Thủ pháp nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Mỗi dân tộc tồn tại trên thế giới đều có những đặc sắc riêng về văn hoá và
yếu tố tạo nên sắc diện văn hoá chính là các biểu tượng.
Văn học là một bộ phận của văn hoá, chịu sự chi phối và ảnh hưởng trực
tiếp từ môi trường văn hoá thời đại và truyền thống văn hoá của dân tộc, đồng
thời cũng là nơi thể hiện văn hoá của mỗi cộng đồng, mỗi thời đại. Nghiên cứu
biểu tượng trong văn học là cách thức tìm về cội nguồn văn hoá, tìm kiếm những
giá trị chân – thiện – mĩ của dân tộc.
Biểu tượng là một thủ pháp nghệ thuật nhằm xây dựng thế giới hình tượng
của tác phẩm văn học. Với tài năng và bản lĩnh sáng tạo, các nhà văn đã xây dựng
những biểu tượng, tạo những tín hiệu thẩm mĩ đa nghĩa, mới mẻ cho tác phẩm
văn học. Việc nghiên cứu các biểu tượng góp phần triển khai hướng nghiên cứu
thi pháp hình tượng, đem lại những khám phá mới mẻ và lý giải quá trình sáng
tạo nghệ thuật.
1.2. Trong văn học Việt Nam, đã có nhiều tác giả thành công trong việc sử dụng
biểu tượng biểu đạt tư tưởng nghệ thuật, trong đó có Nguyễn Minh Châu – ngòi
bút tiêu biểu của thời kỳ văn học đổi mới – người mở đường đầy tài hoa và tinh
anh (Nguyên Ngọc) của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Với một sự nghiệp văn học
có bề dày đáng kể và kết tinh về chất lượng nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã
khẳng định sự thành công trên cả hai chặng đường sáng tác trước năm 1975 và
sau năm 1975. Bằng tâm huyết với nghề, nhà văn đã luôn trăn trở, khát khao về
việc đổi mới tư duy nghệ thuật và không ngừng tìm kiếm những hướng đi mới,
những phương thức thể hiện mới mẻ. Với sự nghiệp văn học khá đầy đặn,
Nguyễn Minh Châu đã tạo ra một vị trí không thể thay thế trong nền văn học
nước nhà.
Để tìm hiểu thế giới nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, người nghiên cứu
có thể tiếp cận từ rất nhiều góc độ, theo nhiều cách khác nhau. Chọn hướng đi rất
ngẫu nhiên từ các thủ pháp nghệ thuật mà Nguyễn Minh Châu đã sử dụng nhằm
biểu đạt tư tưởng cũng như quan niệm về con người và hiện thực, chúng tôi thực
sự bị hấp dẫn bởi hệ thống biểu tượng khá đặc trưng trong truyện ngắn của ông.

- Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu của Hà Minh Đức (Tác
phẩm văn học – phân tích và bình giảng, NXB Văn học, 2001).
- Từ Dấu chân người lính nghĩ đến những cuốn tiểu thuyết lớn xứng đáng
với dân tộc, với thời đại của Trần Trọng Đăng Đàn (tạp chí Văn học, số 3 –
1974).
Tìm hiểu giá trị của các tác phẩm trên góc độ tiếp cận, phản ánh hiện thực,
ý nghĩa của hình tượng nhân vật, nghệ thuật thể hiện Các nhà nghiên cứu cho
rằng Nguyễn Minh Châu đã kịp thời viết những tác phẩm phục vụ trực tiếp cho
cuộc chiến đấu. Dù chưa có một khoảng thời gian và không gian để bao quát,
2
nghĩ suy và tổ chức lại cái hiện thực đang xiết chảy mãnh liệt, tươi rói và rực
sáng, nhưng nhà văn bị cuốn vào trong lòng hiện thực ấy, gắn bó với nó và viết về
nó bằng tâm huyết của mình. Đóng góp của Nguyễn Minh Châu được khẳng định
trong việc phản ánh lý giải một vấn đề thời sự nóng hổi: Hai thế hệ trong cuộc
chiến đấu với sự trưởng thành nhanh chóng đến kỳ lạ của thế hệ trẻ như một tất
yếu, một quy luật, một thực tiễn; thể hiện rất rõ một đặc điểm của hiện thực chống
Mỹ: Thế hệ trẻ đang kế tục xứng đáng cha anh mình.
Trần Trọng Đăng Đàn khẳng định: Ở tác phẩm Dấu chân người lính,
Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tốt và tương đối toàn diện chủ nghĩa anh hùng
cách mạng Việt Nam trong chiến đấu mà cụ thể là đã “đẩy những hình tượng
người anh hùng cách mạng lên gắn với những điển hình mà công chúng đang chờ
đợi”, “tạo được những điển hình văn học đúng với tầm vóc của thời đại”[12;66].
Giới phê bình, nghiên cứu cũng chỉ ra những điểm hạn chế cần rút kinh
nghiệm ở Nguyễn Minh Châu. Đó là cách tiếp cận hiện thực còn sơ lược, “quá
nặng về trực quan, chưa vượt qua những khoảng cách về thời gian và không
gian”, “chưa kết hợp chặt chẽ việc phục hồi vốn sống trực tiếp với việc tái hiện
cuộc sống thông qua tưởng tượng”. Người đọc chưa thấy trong tác phẩm Nguyễn
Minh Châu “cái hùng tráng dữ dội của cuộc chống Mỹ cứu nước vĩ đại”[12;37].
Như vậy, có thể nhận thấy thời kỳ này giới nghiên cứu chưa có ý kiến nào
đề cập đến vấn đề “vì sao phải viết như thế” mà chỉ xoay quanh giải đáp những

hẳn lên”, “tỏ rõ thêm một khía cạnh trong tài năng của mình”, một sự “thật sự hết
mình trong lao động nghệ thuật” [12;252]…Trước những ý kiến ấy, nhà văn đã
mạnh dạn phát biểu những suy nghĩ về hiện thực đất nước, con người sau chiến
tranh và không ngần ngại nói rõ quyết định xông vào mặt trận đạo đức với mong
muốn “dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cái xấu
bên trong mỗi người, một cuộc giao tranh không ồn ào nhưng xẩy ra từ ngày từng
giờ và khắp mọi lĩnh vực đời sống” [12;244].
Khảo sát hành trình tư tưởng của Nguyễn Minh Châu cũng là một vấn đề
rất được giới phê bình chú ý. Các bài viết chủ yếu dựa trên lịch sử sáng tác (tác
phẩm và các bài tiểu luận phê bình) trên di cảo của ông, đã tập trung phân tích để
một mặt vừa thấy được sự nhất quán trong quan niệm nghệ thuật của ông, một
mặt khẳng định sự vươn lên, vượt lên để trở thành “một trong những đại diện sớm
sủa, kiên định và có uy tín của trào lưu văn học đổi mới”[11;6]. Cuộc hành trình
đó của Nguyễn Minh Châu là cuộc hành trình của một con người “mải miết với
cái đẹp”[11;6], để trở thành “người kế tục xuất sắc truyền thống văn xuôi tâm lý
được hình thành trong sáng tác của Nam Cao”, “thành công của ông trong những
năm gần đây là sự gặp gỡ kỳ diệu của thời đại và cảm quan nghệ thuật nhạy bén
của nghệ sỹ với những tìm kiếm chân lý kiên trì, những suy ngẫm, trăn trở đầy
trách nhiệm của một nhà văn tài năng và tâm huyết”[11;6].
4
Trên cơ sở tác phẩm cùng với những tư liệu mang tính kỷ niệm, hồi ức
ngày ông còn sống, Vương Trí Nhàn, Ngô Thảo, Nguyễn Trung Thu…đã góp
một cái nhìn toàn diện về Nguyễn Minh Châu.
Nghiên cứu về sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật của ông, Lã Nguyên có
bài viết “Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ
thuật”[12;340]. Bài viết quan tâm đến một Nguyễn Minh Châu luôn luôn trăn trở
trước những đổi thay của cuộc đời và những biến động của nền văn học: “Nếu
không có công cuộc đổi mới trong xã hội, trong văn nghệ ta hôm nay thì sự hiểu
biết và đánh giá của chúng ta về Nguyễn Minh Châu chắc chắn không thể nào đầy
đủ và chính xác. Bởi không có công cuộc đổi mới đó, Nguyễn Minh Châu không

mảnh trăng, đồng thời ngợi ca cũng như chứng minh rõ nét thêm cho hình ảnh
biểu tượng trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu.
Ở một bài viết khác: Bức tranh – cuộc tự vấn lương tâm để nhận ra khuôn
mặt bên trong con người, Nguyễn Văn Long lại hướng vào khai thác đời sống
trên bình diện đạo đức thế sự, khẳng định việc sử dụng những hình tượng biểu
trưng trong tác phẩm như một hướng đi tích cực nhằm bóc tách được chiều sâu
nội tâm nhân vật, sự tự nhận thức, nhìn ra cái “khuôn mặt bên trong” của mình
[12;211]. Đặc biệt là với bài viết Chiếc thuyền ngoài xa – một biểu tượng nghệ
thuật giàu sức ám ảnh của Nguyễn Minh Châu[22;221], tác giả khẳng định ý
nghĩa của biểu tượng chiếc thuyền ngoài xa, hình tượng người phụ nữ, hình tượng
người chồng… như thể hiện rõ nét những tàn dư mà cuộc chiến tranh để lại, đó là
bức tranh một xã hội với đầy những nghịch lý không có hướng giải thoát mà chỉ
biết đổ thừa cho số phận.

Với bài nghiên cứu: Bến quê – sự chiêm nghiệm về đời người hay là một
bản di trúc nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, tác giả Nguyễn Văn Long đi vào
tìm hiểu truyện ngắn Bến quê và những hình ảnh biểu tượng tiêu biểu được
Nguyễn Minh Châu sử dụng trong tác phẩm. Trong bài viết, ông khẳng định Bến
quê như “một sự chiêm nghiệm sâu sắc, minh triết về cuộc đời con
người”[12;205].
Tác giả Dương Thị Thanh Hiên với bài viết Truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu (Tạp chí Nhà văn, số 7/2001) đã cho rằng Nguyễn Minh Châu sử dụng biểu
tượng để “tạo thành một mô típ số phận - chủ yếu là những số phận bi kịch với
nhiều dạng khác nhau: Bi kịch của đói nghèo, lạc hậu; bi kịch của chiến tranh, li
tán; bi kịch của những mất mát đau khổ”[12;314].
Nguyễn Tri Nguyên trong bài Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác
của Nguyễn Minh Châu sau 1975 nhấn mạnh: “Trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu đặc biệt là trong truyện ngắn thường xuất hiện những biểu tượng ẩn dụ đa
nghĩa không tham gia vào cốt truyện và hành động nhân vật. Nhưng nó giãi bày
được nhiều suy nghĩ của tác giả, nâng tác phẩm lên ý nghĩa triết học và tượng

- Khảo sát hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
trong cả hai giai đoạn trước và sau năm 1975.
- Thông qua hệ thống biểu tượng, tìm hiểu cách cắt nghĩa, lí giải về con
người, hiện thực, quan niệm sáng tác của Nguyễn Minh Châu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu :
7
Đề tài nghiên cứu hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong
cả hai giai đoạn trước và sau 1975. Trong đó, chúng tôi tập trung vào những
truyện ngắn mà biểu tượng được sử dụng với tần suất cao:
- Nguồn suối (1970)
- Nhành Mai (1970)
- Mảnh trăng cuối rừng (1975)
- Bức tranh (1976)
- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)
- Bến quê (1985)
- Bên đường chiến tranh (1987)
- Chiếc thuyền ngoài xa (1987)
- Cỏ lau (1989)
- Phiên chợ Giát (1989)
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp kí hiệu học
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiếp cận trực tiếp với biểu tượng
(thông qua cái biểu đạt – kí hiệu) trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, giải mã
kí hiệu, từ đó tìm ra ý nghĩa cái được biểu đạt trong sáng tác của ông.
5.2. Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Chúng tôi sử dụng công cụ của thi pháp học nhằm chỉ ra sự vận động trong

biểu tượng trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu.
Chương 2: Giải mã biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
Chương 3: Sự vận động trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh
Châu nhìn từ hệ thống biểu tượng.
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
BIỂU TƯỢNG – CƠ SỞ HÌNH THÀNH, QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN, GIẢI
MÃ BIỂU TƯỢNG TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1. Về thuật ngữ “biểu tượng”
Biểu tượng là một thuật ngữ đã và đang tiếp tục được nghiên cứu trên toàn
thế giới, trong nhiều ngành khoa học khác nhau.
Bắt nguồn từ Hy Lạp, thuật ngữ biểu tượng (Symbolon) có nghĩa là kí hiệu
(Sign), dấu hiệu, lời nói, tín hiệu, triệu trứng, hợp đồng v.v
Trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu”, để
người ta dễ nhận biết một điều gì đó. Tượng có nghĩa là “hình tượng”. Biểu
tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, kí hiệu
tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa mang tính trừu tượng.
Theo từ điển Tiếng Việt (GS. Hoàng Phê chủ biên): “Biểu tượng là hình
ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh
của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã
chấm dứt”[35;19].
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể
xem như một tập hợp các hệ thống Biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn
ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn
giáo…”[14;XXIII].
Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng theo nghĩa rộng biểu tượng thể hiện
“đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” và theo
nghĩa hẹp, biểu tượng là “một phương thức chuyển mã của lời nói” đặt bên cạnh
ẩn dụ, hoán dụ hoặc là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng

nền văn hóa khác nhau. Biểu tượng trong văn hóa được xem là một yếu tố động,
luôn biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội. TS. Nguyễn Văn Hậu cho
rằng: “Biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượng trưng của văn hóa.
Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực “tượng trưng hóa” của con người, theo
phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhận thức và
khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó. Biểu tượng được xem là “tế bào” của
văn hóa và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại. Nó quy định
mọi hành vi ứng xử và giao tiếp của con người đồng thời liên kết họ lại thành một
cộng đồng riêng biệt”[9;9]. Ông khẳng định những quan niệm hay định nghĩa nêu
trên đều gắn biểu tượng với sự thực hiện “khiếu năng tinh thần” đặc biệt chỉ có ở
loài người - năng lực tượng trưng hóa. Biểu tượng được hiểu là một hiện tượng
vật thể, nhờ thể hiện trong đó một nội dung cụ thể - cảm tính mà hiện tượng này
thể hiện, trình ra những ý nghĩa, những giá trị trừu xuất nào đó. Và do đó, ông đã
đưa ra quan điểm riêng của mình về biểu tượng như trên. Quan niệm của ông tuy
nhiên chỉ dừng lại ở góc độ gắn với văn hóa, đây là một quan điểm đúng đắn
11
nhưng chưa đầy đủ nếu như ta tiến hành nghiên cứu và áp dụng vào việc nghiên
cứu văn học.
Ở phương diện ngôn ngữ, “Biểu tượng là một ký hiệu tùy thuộc vào đối
tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên tưởng
chung”[Dẫn theo 41;167]. Biểu tượng vì vậy là một sự vật có hình ảnh mang tính
chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài theo một quan hệ ước lệ.
Biểu tượng là sự thống nhất giữa cái biểu đạt (hình thức tồn tại) và cái được biểu
đạt (giá trị nội dung). Cái biểu đạt khi tác động lên tư tưởng, cảm xúc, nhận thức
của con người sẽ gợi lên một số nội dung ý nghĩa nào đó (gợi cái được biểu đạt).
Trong văn học, biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa
nghĩa. Mỗi nhà văn khi sáng tạo đồng thời lại là một nhà tư tưởng. Nhà văn thực
hiện việc mã hóa ngôn từ nhằm tạo ra một thế giới hình tượng in đậm cảm quan
cá nhân, nói rộng hơn là phong cách của chủ thể sáng tạo. Những hình tượng
nghệ thuật có sức sống sẽ vượt lên trên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các biểu

thức nhất định. Cần mở rộng nó theo chiều rộng đồng đại và khám phá nó ở chiều
dài lịch sử, gắn kết với cái nhìn văn hóa, không thể bỏ qua đặc trưng phong cách
tác giả, đồng thời cần lưu ý ngữ cảnh nảy sinh, bao chứa nó.
1.2. Vài nét về biểu tượng trong văn học Việt Nam
Trong văn học Việt Nam, biểu tượng được sử dụng như một thủ pháp nghệ
thuật phổ biến và hết sức độc đáo. Trong văn học dân gian, biểu tượng được thể
hiện trong sự biến hóa dạng lưỡng thể nửa người – nửa vật, mang dấu vết tôtem
(vật tổ) thời hoang dã, nguyên sơ của thần thoại, hoặc dạng người hóa vật, vật hóa
người (hòn vọng phu, trầu cau,…) mang dấu tích thần thoại trong cổ tích. Nghệ sĩ
dân gian thường lấy những hình ảnh gần gũi với đời sống sinh hoạt hàng ngày
như con cò, con bống, tấm lụa đào, nụ tầm xuân… để diễn tả thế giới tâm hồn
phong phú của người lao động, diễn tả tư tưởng, tình cảm của con người. Trong
ca dao cổ, nói đến “con cò” là người ta liên tưởng đến hình ảnh người nông dân
hiền hậu chất phác, đặc biệt là hình ảnh biểu tượng cho thân phận người phụ nữ
lao động xưa - đó là hình ảnh người đàn bà lam lũ vất vả. Ví dụ:
“Cái cò lăn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
Trong văn học trung đại, các nhà văn, nhà thơ đã sáng tạo và tích lũy được
một hệ thống biểu tượng hết sức phong phú, đa dạng.
Ví dụ:
- Dương liễu: Biểu tượng cho sự chia ly
- Phù dung: Biểu tượng của sự thanh bạch
- Con Rồng: Hiện thân của sự uy nghi
- Con Rùa: Biểu tượng của tuổi thọ, sự trường tồn
- Bồ câu: Biểu tượng của hòa bình.v.v…
Khác với văn học dân gian, văn học trung đại xây dựng những biểu tượng
trên cơ sở chú ý đến giá trị, tính cao cả, phẩm chất đặc biệt của sự vật hiện tượng.
13
Nổi bật là biểu tượng tùng, cúc, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi: Vừa có ý nghĩa
tượng trưng cho người quân tử, vừa thể hiện vẻ đẹp cao thượng và phẩm chất nhà

tuyến, các sáng tác thơ ca giai đoạn này thường sử dụng các biểu tượng mang tính
lãng mạn cách mạng. Ta bắt gặp hình ảnh “đầu súng trăng treo” trong bài Đồng
chí của nhà thơ Chính Hữu – một biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa về tình đồng
14
chí, về niềm tin và khát vọng hòa bình. Hình ảnh ánh sao trên mũ của người chiến
sĩ cũng là biểu tượng tiêu biểu cho lý tưởng cách mạng, cho tinh thần quyết chiến
quyết thắng, còn là niềm tin, niềm khát vọng vào ngày mai chiến thắng:
… Anh đi bộ đội, sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm
(Núi Đôi – Vũ Cao)
Nhà thơ nữ Xuân Quỳnh để lại ấn tượng sâu sắc với biểu tượng sóng trong
bài thơ cùng tên. Biểu tượng sóng giàu giá trị cảm xúc, tinh tế và phong phú đã
diễn tả thành công mọi cung bậc của trái tim người phụ nữ nhân hậu và giàu khát
khao yêu thương. Sóng trở thành biểu tượng tiêu biểu sâu sắc bao trùm toàn bộ
bài thơ, sóng bộc lộ bản thể ngay từ đầu “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ…”,
sóng còn vỗ dọc bài thơ và cuối cùng bài thơ khép lại trong các âm vang của biển
“Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”.
Từ sau 1975, hướng tới cuộc sống hòa bình, văn học sử dụng biểu tượng
linh hoạt và phong phú hơn. Theo yêu cầu mới của thời đại, các hình ảnh biểu
trưng thể hiện sự kết tinh ý chí, sức mạnh của cả một cộng đồng dần nhường chỗ
cho các biểu tượng gần gũi gắn với cuộc sống thế sự và đời sống cá nhân. Biểu
tượng trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu vừa là một bước tiếp nối và phát
triển hệ thống hình ảnh biểu tượng trong truyền thống lịch sử văn học Việt Nam,
vừa khẳng định được yếu tố cá nhân, một khía cạnh của đời sống, những “giếng
nước” chờ đợi, “bến quê”, “chuyến tàu tốc hành”, “chiếc thuyền ngoài xa”, “cỏ
lau”, “chiếc xe cút kít”… chuyển tải khá nhiều thông điệp về con người và cuộc
đời. Tác giả Nguyễn Huy Thiệp cũng sáng tạo ra những biểu tượng vô cùng độc
đáo và hấp dẫn: “người nghệ sĩ” – biểu tượng cho cái đẹp nghệ thuật bị cô đơn

thông thường đến hành động
Sáng tác văn chương nghệ thuật là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ
nhất bản sắc văn hóa của một dân tộc. Nhà văn dù vô tình hay hữu ý vẫn thể hiện
những dấu ấn của văn hóa dân tộc. Và điều đó minh chứng rằng bản sắc văn hóa
đã ảnh hưởng một cách âm thầm nhưng khá mạnh mẽ, bền vững đối với các chủ
thể sáng tạo này. Nguyễn Minh Châu cũng không là một ngoại lệ.
1.3.1.2. Âm hưởng thời đại
Sinh ra và lớn lên đúng vào những thời khắc lớn lao của lịch sử, Nguyễn
Minh Châu chứng kiến những biến chuyển của đất nước từ thời chiến sang thời
bình, lại là một nhà văn – chiến sĩ thấu hiểu sâu sắc về thời cuộc. Vì vậy trên mặt
trận cầm bút của mình, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn tiêu
biểu chịu ảnh hưởng và sự chi phối mạnh mẽ của thời đại, điều đó thể hiện rõ nét
qua mỗi trang viết trong cả hai giai đoạn sáng tác của ông.
Giai đoạn đất nước ngập chìm trong bom đạn, thời khắc này muôn người
như một đều hướng về tiền tuyến, giành lại non sông là mục tiêu sống còn của
16
dân tộc ta lúc bấy giờ. Toàn dân ta lúc này sống trong bầu không khí hào hùng, đi
theo tiếng gọi chung, lý tưởng chung của cách mạng, tạo ra hào khí Đông A một
thời. Các nhà văn cũng không đứng ngoài cuộc chiến, những trang viết, những
vần thơ ở thời điểm này được coi như một thứ vũ khí sắc bén nhằm cổ vũ, động
viên, kêu gọi tinh thần chiến đấu của toàn dân tộc.
Đến thời bình, dân tộc ta bước vào thời kỳ mới, hào khí Đông A lúc này
lắng lại nhường chỗ cho những nhu cầu đích thực của cá nhân, con người lúc này
mới có thời gian và cơ hội để sống cho mình, nhìn lại mình và thể hiện mình. Các
sáng tác văn học cũng có những bước đổi thay lớn khi nhà văn có cơ hội đi sâu
vào số phận cá nhân, viết lên những tâm tư, tình cảm của riêng của mỗi con
người… Không nằm ngoài thời cuộc, Nguyễn Minh Châu là một trong những cây
bút đầu tiên hăng hái hòa nhập với công cuộc đổi mới và có những biến đổi mạnh
mẽ cả trong suy nghĩ lẫn cách viết.
1.3.1.3. Cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn

Trong những sáng tác cuối đời của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Khách
ở quê ra nổi lên như một cột mốc quan trọng. Nhân vật Khúng là một điển hình
cho người nông dân thời đó từ diện mạo bên ngoài đến tính cách. Lão Khúng giống
như bao người nông dân khác gánh cả cuộc đời kháng chiến trên vai, họ đã làm
được cái việc thần kỳ “biến sỏi đá thành sắt gạo” để nuôi cả dân tộc trong chiến
tranh… Nhưng chính họ lại ngăn trở xã hội tiến lên con đường hiện đại hóa. Ở đây
tác giả muốn nói tới tư tưởng nông dân, cái tâm lí, lối sống nông dân trong thời đại
mới. Cả cái gia đình đông đúc đã sinh ra và sống được là nhờ lão Khúng, nhưng
không ai muốn ăn đời ở kiếp với lão mà đều hướng cả về ánh sáng của thành phố,
của văn minh công nghiệp. Sáng tạo ra nhân vật Khúng, Nguyễn Minh Châu đã
giác ngộ ra chính tư tưởng – nghệ thuật vốn tiềm ẩn sâu xa của mình. Trong những
ngày lâm bệnh hiểm nghèo, Nguyễn Minh Châu vẫn cố viết thêm về lão Khúng của
mình. Phiên chợ Giát (in trong tập Cỏ lau – 1989) là sự phát sáng cuối cùng tư
tưởng và tài năng Nguyễn Minh Châu. Phiên chợ Giát được coi là thông điệp nghệ
thuật được thể hiện bằng một bút pháp tài hoa Nguyễn Minh Châu.
1.3.2. Quan điểm tiếp cận, giải mã biểu tượng trong sáng tác của Nguyễn
Minh Châu
Chúng tôi cho rằng, với mỗi một tác giả, quan điểm tiếp cận, giải mã biểu
tượng không hề giống nhau và vô cùng quan trọng. Với sáng tác của Nguyễn
Minh Châu, chúng tôi đặt ra hai tiêu chí sau:
Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm cơ bản trong phong cách nhà văn.
Là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại,
Với hai mươi chín năm cầm bút, sống và viết trong thời kì chiến tranh giải phóng
đất nước, thời kì đổi mới, tác phẩm của ông luôn được độc giả hoan nghênh, đón
nhận nhiệt thành. Thời kì sáng tác nào, Nguyễn Minh Châu cũng ghi dấu ấn khó
phai mờ trong lòng người đọc với những: Cửa sông, Những vùng trời khác nhau,
Dấu chân người lính, Bức tranh, Mảnh trăng cuối rừng, Phiên chợ Giát, Khách ở
18
quê ra, Chiếc thuyền ngoài xa… Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu có sức hấp
dẫn riêng biệt, nhà văn khẳng định bản sắc cá nhân nghệ sĩ bằng nét phong cách

1.3.3. Vài nét về biểu tượng và cách phân nhóm biểu tượng trong sáng tác của
Nguyễn Minh Châu
1.3.3.1. Vài nét về biểu tượng trong sáng tác Nguyễn Minh Châu
19
Tìm hiểu về các sáng tác của Nguyễn Minh Châu chúng tôi nhận thấy: biểu
tượng xuất hiện trong sáng tác của ông với tần số cao, trong thể loại tiểu thuyết,
độc giả bắt gặp hình ảnh người nông dân trong Cửa sông, hình ảnh bếp lửa, ngọn
lửa trong Lửa từ những ngôi nhà và Những người đi từ trong rừng ra, Mảnh đất
tình yêu…Đặc biệt, biểu tượng tham gia vào yếu tố cấu trúc truyện ngắn của ông
với tần suất khá lớn: “mảnh trăng” trong Mảnh trăng cuối rừng,“nguồn suối” và “
nhành mai” trong hai truyện ngắn cùng tên, “bến quê” (trong truyện ngắn cùng
tên), “giếng khơi” mát lành trong Bên đường chiến tranh, “chiếc thuyền ngoài xa”
(Chiếc thuyền ngoài xa), “khuôn mặt người” trong Bức tranh, “cỏ lau” và “đá
vọng phu” (Cỏ lau), “người – bò” (Phiên chợ Giát), “chuyến tàu tốc hành”
(Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành)…
Sự lặp đi lặp lại các biểu tượng thường xuất hiện như những “mã” nghệ
thuật vừa thể hiện nội dung, ý nghĩa sâu xa của tác phẩm, vừa thể hiện phong
cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu, khiến cho những sáng tác của ông được
xây dựng với nhiều điểm sáng, điểm nhấn phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn,
mang tầm triết lý cao hơn và đặc biệt là tạo nên giọng điệu riêng cho tác phẩm.
Có những hình ảnh lấy từ mô típ biểu tượng truyền thống trở đi trở lại
trong các tác phẩm của ông với những dấu ấn sáng tạo mới. Ví như hình ảnh trăng
trong tác phẩm của ông được coi như là một nhân vật có một thứ tiếng nói riêng:
“Vầng trăng khuyết mỏng manh sáng trong như một mảnh bạc” là vầng trăng của
kẻ đang yêu (Mảnh trăng cuối rừng). “Mảnh trăng cuối tháng như một chiếc đĩa
bằng vàng bị vỡ” trong lần Thai và Lực đi dỡ sắn ở vùng núi Đợi phải chăng là
một dự báo về hạnh phúc, để rồi hơn hai mươi năm sau họ gặp lại nhau trong một
hoàn cảnh oái oăm thì “Trăng trở lên như một chiếc thuyền vàng đi tròng trành
giữa nền trời”(Cỏ lau).
Đặc biệt chúng tôi nhận thấy hình ảnh ngọn lửa, bếp lửa thường trở đi trở

những người lính đã chịu đựng rất nhiều gian khổ giờ đây đang thu dọn chiến
trường (Cơn giông).
1.3.3.2. Cách phân nhóm biểu tượng trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Có nhiều cách thức khác nhau để phân nhóm biểu tượng. Dựa trên các tiêu
chí khác nhau, có thể phân thành các nhóm biểu tượng trong sáng tác của Nguyễn
Minh Châu. Dựa trên tiêu chí nguồn gốc của cái biểu đạt, có thể chia biểu tượng
trong sáng tác của ông thành ba nhóm: nhóm biểu tượng từ thiên nhiên vũ trụ
(mảnh trăng, nguồn suối, nhành mai); nhóm biểu tượng siêu thực (bức tranh,
chuyến tàu tốc hành, bức tượng nghìn tay nghìn mắt, giấc mơ người – bò…);
nhóm biểu tượng từ cuộc sống sinh hoạt đời thường (lửa, bò, xe cút kít…). Dựa
trên tiêu chí cái được biểu đạt, có thể phân chia hệ thống biểu tượng trong sáng
tác nhà văn này thành hai nhóm: nhóm biểu tượng sử thi (mảnh trăng, nhành mai,
nguồn suối, giếng ), nhóm biểu tượng phi sử thi (bức tranh, chuyến tàu, cỏ lau,
đá vọng phu, chiếc thuyền, bò, xe cút kít ). Tiếp cận hệ thống biểu tượng trong
21
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, chúng tôi dựa trên tiêu chí thứ hai và tiến
hành giải mã hệ thống biểu tượng này theo hai nhóm: Nhóm biểu tượng sử thi và
nhóm biểu tượng phi sử thi.
*
* *
Tóm lại, việc xây dựng hình ảnh mang tính biểu tượng là một thủ pháp
nghệ thuật đặc sắc, ổn định trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.
Được ông sử dụng hầu hết trong các sáng tác từ trước những năm 1975, tuy nhiên
đến giai đoạn sau năm 1975 thủ pháp nghệ thuật này được ông sử dụng nhiều và
rộng rãi hơn, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn. Có thể khẳng định rằng: hệ thống
hình ảnh biểu tượng là một trong những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Minh Châu. Nó vừa là một thủ pháp nghệ thuật góp phần tạo dựng
nên một thế giới hình tượng sinh động giàu tính biểu cảm, vừa là những mốc để
đánh dấu sự phát triển của tư duy nghệ thuật trong tiến trình đổi mới nền văn học
dân tộc.

suối
19 4 21
- Một hình ảnh của tự nhiên,
gắn liền với cuộc sống con
người.
- Biểu trưng cho sự trường tồn
vĩnh cửu của tình yêu.
- Tinh thần kháng chiến bền bỉ
của người dân Pa- Khen anh
hùng.
- Niềm tin mãnh liệt vào ngày
mai tươi sáng.
23
2 Nhành mai nhành
mai
14 9 64
- Một biểu tượng cho mùa xuân.
- Biểu trưng cho niềm tin mãnh
liệt vào cuộc sống.
- Chứng minh cho mối tình
trong sáng vượt thời gian giữa
Lương và Thận.
- Biểu trưng cho tinh thần chiến
đấu anh dũng, cao cả của người
dân làng Đằng.
3 Mảnh trăng
cuối rừng
mảnh
trăng
18 9 50

thường hiện diện trong gia đình người Việt đặc biệt ở miền nam.
Trong thơ văn, cây mai được đề cao do hình ảnh của nó tuy mảnh mai, gầy
guộc, mong manh, hoa có hương thơm dịu dàng nhưng luôn chịu được qua mùa
đông gió rét để nở hoa khi xuân về. Mai kết bạn cùng tùng, trúc, trở thành biểu
tượng đẹp và tiêu biểu trong cuộc sống. Khi nhắc đến hình ảnh mai là người ta
nghĩ ngay đến vẻ đẹp, tấm lòng trinh bạch, sức chịu đựng, kiên nhẫn của con
người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Mai xuất hiện và trở thành đề tài
hết quen thuộc trong văn học Việt Nam từ xa xưa. Đặc biệt ở giai đoạn của nền
văn học trung đại. Trong thơ văn thời Lý - Trần, chúng ta thấy sự xuất hiện khá
dày đặc hình ảnh hoa mai và dường như mỗi khi hoa mai hiện diện đều khiến
những áng thơ của thi nhân xưa trở thành những câu chữ xuất thần. Ấn tượng nhất
là những bài thơ “Tảo mai” của Phật hoàng Trần Nhân Tông và “Cáo tật thị
chúng” của Thiền sư Mãn Giác thời Lý với câu thơ bất hủ:
“Cứ tưởng xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua, sân trước một nhành mai”
Hoa mai ở đây còn mang ý nghĩa về mùa xuân – sự sống – hạnh phúc, thể
hiện sự thanh khiết và cao thượng – phẩm chất và khí tiết của người quân tử.
Không nằm ngoài ý nghĩa đó, hình ảnh cây mai trong truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu cũng thể hiện những nét nghĩa vô cùng độc đáo và ấn tượng.
Trong truyện ngắn, tác giả đưa ra hình ảnh nhành mai, biểu tượng cho sức
sống mãnh liệt của con người, của toàn thể dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng
chiến trường kỳ, vượt qua mọi khó khăn, hiểm nguy nhất của thời cuộc và vươn
lên giành lại hòa bình, giành lại sự sống cho dân tộc.
Ngay ở nhan đề của tác phẩm, nhành mai được nhắc đến mang một ý nghĩa
biểu tượng sâu sắc, mai là dấu hiệu cho mùa xuân, nhành mai hiện hữu như góp
phần xua tan cái bầu không khí lạnh lẽo, u uất của tiết trời cuối đông, làm ấm
nóng cho cảnh vật, cho bầu không khí đầu xuân.
Đặc biệt, nhành mai được đặt trong một không gian của một làng quê
nghèo “đất cày lên đầy sỏi”, nhưng điều đáng quý là “nơi ấy đất cằn nhưng người
tốt cảnh đẹp”, hình ảnh những rặng mai trong vườn, hay nhà làng Đằng nhà nào
cũng có một vài cây mai trước ngõ, mai lúc này là biểu tượng cho sức sống bền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status