quê trƣớc những thay đổi .......................................... 37
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 1

5



2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khải đƣợc giới nghiên cứu phê bình đánh giá là một cây bút
thông minh, nhạy bén trong khám phá và nắm bắt hiện thực. Sự mẫn cảm với
cái hằng ngày, với những gì đang diễn ra của hôm nay đã tạo nên sức cuốn
hút riêng của ngòi bút Nguyễn Khải. Sáng tác của Nguyễn Khải nói chung,
truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 nói riêng luôn thu hút sự quan tâm của
giới nghiên cứu và nhiều thế hệ độc giả, khơi gợi đƣợc hứng thú tranh luận
trở thành nơi giao tiếp, đối thoại với đông đảo bạn đọc.
Cùng với sự ra đời của hàng loạt tác phẩm nghệ thuật khẳng định tài
năng sáng tác của Nguyễn Khải, ngƣời đọc có thể tìm thấy một số lƣợng khá
lớn những bài nghiên cứu phê bình về Nguyễn Khải đƣợc công bố dƣới nhiều
dạng khác nhau và đề cập đến nhiều phƣơng diện.
Nghiên cứu về văn chƣơng Nguyễn Khải, với bài viết Nguyễn Khải
trong sự vận động cách mạng từ sau 1945, Vƣơng Trí Nhàn đã có sự so sánh
khá lí thú về hai giai đoạn sáng tác trƣớc 1975 và sau 1975 của nhà văn, ông
cho rằng: “Một bên là cái nông nổi vô tâm của tuổi trẻ, một bên là những
chuyện chiêm nghiệm sâu sắc của tuổi già, một bên là nói ào ào nói lấy được,
một bên vừa ngập ngừng chậm rãi, chỉ sợ mình khái quát sai một lần” [15,
106].
Tác giả Bích Thu có bài viết: Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Khải những năm 80 đến nay, đi sâu vào nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Khải ở phƣơng diện giọng điệu. Theo tác giả giọng điệu trần thuật là
một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức chinh phục của truyện ngắn
Nguyễn Khải từ những năm tám mƣơi đến nay: “Sức chinh phục của truyện
ngắn Nguyễn Khải những năm gần đây một phần đáng kể là do nghệ thuật kể
chuyện, trong đó giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng
làm nên sức hấp dẫn trong các sáng tác tự sự của nhà văn” [21, 122].

2



Trong luận văn thạc sĩ Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975,
tác giả Lê Vũ Kỳ Hƣơng cũng dành những trang viết nghiên cứu về thi pháp
không gian trong truyện ngắn Nguyễn Khải. Theo khái quát của Lê Vũ Kỳ
Hƣơng, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 bao
gồm không gian thành thị và không gian làng quê. Tác giả nhận xét: “Cách tổ
chức không gian của nhà văn đã giúp ông khám phá sâu hơn vào thế giới tinh
thần của nhân vật, từ đó thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa con người với
thực tại cuộc sống” [6, 73].
Sau khi tìm hiểu những ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận
thấy:
Thứ nhất: các công trình khoa học, các bài viết về Nguyễn Khải đã đề
cập đến nhiều vấn đề trong sáng tác của Nguyễn Khải. Tuy nhiên, do mục
đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu riêng, đến nay chƣa có một công trình
nào tìm hiểu một cách hệ thống về không gian trong truyện ngắn Nguyễn
Khải sau 1985.
Thứ hai: những ý kiến, những bài viết trên là những tƣ liệu vô cùng quý
giá để trên cơ sở đó, chúng tôi nghiên cứu một cách có hệ thống về không
gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985. Và qua đó chúng
tôi muốn tìm hiểu thêm về tƣ duy nghệ thuật của Nguyễn Khải cũng nhƣ góp
phần khẳng định tài năng của ông.
3. Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài này tôi nhằm mục đích:
Có sự hiểu biết sâu sắc về không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn
học nói chung và trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 nói riêng. Thấy
đƣợc tài năng của nhà văn Nguyễn Khải trong việc tạo dựng không gian nghệ
thuật trong tác phẩm.

4


5


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI
1.1. Những vấn đề lí luận về không gian và không gian nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm không gian và không gian nghệ thuật
Không gian là khái niệm thuộc phạm trù triết học, là một hình thức
tồn tại của vật chất. Trong cuộc sống không có gì tồn tại ngoài không gian
và thời gian.
Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không gian
nhƣ sau:“Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện
tượng xung quanh đời sống con người” [16, 492].
Trƣớc khi có định nghĩa hoàn chỉnh về không gian nhƣ trên, trong tƣ
tƣởng của ngƣời Phƣơng Đông xƣa đã quan niệm cấu trúc không gian vũ trụ
với mô hình tam tài và ngũ hành. “Tam tài” là một khái niệm bộ ba, “ba
phép”: Thiên - Địa - Nhân. Nó thể hiện quan niệm của ngƣời xƣa về cấu trúc
không gian dƣới dạng mô hình ba yếu tố. Còn “Ngũ hành” là khái niệm dùng
để mô phỏng cấu trúc không gian vũ trụ bởi năm yếu tố theo thứ tự: Kim Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Xét về bản chất của những từ “thế giới”, “vũ trụ” thì
đó đều là những khái niệm để chỉ tổng thể không gian - thời gian.
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Nếu
nhƣ mọi vật trong thế giới đều tồn tại trong không gian ba chiều: cao, rộng, xa
và một chiều thời gian thì không có hình tƣợng nghệ thuật nào không có không
gian, không có nhân vật nào lại không có nền cảnh nào đó, ta có thể thấy để có
thể nhìn rõ các sự vật mỗi nhà văn cũng cần có trƣờng nhìn nhất định.

6

7


Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác
phẩm văn học, các ngôn ngữ tƣợng trƣng, mà còn cho thấy những quan niệm
về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung
cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng nhƣ nghiên cứu loại
hình của các hình tƣợng nghệ thuật. Vì vậy không thể tách hình tƣợng ra khỏi
không gian mà nó tồn tại và không gian là một trong những phƣơng diện kết
cấu nghệ thuật của tác phẩm. Nhà văn bao giờ cũng dựa trên cơ sở không gian
của đời sống hiện thực để sáng tạo nên những hình tƣợng không gian riêng,
nhằm bộc lộ những quan niệm của mình về bản thân chúng đồng thời phản
ánh theo cách của riêng mình.
Do khuynh hƣớng muốn đi sâu khám phá, tái hiện đời sống với những
tính cách, cho nên không gian cũng mang những nét đặc sắc riêng. Không
gian đƣợc nhà văn tổ chức nhƣ một hình tƣợng nghệ thuật gắn liền với các
yếu tố khác cấu thành tác phẩm hình tƣợng nhân vật, cốt truyện… nhà văn đã
tổ chức linh hoạt không gian nghệ thuật góp phần làm nổi bật chủ đề tƣ tƣởng
của tác phẩm và thể hiện rõ phong cách của tác giả.
Tóm lại không gian là một trong những yếu tố nghệ thuật bao gồm
không gian bối cảnh, tự nhiên, tâm lí... Cũng nhƣ thời gian, không gian nghệ
thuật là một trong những yếu tố không thể thiếu của thi pháp học. Nghiên cứu
về yếu tố không gian, chúng ta có thể hình dung toàn bộ bối cảnh xã hội, đi sâu
vào tâm lí nhân vật để tìm hiểu tầng nghĩa khác nhau của tác phẩm văn học.
1.1.2. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, không gian nghệ thuật trong văn
học đã tồn tại qua nhiều hình thức, từ nền văn học sơ khai cho đến một
nền văn học cận hiện đại về sau. Không gian nghệ thuật trong văn học dân
gian và văn học viết.



9


quan niệm không gian vũ trụ có sự thay đổi về đặc tính (từ hƣ vô, thoát tục
đến trần tục, thế tục). Sự biến đổi về mô hình không gian nghệ thuật gắn liền
với không gian mở ra tới đó, bị chi phối bởi nhận thức, tƣ duy (hƣớng về vũ
trụ, tâm linh, có tính bất biến).
Không gian nghệ thuật trong văn học cận hiện đại. Do sự thay đổi
trong quan niệm về xã hội, cá nhân, hoạt động của con ngƣời mà không gian
trong văn học cận hiện đại có những điểm khác biệt so với không gian trong
văn học dân gian và văn học trung đại. Sự thay đổi đó đƣợc thể hiện khá rõ
nét trƣớc hết ở văn học Châu Âu. Trong Tấn trò đời, Balzac xem xã hội nhƣ
cái biển lớn, nhƣ một vực sâu đầy bí ẩn. Môi trƣờng sống thấm nhuần
đặc điểm cá tính nhân vật.
Ở Việt Nam, từ thế kỉ X - XII xuất hiện những truyện văn xuôi
viết dƣới dạng các thần phả. Thế kỉ XV - XVIII mới có những truyện viết về
đời tƣ của những con ngƣời bình thƣờng, nhất là những ngƣời phụ nữ. Đến
khi Hoàng Lê nhất thống chí ra đời mới có quy mô tiểu thuyết. Không gian
trong Hoàng Lê nhất thống chí bao quát về cuộc sống nhiều mặt nhƣng chủ
yếu đó là không gian mang tính chất sử thi vì gắn liền với sự hƣng vong của
triều đại, đất nƣớc. Phải sang đến giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ XX - năm
1945, nhất là với dòng tiểu thuyết hiện thực phê phán 1930 - 1945, văn học
Việt Nam mới có những tiểu thuyết hiện đại. Những tác phẩm của Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao,... đã thực sự thể hiện
cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tƣ. Không gian lịch sử xã hội và không gian
sinh hoạt đời tƣ đƣợc xây dựng trong mối quan hệ khăng khít với nhau.
Nhƣ vậy, không gian nghệ thuật là hình thức thể hiện quan niệm về thế
giới và con ngƣời. Theo sự trôi chảy của dòng thời gian và sự phát triển của
lịch sử, khi con ngƣời có nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về xã hội, quan niệm

bùng dậy ở ông ý thức về nhân phẩm và ý chí sống để khẳng định mình: “Vậy
thì phải sống. Sống bằng cái nhẫn nhục, cái chịu thương chịu khó, không giây

11


phút nào được buông lơi, không giây phút nào được tự huyễn hoặc. Sống cho
hết cái có thể có của mình rồi đời sẽ giúp mình sau” [11, 201].
Cách mạng Tháng Tám đến với ông nhƣ một ân huệ lớn. Ông đã tìm
đƣợc niềm hạnh phúc lớn nhất đời mình, đƣợc trả lại tƣ cách làm ngƣời, đƣợc
chọn con đƣờng viết văn để thực hiện một cách sống tạo dựng uy tín danh dự.
Đây là con đƣờng để ông đền đáp cách mạng và rửa sạch nỗi hờn nhục bị
chính ngƣời ruột thịt hắt hủi. Năm 16 tuổi, ông học xong năm thứ ba ở một
trƣờng Trung học ở Hà Nội. Đầu năm 1949, ông tham gia kháng chiến ở
Hƣng Yên, gia nhập đội quân tự vệ rồi trở thành chiến sĩ một đơn vị bộ đội ở
địa phƣơng. Một thời gian ông làm y tá, sau đó trở thành phóng viên báo của
tỉnh Hƣng Yên. Từ đây ông dốc một lòng để phục vụ cách mạng.
Từ cuối năm 1950, Nguyễn Khải đƣợc cử đi tham dự lớp nghiên cứu
Văn nghệ do Hội Văn nghệ Trung Ƣơng và Chi hội Văn nghệ khu IV tổ chức
tại Vĩnh Lộc - Thanh Hóa.
Bƣớc ngoặt lớn nhất vào tháng 5/1951, ông đƣợc cử đi dự trại viết của
hai Chi hội Văn nghệ liên khu III và liên khu IV tổ chức tại Kim Tân - Thanh
Hóa. “Đó là mốc quan trọng trên con đường dẫn đến nghề văn của tôi”Nguyễn Khải đã nói nhƣ vậy về lớp học mà nhờ đó lần đầu tiên đƣợc làm
quen với Nguyễn Tuân, Xuân Diệu… Nguyễn Khải bắt đầu có truyện ngắn
đăng báo.
Năm 1955, ông về dự trại toàn quân để viết truyện anh hùng Mạc Thị
Bƣởi. Kết thúc trại ông có tác phẩm Người con gái quang vinh.
Năm 1956 ông chuyển công tác về Tạp chí Văn nghệ quân đội, ở đây
ông làm việc cùng nhiều nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ nhƣ: Thanh Tịnh,
Phùng Quán, Chính Hữu, Nguyên Ngọc…

tƣ duy của Nguyễn Khải. Bằng tài năng và sự mẫn cảm nghệ thuật, ông không
ngừng điều chỉnh, làm mới và mỗi giai đoạn sáng tác của ông đều có những

13


khám phá mới mẻ. Đặc biệt ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Khải đã đạt đƣợc
những thành tựu riêng.
* Chặng đƣờng trƣớc năm 1985
Trong chặng đƣờng này, truyện ngắn Nguyễn Khải tập trung chủ yếu
vào hai đề tài chính: đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
miền Bắc. Bên cạnh đó ông còn khai thác đề tài chiến đấu qua hai cuộc kháng
chiến.
Ở đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tác giả tập
trung khẳng định vẻ đẹp con ngƣời mới, những con ngƣời gắn kết cộng đồng
trở thành nhu cầu máu thịt của mỗi cá nhân nhƣ nhân vật cô Đào (Mùa lạc);
Tấm (Đứa con nuôi)… Nguyễn Khải đã miêu tả bộ mặt đầy sức sống của
nông thôn miền Bắc với những vẻ đẹp mới mẻ trong các mối quan hệ đầy tin
cậy giữa tập thể với cá nhân, giữa cấp trên với cấp dƣới, tình đồng chí, tình
bạn bè...vừa tỏ thái độ không khoan nhƣợng với những biểu hiện tiêu cực
không mang tinh thần chủ nghĩa xã hội, nhƣ lối làm ăn kiểu phƣờng hội: Tuy
Kiền, (Tầm nhìn xa), Mơ (Chủ tịch huyện) hay là những không gian mới mẻ
của cuộc sống mới ở nông trƣờng Điện Biên, nông thôn miền Bắc.
Ở đề tài chiến tranh và cách mạng, Nguyễn Khải khắc họa vẻ đẹp nổi
bật của con ngƣời Việt Nam: lòng yêu nƣớc, tinh thần kỉ luật, niềm khát khao
khẳng định phẩm giá trƣớc kẻ thù, tỉnh táo trong nhận thức, thông minh tháo
vát trong hành động và đức tính kiên nhẫn, khiêm nhƣờng. Ông ít diễn tả khía
cạnh mất mát hay mặt trái của chiến tranh mà khám phá sức mạnh tinh thần
tiềm ẩn trong mỗi con ngƣời, đặt họ vào các tình huống thử thách để bắt họ
bộc lộ tài trí và nhân cách. Các tác phẩm ít nhiều tạo đƣợc không khí nhờ các

xã hội, những quan niệm, tình cảm đẹp đẽ trƣớc đây của con ngƣời. Mọi thứ
dần thay đổi cùng với sự hiểu biết và kinh nghiệm vốn sống của mình,
Nguyễn Khải tái hiện trong các truyện ngắn của mình. Ông có khả năng chớp

15


lấy sự thật tiềm ẩn trong cái bình thƣờng, cuộc sống trong con mắt của ông
không đơn lặng, êm đẹp mà đầy thách thức.
Sáng tác của Nguyễn Khải thời kì này tập trung vào hai đề tài chủ yếu:
một là cuộc sống hôm nay của những ngƣời chung quanh, bạn bè đồng nghiệp
cùng tuổi tác. Hai là số phận của những ngƣời thân trong họ hàng. Đây là thời
kì cảm hứng triết lí tạo nên phong cách rất riêng cho văn Nguyễn Khải.
Không gian nghệ thuật đặc trƣng trong truyện ngắn Nguyễn Khải là không
gian đời thƣờng trong phạm vi xã hội và gia đình. Ông viết rằng sự từng trải
của tuổi tác hắn đã nhận ra vẻ đẹp của đời thƣờng và sự bất biến của những
tính cách mới đƣợc xác lập trong nửa thế kỉ qua sẽ thành máu huyết của dân
tộc thành tính cách Việt Nam. Nói thì dễ nhƣng hiểu đƣợc vẻ đẹp của đời
thƣờng với riêng “hắn” cũng phải mất nửa thế kỉ. Nhận ra vẻ đẹp một cách
nên thơ trong ánh sáng của bình minh thì Nguyễn Khải đã nhận ra từ Mùa lạc,
Hãy đi xa hơn nữa, nhƣng nhận ra vẻ đẹp của thất bại, của vất vả trầm luân
trong cái quầng sáng vàng úa của hoàng hôn thì phải từ năm ông đã 50 tuổi,
khi ông viết Hai ông già Đồng Tháp Mười.
Có thể nói, cùng kinh nghiệm sống, thẩm mĩ của nhà văn cũng có nhiều
thay đổi. Từ chỗ bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp của không gian sử thi, không gian lịch
sử ông dần chuyển sang say mê vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống đời thƣờng.
Các tác phẩm tiêu biểu : Một người Hà Nội (tập truyện ngắn, 1990),
Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993), Sống ở đời (Truyện ngắn, 2002),
Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004)...
Với số lƣợng tác phẩm của mình và những thành tựu nghệ thuật đã đạt

không gian chiếm ƣu thế, nói nhƣ nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa nó làm
thành một thứ không khí nuôi dƣỡng và thúc đẩy phát triển vì thế mà các nhà
văn thƣờng vận dụng bối cảnh xã hội hơn là miêu tả thiên nhiên song khi
miêu tả thiên nhiên lại thể hiện sâu sắc các trạng thái tâm lí phức tạp của mỗi
nhân vật. Thiên nhiên không phải là những cánh đồng thơm mùi lúa mới,
những bãi biển nhuộm ánh trăng mà là thiên nhiên nhƣ bản thân đời sống
nhân vật, thể hiện phƣơng thức nhận thức và cảm thụ cuộc sống một cách độc
đáo và riêng biệt.

18


Nguyễn Khải là nhà văn ít miêu tả cảnh thiên nhiên, ngòi bút của ông
dƣờng nhƣ muốn hƣớng vào không gian bên trong, không gian ý thức của con
ngƣời. Quang cảnh thiên nhiên nhiều khi chỉ là cái cớ để gợi cho nhân vật suy
tƣởng giúp nhà văn miêu tả ý thức nhân vật. Dù vậy, không gian thiên nhiên
trong truyện ngắn Nguyễn Khải vẫn mang những vẻ đẹp bí ẩn, gợi trong lòng
ngƣời đọc bao suy ngẫm.
Không gian tự nhiên cụ thể trong tác phẩm Nguyễn Khải thƣờng là
những không gian hẹp. Chúng gần nhƣ chỉ đóng vai trò của một màn cảnh,
một sân khấu mà ở đó nó hiện về những không gian gián tiếp đƣợc truyền tải
bằng các luồng ánh sáng tri thức. Nhà văn đã gắn điểm nhìn nghệ thuật của
mình vào một không gian thực tại với vấn đề của tự nhiên nhƣng lại hƣớng
trƣờng nhìn của mình vào không gian tinh thần.
Không gian thiên nhiên trong Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức là
một không gian rộng lớn nói về cảnh Từ Thức gặp tiên ở trên núi Phù Lai,
phải chèo thuyền mới tới, rồi cửa biển thành bãi bùn, thành đất rắn, thành
rừng phải xuyên rừng mới đến đƣợc chân núi, nay thì rừng cũng chẳng còn,
núi đứng trần trụi giữa đám cây èo ọt, khẳng khiu mấy gian nhà tranh dựng
nép bên chân núi làm nơi đón tiếp khách tới thăm động. Nơi đây có hai ông

suy tƣ của cô Hiền – nhân vật chính của truyện: “Thiên địa tuần hoàn cái vào
ra của tạo vật không thể lường trước được”[9, 327].
Có thể thấy thiên nhiên trong tác phẩm của Nguyễn Khải thể hiện rõ
mối tƣơng quan giữa con ngƣời và xã hội, con ngƣời và tự nhiên. Không gian
thiên nhiên ấy là biểu hiện tâm trạng con ngƣời, tham gia vào cuộc sống của
mỗi ngƣời, vẫn là khoảng không gian xác thực nhƣng sự cảm nhận của mỗi
con ngƣời về nó lại không giống nhau, và tiếp cận không gian ấy chính là nhà
văn đang tiếp cận tầng sâu trong đời sống tình cảm con ngƣời.
Đến với Nếp nhà, khung cảnh thiên nhiên hiện ra là mùa xuân ở Hà Nội
đƣợc cảm nhận bao giờ cũng đẹp với một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt.

20


Trích đoạn Không gian thành thị với nếp sống, nếp nghĩ của ngƣời Hà Nội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status