Cảm thức thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ nguyễn công trứ - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN


VŨ THỊ HẬU

CẢM THỨC THỜI GIAN VÀ KHÔNG
GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
NGUYỄN CÔNG TRỨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2011


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận này không trùng với kết quả của một công
trình nghiên cứu nào khác đã được công bố. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.

Hà Nội ngày 10 tháng 05 năm 2011.
Sinh viên

Vũ Thị Hậu

-3-


LỜI CẢM ƠN

Việc nghiên cứu khoa học là một thử thách mới đối với bản thân cá

6. Đóng góp của khoá luận ...............................................................................12
7. Bố cục khoá luận ...........................................................................................12
Nội dung...........................................................................................................13
Chương 1: Nguyễn Công Trứ, tác giả và tác phẩm.......................................13
1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. ........13
2. Tác giả Nguyễn Công Trứ .............................................................................15
2.1. Tiểu sử Nguyễn Công Trứ .........................................................................15
2.2. Cuộc đời Nguyễn Công Trứ ......................................................................15
2.3. Sự nghiệp Nguyễn Công Trứ......................................................................18
Chương 2: Thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn
Công Trứ .........................................................................................................21
2.1. Giới thuyết chung về thời gian và không gian nghệ thuật
trong văn học.....................................................................................................21
2.2. Thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ ...............21
2.2.1. Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ ...................................22
2.2.1.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật .............................................................22
2.2.1.2. Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ ................................23
2.2.1.2.1. Thời gian vũ trụ .................................................................................23

-5-


2.2.1.2.2. Thời gian đời người. ..........................................................................33
2.2.1.2.3. Thời gian lịch sử................................................................................38
2.2.2. Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ. ...............................39
2.2.2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật. ........................................................39
2.2.2.2. Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ. ............................41
2.2.2.2.1. Không gian vũ trụ. .............................................................................41
2.2.2.2.2. Không gian thế sự..............................................................................51
2.2.2.2.3. Không gian “hành lạc”.......................................................................60

hình thức có tác động và chi phối tới nội dung. Như Bêlinxki từng nhận xét:
“trong tác phẩm nghệ thuật tư tưởng và hình thức phải thống nhất với nhau
một cách hữu cơ như linh hồn và thể xác. Nếu hủy diệt hình thức thì cũng có
ý là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy”. Chính vì thế khi chúng ta nhắc
đến hình thức của tác phẩm văn học ta không thể không xét đến hai yếu tố đó

-7-


là thời gian và không gian nghệ thuật. Đây là cầu nối giúp cho bạn đọc – tác
giả đồng sáng tạo có thể cảm thụ về thế giới thông qua tác phẩm một cách tốt
nhất.
Xuất hiện với tư cách là một nhà thơ có phong cách “ngông”. Con
người, cuộc đời, sự nghiệp kể cả tư tưởng phức tạp của Nguyễn Công Trứ
đã từng là nguồn gốc của những nhận định, đánh giá khác nhau. Nghiên cứu
về ông có nhiều nhưng tìm hiểu về yếu tố thời gian và không gian nghệ
thuật trong thơ ông từ trước đến nay ít được các nhà phê bình hay nghiên cứu
chú ý tới.
Sở dĩ tôi chọn đề tài này vì thời gian, không gian nghệ thuật trong thơ
Nguyễn Công Trứ là một đề tài hấp dẫn. Hơn nữa đây còn là thành tựu nghiên
cứu của ngành thi pháp học – một ngành khoa học trẻ hứa hẹn với nhiều triển
vọng trong tương lai.
Ngoài ra với tương lai là một giáo viên, nghiên cứu đề tài này còn giúp
tôi giảng dạy về thơ Nguyễn Công Trứ trong chương trình Ngữ văn phổ thông
tốt hơn, từ đó giúp học sinh cảm nhận một cách sâu sắc về con người cũng
như cuộc đời của nhà thơ.
2. Lịch sử vấn đề
Việc tiếp cận tác phẩm văn chương có thể xuất phát từ nhiều góc độ
khác nhau. Có người đi từ nội dung để rút ra hình thức của tác phẩm, có
người lại thông qua hình thức của tác phẩm để suy ra nội dung. Dù nghiên

với ba phạm trù: “công danh, cái nhàn, hưởng lạc và cái ta hơn người”.
Năm sau (1999) Trần Đình Vượng trong Nhà nho tài tử và văn học Việt
Nam cũng có một bài nghiên cứu về con người của Nguyễn Công Trứ. Đó là
việc lí giải về “chí nam nhi”, “đầu đội trời chân đạp đất” của nhà thơ.
Năm 2003, Trần Nho Thìn trong cuốn sách Nguyễn Công Trứ về tác
gia tác phẩm có tập hợp tất cả những bài viết nghiên cứu về cuộc đời cũng

-9-


như về sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Công Trứ. Cuốn sách gồm hai phần
chính: Phần một gồm một số tư liệu lịch sử liên quan đến Nguyễn Công Trứ.
Phần hai là những công trình nghiên cứu tiêu biểu qua các thời kỳ của thế hệ
các nhà khoa học. Chúng tôi xin lấy ví dụ điển hình bài viết Tâm lý và tư
tưởng Nguyễn Công Trứ của Nguyễn Bách Khoa. Ông đã có cách lí giải rất
hay và sâu sắc những yếu tố liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ
Nguyễn Công Trứ. Trong đó ông có đặt vấn đề lí giải về chí nam nhi, về cái
nghèo, về chữ nhàn và quan niệm hành lạc qua thơ văn của nhà thơ. Cuối
cùng sau khi đứng trên quan điểm duy vật biện chứng ông đã đưa ra bốn định
luật về Nguyễn Công Trứ và khẳng định “Tâm lý và tư tưởng cũng như văn
thơ của Nguyễn Công Trứ là những sản vật phong kiến”.
Hay trong bài viết Nét riêng của Nguyễn Công Trứ trong việc sử dụng
thi liệu dân gian của Nguyễn Xuân Kính. Tác giả chỉ ra những nét riêng, độc
đáo của nhà thơ trong việc sử dụng các chất liệu dân gian khi đưa vào trong
thơ của mình. Qua đó ông cũng chứng minh được rằng việc Nguyễn Công
Trứ sử dụng những thi liệu, những bài ca dao không chỉ đơn thuần là câu
chuyện hình thức, là vấn đề kĩ thuật, mà còn là sự chứng tỏ, sự thể hiện quan
niệm thẩm mĩ độc lập, gần dân và tấm lòng nhân đạo đẹp đẽ của thi sĩ. Và
nhiều bài viết khác của Vương Trí Nhàn hay của Phạm Vĩnh Cư… Tất cả
những bài viết đó đều tìm hiểu về cuộc đời, thái độ hành xử của Nguyễn Công

- Phương pháp thống kê phân loại.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- Phương pháp bình giảng văn học, phân tích, chứng minh.
6. Đóng góp của khoá luận
Việc khám phá hệ thống thời gian, không gian nghệ thuật trong thơ
Nguyễn Công Trứ góp phần làm nổi bật con người, cũng như nét cá tính độc
đáo của nhà thơ.

- 11 -


7. Bố cục của khoá luận

Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Nguyễn Công Trứ, tác giả – tác phẩm.
Chương 2: Thời gian và không gian nghệ thật trong thơ Nguyễn
Công Trứ.

Kết luận
Tài liệu tham khảo

- 12 -


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TÁC GIẢ - TÁC PHẨM NGUYỄN CÔNG TRỨ
1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) ông ra đời khi nhà Lê sắp bị lật đổ và

kinh tế hết sức đình đốn, đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước thực
trạng đó liên tiếp diễn ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân. Tiêu biểu là
những cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, Nùng Văn Vân, Cao Bá Quát… Để
bảo vệ ngai vàng và đàn áp các phong trào khởi nghĩa, nhà Nguyễn đã tạo mọi
điều kiện cho sự cho sự xâm lược của thực dân Pháp vào nước ta sau này.
Trên đây là tình trạng thối nát và tàn bạo của chính quyền nhà Nguyễn,
tuy nhiên sự chuyên chế đó không được bộc lộ ngay từ đầu. “Một chính
quyền dù phản động đến đâu, lúc đầu cũng phải tỏ ra ít nhiều tiến bộ mị dân
để che mắt, đánh lừa quần chúng” [6, tr.650] Và triều Nguyễn cũng vậy.
Năm 1788, sau khi lấy được chính quyền Nguyễn Ánh tuyên bố mong
muốn mọi người đóng góp ý kiến về chính trị, miễn thuế cho những vùng bị
thiên tai hạn hán…
Sau hàng trăm năm chiến tranh loạn lạc, đói nghèo treo “lơ lửng” trên
đầu, con người khao khát thái bình việc thành lập của chính quyền nhà
Nguyễn làm cho xã hội có vẻ ổn định. Chính điều đó đã gây một số ảo tưởng
cho một lớp người sống trong xã hội đặc biệt là những nho sĩ đương thời. Họ
đem hết sức mình phục vụ cho triều đại. Thêm vào đó, việc dùng thi cử để
đào tạo quan liêu dưới thời nhà Nguyễn như mở ra trước mắt họ triển vọng
trong tương lai. Một số không nhỏ quan lại của nhà Nguyễn là những người
thuộc tầng lớp này, và Nguyễn Công Trứ cũng là một. Thực tế chứng minh
Nguyễn Công Trứ đã hăm hở đi học đi thi đỗ đạt ra làm quan, dốc hết sức
phục vụ cho triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên khi đã bước chân vào chốn
công danh nhà thơ mới thực sự nhận ra xã hội tưởng chừng như ổn định tốt

- 14 -


đẹp đó chỉ là cái vỏ bọc bề ngoài. Chính vì thế mà dẫn đến thái độ sống chua
chát, chán chường sẽ được gửi gắm trong những vần thơ của ông về sau này.
Đây như là một sự trả giá đắt cho sự ảơ tưởng lầm đường của ông.

vẫn đắp chiếu nằm trên ổ rơm ngủ thấy vậy quân lính đánh thức ông dậy. Lê
Văn Duyệt thấy ông là học trò nho nhã liền bảo Nguyễn Công Trứ thử vịnh
cảnh “nằm ổ rơm đắp chiếu” nếu hay sẽ tha. Ông ứng khẩu đọc:
Ba vạn anh hùng đè xuống dưới
Chín lần thiên tử dội lên trên.
Ý chỉ “rơm” là anh hùng rơm, “chiếu” với chiếu chỉ của vua. Lê Văn
Duyệt khen hay thưởng tiền và thả cho đi.
Khác với phần đông các danh nhân dưới thời phong kiến, Nguyễn
Công Trứ là người thành danh khá muộn màng. Vốn là một người thông minh
hiếu học song sau nhiều lần thi trượt, phải đến năm 1918, khi đã ngoài bốn
mươi tuổi lứa tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, đã từng trải trường đời và định hình
chí hướng. Ông quả là con người “lắm tài mà cũng nhiều tật” (4 - tr177). Cái
tài của ông bộc lộ qua việc ông được thăng thưởng và thể hiện qua các chặng
đường sau:
2.2.1. Thời hàn vi (bạch diện thư sinh): từ khi ra đời đến 1819
Vốn là một người thông minh, hiếu học song nhiều lần thi trượt, phải
đến năm 1918 ông mới thi đậu giải nguyên và được bổ đi làm quan.
2.2.2. Thời hiển đạt (hoạn hải ba đào): 1820-1847
Nội dung giai đoạn này có thể được thâu tóm trong hai câu thơ sau:
Lại mang lấy lợi danh, vinh nhục
Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan.
Đây cũng là thời kì được đánh giá là “lên voi xuống chó” trong cuộc
đời làm quan của Nguyễn Công Trứ:
1820: ông giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán.

- 16 -


1823: ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương.
1824: giữ chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám

2.2.3. Thời nghỉ hưu (ngoài vòng cương toả) 1848 - 1858
1848 Tự Đức nguyên niên, Nguyễn Công Trứ xin về hưu và lần này
ông được về hẳn.
Từ lúc được về hưu, nhà thơ còn sống thêm hơn mười năm nữa. Ông
mất ngày 14 tháng 11 năm Tự Đức thứ 12 (tức ngày 7 tháng 2 năm 1859) thọ
81 tuổi.
Tóm lại Nguyễn Công Trứ gặp nhiều sóng gió trong hiển hoạn là vì chế
độ chính trị đương thời hủ lậu, đế quyền thì bị đại hoàn cảnh xã hội làm cho
khuynh bại, còn phần số hoàng phái và quý tộc quan liêu thì mất hết nhân
cách, tiến bộ không còn đóng vai trò quản trị đắc lực được nữa. “Cụ Nguyễn
Công Trứ là một anh hùng hào kiệt… một nhà chính trị có tài kiến thiết, có
chí kinh luân. Tiếc thay sinh phải thời đại bế tắc, ở vào cái hoàn cảnh hẹp hòi
vua thì nghi kỵ, dưới các quan thì phần nhiều là bọn dung tục chẳng có tư
tưởng gì cao thượng, kiến thức gì sâu xa, đã không tán thành cho cụ lại đem
lòng ghen ghét kiếm cách mà bắt kẻ gièm pha để trở ngại công việc cụ”
(Lê Thước).
2.3. Sự nghiệp
Nguyễn Công Trứ là một người đầy tài năng, sự nghiệp của ông được
thể hiện ở mọi phương diện:
2.3.1. Quân sự
Do chính sách hà khắc của nhà Nguyễn dưới triều đại Gia Long và
Minh Mạng nên đã xảy ra liên tiếp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân.
Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng,
đánh đâu thắng đó:
1827: dẹp khởi nghĩa Phan Bá Vành.
1833: dẹp khởi nghĩa Nông Văn Vân.

- 18 -



Nhìn một cách tổng quát, thơ văn Nguyễn Công Trứ tập trung vào 3
chủ đề chính sau:
- Những bài thơ xoay quanh chí nam nhi.
- Những bài thơ xoay quanh cảnh nghèo và thế thái nhân tình.
- Những bài thơ xoay quanh triết lí cầu nhàn hưởng lạc.
Đời ông đầy giai thoại, nó cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ và mang tính
bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ Nguyễn Công Trứ sinh động, giàu triết lý
nhân văn nhưng lại vô cùng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy
đời sống làm cốt lõi: “Nguyễn Công Trứ có điều kiện đi nhiều, trải nghiệm,
đã gắng gỏi hết sức luôn luôn chú trọng nhập cuộc đời sống hiện thực, bằng
tất cả năng lực và chí nguyện mà không quá so đo, tính toán điều lợi hại. Ví
như ông biết khuôn phép, biết giữ lời, biết kìm nén, thậm chí thêm một chút
xuôi chiều, thì con đường hoạn lộ của ông đâu đến nỗi ba chìm bảy nổi. Vậy
mà trước sau ông vẫn giữ nguyên cái tư chất đầy bản lĩnh, đầy tự tin và cũng
đầy năng lượng quyết đoán [4, tr.180].

- 20 -


CHƯƠNG 2
THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ NGUYỄN CÔNG TRỨ
2.1. Giới thuyết chung về thời gian và không gian nghệ thuật trong văn
học.
Không có gì có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian. Do vậy mà
mọi sự cảm nhận về tồn tại của con người đều gắn liền với sự cảm nhận
không gian và thời gian. Thông qua sự vận động của thời gian mà con người
nhận ra sự đổi thay trong chính mình: “Nếu hiểu thơ là sự cảm nhận thế giới
và con người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm
nhận thế giới và con người” (Trần Đình Sử).

Hay trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì: “Thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức
bên trong của hình tượng nghệ thuật”. “Là hình thức nội tại của hình tượng
nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” [3, tr.273].
Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian
nghệ thuật có thể bị đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay tới tương lai xa
xôi “Mai sau dù có bao giờ. Đốt lò hương ấy so tơ phím này. Trông xa ngọn
cỏ lá cây. Thấy hiu hiu gió thì hay chị về (Truyện Kiều), có thể dồn nén một
khoảng thời gian chốc lát “Ba thu dọn lại một ngày dài ghê” (Truyện Kiều),
lại có thể kéo dài chốc lát thành vô tận “Khắc dài đằng đẵng như niên” (Chinh
phụ ngâm). Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau.
Bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái
chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác… tạo nên nhịp điệu trong tác

- 22 -


phẩm. Như vậy thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình
tượng nghệ thuật.
Thời gian có vai trò vô cùng quan trọng trong tác phẩm. Nó dùng được
làm phương tiện nghệ thuật để phản ánh đời sống, thể hiện cảm xúc và tư
tưởng của tác phẩm văn học.
2.2.1.2. Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ
2.2.1.2.1. Thời gian vũ trụ
Nói tới thời gian vũ trụ tức là nói tới thời gian trong mối quan hệ biện
chứng với không gian. Với tư cách là thời gian vũ trụ, thời gian nghệ thuật ít
bị đóng khung trong hiện tại mà có xu hướng lan tỏa tới quá khứ và vươn xa
tới tương lai.
Thực tế qua quá trình khảo sát, chúng tôi thấy những bài thơ thuộc kiểu
thời gian vũ trụ chiếm khoảng 23% trong thơ của Nguyễn Công Trứ. Đó là

da diết hơn. Thời gian trong bài thơ vận động tương đối chậm. Nếu như mở
đầu bài thơ, hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình là âm thanh của “tiếng
chim kêu gió” thì kết thúc bài thơ lại là âm thanh “eo óc” của tiếng gà báo trời
chưa rạng. Sự vận động chậm chạp của thời gian cũng chính là sự vận động
nặng nề trong tâm trạng của con người. Với thủ pháp lấy động tả tĩnh, hình
ảnh của nhân vật trữ tình trong tâm trạng khắc khoải nhớ quê càng được bộc
lộ rõ hơn. Khi không ngủ chỉ biết “mần răng” nỗi buồn chỉ có thể thốt lên một
câu: “Tình tự này ai biết cho chăng?”. Một câu hỏi tu từ được đặt ra nhằm tìm
sự đồng cảm chia sẻ với tâm trạng nhớ quê của nhân vật. Phải chăng đó là lúc
nỗi nhớ dâng cao độ là lúc con người thấy cô đơn và trống trải nhất.
Khoảng thời khắc ban đêm không chỉ được diễn tả cụ thể bằng những
âm thanh mà còn được nhắc tới thông qua những hình ảnh:
Sông Xích Bích vừng trăng vặc
Thầy Tô tìm thú cũ qua chơi
Bóng quang âm là đã mấy mươi

- 24 -


Mà no nước dễ xui lòng cảm kích
Thi thành nhất bức thiên sơn tịch
Cô hạc hành giang lược tiểu chu
Suốt năm canh bên gối mơ hồ
Chiếc thuyền luống đi về trong bóng nguyệt.
Đã từ lâu hình ảnh vầng trăng được dùng như là một phương tiện để
chuyển tải tâm tư, tình cảm của con người. Nói đến ánh trăng là nói tới thời
gian, thông qua ánh trăng mà nói hộ lòng người. Trong bài thơ xuất hiện hình
ảnh “vầng trăng vằng vặc”, “bóng quang âm”, “chiếc thuyền bóng nguyệt”,
“năm canh”. Đây là những tín hiệu báo hiệu thời gian đã thời đã vào buổi
đêm khuya. Đó cũng là lúc con người sống thật với lòng mình nhất. Cũng

Nguyễn Công Trứ đã dùng mô típ quen thuộc là hình ảnh con cò để nói
lên thân phận cũng như cuộc đời của người phụ nữ thời phong kiến. Đó là
người phụ nữ tần tảo “một nắng hai sương” cả cuộc đời hi sinh cho chồng cho
con. Người phụ nữ trong bài thơ này cũng vậy. Công việc của nàng là gánh
gạo đưa chồng, nhưng không phải là ban ngày ngày mà là ban đêm. Thời gian
buổi đêm ở đây cũng giống như các bài thơ trên đều là thời khắc của năm
canh - một khoảng thời gian quen thuộc, lúc tâm hồn con người ta lắng đọng
nhất. Người phụ nữ này đang trong tâm trạng buồn mà “bâng khuâng từng
bước”, chính vì thế khi nghe tiếng quyên, âm thanh quen thuộc nơi làng quê
mà trở nên “khắc khoải”. “Khắc khoải” một từ láy tượng hình gợi cho nguời
đọc thấy được tâm trạng rất nặng nề, thậm chí có thể là u uất của người thiếu
phụ. Tại sao nàng lại có tâm trạng như vậy? Có lẽ nàng đang tức tối một điều
gì đó? Một nguyên nhân dễ nhận thấy nhất là do xã hội phong kiến gây nên.
Thời phong kiến loạn lạc là thời mà mọi trai tráng, mọi người đàn ông trong
nhà đều phải dứt áo, từ biệt gia đình mà ra đi. Chính những cuộc chiến tranh
phi nghĩa đã làm “chảy máu” và nước mắt của bao nhiêu người, cướp đi hạnh

- 26 -


Trích đoạn Không gian thế sự Không gian “hành lạc”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status