BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ PHƢƠNG LAN
THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ LƢU QUANG VŨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÝ HOÀI THU
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng
Sau đại học trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội II và các thầy cô giáo trực tiếp
giảng dạy đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
tại trƣờng.
Với tình cảm sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến
Trần Thị Phương Lan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 8
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
7. Những đóng góp của luận văn 9
8. Cấu trúc của luận văn 9
Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ THỜI GIAN - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
VÀ HÀNH TRÌNH THƠ CỦA LƢU QUANG VŨ 10
1.1. Khái niệm về thời gian - không gian nghệ thuật 10
1.1.1. Thời gian nghệ thuật 10
1.1.2. Không gian nghệ thuật 13
1.2. Hành trình thơ của Lƣu Quang Vũ 17
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời và tác phẩm 17
1.2 2. Những chặng đƣờng thơ của Lƣu Quang Vũ 23
Tiểu kết 29
Chƣơng 2. THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LƢU QUANG VŨ 31
2.1. Thời gian vật lý và những tƣơng quan 31
2.1.1. Ban mai “xanh biếc”, tƣơi sáng 32
2.1.2. Buổi chiều khắc khoải, đợi chờ 35
2.1.3. Đêm tối ám ảnh, hoài nghi 39
2.2. Thời gian tâm lý 41
2.2.1. Thời gian đồng hiện 42
2.2.2. Dự cảm tƣơng lai 48
2.2.3. Nhịp độ thời gian 51
Chƣơng 3. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LƢU QUANG
nỗi đời thì sự khắc khoải trƣớc thời gian càng lớn" [29, tr.86]; " mỗi tác giả
là cả một thế giới không gian với những hình thù, đƣờng nét, màu sắc khác
nhau" [29, tr.100].
1.2. Lƣu Quang Vũ là tác giả đa tài, thành công vang dội với kịch, song
ngƣời nghệ sĩ tài hoa cũng kí thác trong thơ đầy những khắc khoải và hi vọng,
kiếm tìm - làm thơ nhƣ ghi nhật kí, là sự trở về với tâm hồn, một tâm hồn
luôn "đắm đuối" (Vũ Quần Phƣơng). Những bài thơ luôn là ám ảnh của trí
nhớ, hoài niệm, là dự cảm về cuộc sống, về tình đời Ngay khi mới xuất hiện,
thơ Lƣu Quang Vũ đã có sức thu hút bởi nét tài hoa mà dung dị trong tứ thơ,
chất hội họa từ biểu tƣợng thơ, và nhất là bởi giọng điệu vừa trong sáng, thiết tha
vừa nồng nàn. Tập thơ đầu Hương cây - Bếp lửa (1968, in chung với Bằng Việt)
đã sớm hé lộ một hồn thơ yêu đời, yêu ngƣời trong sáng và mơ mộng.
2
Nếu ánh đèn màu rực sáng của sân khấu kịch mang lại cho Lƣu Quang
Vũ sự ngƣỡng mộ của công chúng về tài năng thì những vần thơ thầm lặng
khiến ngƣời yêu thơ xúc động khi gặp gỡ một tâm hồn nhạy cảm. Nhà thơ trẻ
luôn ý thức đi tìm, chắt lọc lấy những vẻ đẹp giản đơn nhƣng có thật nhƣ
niềm vui, nỗi buồn, niềm hy vọng giữa đời thƣờng. Lƣu Quang Vũ cũng đã
gửi gắm vào thơ những rung động và tin tƣởng. Có khi thi sĩ đã đối thoại, trò
chuyện thành thực nhƣ lời tự thú về chính mình "Luôn mắc nợ những chuyến
đi, những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có thật".
Thơ Lƣu Quang Vũ cũng ấn tƣợng bởi luôn mở ra những khung thời
gian - không gian vừa rất đỗi gần gũi, nhƣ chạm vào kỉ niệm, vừa mênh mang
những tƣởng tƣợng và khát vọng. Đó cũng là khung trời của "nỗi đam mê
cháy bỏng và những câu thơ nổi gió trong lòng" (Lƣu Khánh Thơ).
1.3. Nghiên cứu đề tài này, ngƣời viết có cơ hội hiểu thêm tâm hồn
ngƣời nghệ sĩ nói riêng và con ngƣời đời thƣờng nói chung trong những
khoảnh khắc tồn tại đầy ám ảnh của kiếp ngƣời. Thơ không phản ánh hiện
thực đời sống theo cách khách quan, thơ phản ánh tâm hồn con ngƣời với
điểm chung nhƣng vẫn có những nét khác biệt giữa văn xuôi và thơ ca. Vì
vậy, trong nghiên cứu thi pháp học đã có sự phân biệt. Nếu trong văn xuôi
thời gian gồm hai lớp - thời gian trần thuật và thời gian đƣợc trần thuật - thì
thời gian trong thơ ca nghiêng về thời gian tâm lí; không gian trong thơ ca
cũng không xác định dễ dàng nhƣ trong văn xuôi, có nhiều lớp, nhƣng đặc
biệt nhấn mạnh đến kiểu "không gian con ngƣời" - chuyển dịch, đổi thay, biến
hình bởi nhiều yếu tố chi phối. Theo Hoàng Trinh, "Đứng về phía kết cấu,
ngƣời ta xếp thơ vào loại phạm trù thẩm mỹ không gian - thời gian hỗn hợp".
Ở Việt Nam, Trần Đình Sử là một trong những ngƣời đầu tiên mở ra
hƣớng nghiên cứu mới cho thi pháp học. Ông đã đề cập đến yếu tố thời gian -
không gian nghệ thuật trong công trình Thi pháp thơ Tố Hữu (1987):
4
- "Khó mà hiểu đƣợc con ngƣời nếu không hiểu đƣợc không gian tồn
tại của nó" [25, tr.178].
- "Sự cảm thụ thời gian gắn liền ý thức về ý nghĩa của cuộc đời " [25,
tr.207].
- " ý thức về thời gian là ý thức về sự tồn tại của con ngƣời, phát hiện
về thời gian giúp ngƣời ta nhận thức sâu hơn về cuộc sống" [25, tr.208].
Trong cuốn "Những thế giới nghệ thuật thơ" (1997), tập hợp một số
nghiên cứu, tác giả Trần Đình Sử cũng đƣa lại các bài viết về không gian và
thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều (nghiên cứu từ những năm 1983,
1991).
Hiện nay, thời gian và không gian nghệ thuật tiếp tục đƣợc quan tâm
nhƣ là một hƣớng đi quan trọng trong các nghiên cứu thi pháp học của nhiều
tác giả.
2.2. Những ý kiến đề cập đến thơ Lưu Quang Vũ
Tài năng thơ của Lƣu Quang Vũ đã sớm đƣợc biết đến ở độ tuổi đôi
mƣơi, đƣợc khẳng định bởi nhà phê bình Hoài Thanh: Một cây bút trẻ có
nhiều triển vọng. Nhƣng sau đó, trong bối cảnh đất nƣớc đang chuyển mình,
Lưu Quang Vũ - Về tác gia và tác phẩm, do Lý Hoài Thu, Lƣu Khánh
Thơ tuyển chọn và giới thiệu năm 2007, là công trình hoàn chỉnh nhất hiện
nay: tổng kết cuộc đời – sự nghiệp sáng tác – con ngƣời Lƣu Quang Vũ;
tuyển thơ đầy đủ; giới thiệu các bài nghiên cứu về Lƣu Quang Vũ ở nhiều
phƣơng diện, thuộc cả ba lĩnh vực thơ, văn xuôi, kịch. Trong đó, bài tổng
luận“Sức sáng tạo của một tài năng”(Lý Hoài Thu) mở đầu công trình có ý
nghĩa khái quát về hành trình sáng tác cùng sự phát triển nhận thức, đời sống
tình cảm và trong tƣ duy nghệ thuật của Lƣu Quang Vũ. Riêng về thơ, tác giả
Lý Hoài Thu đã viết về những cảm hứng lớn - đất nƣớc quê hƣơng, nhân dân
6
và dân tộc, đời tƣ và tình yêu - và về một cái tôi nhiều rung động yêu thƣơng,
trao gửi trƣớc cuộc đời của thi sĩ. Tác giả Lý Hoài Thu khẳng định Lƣu
Quang Vũ đã tạo lập đƣợc một thế giới nghệ thuật riêng qua ba tập thơ. Ở đó,
“cái tôi trữ tình luôn luôn vận động với nhiều giai điệu cảm xúc… lung linh
ẩn hiện những miền không – thời gian thấm đẫm chất thơ… ẩn chứa lớp lớp
ngôn từ giàu sắc màu hội họa, ấn tƣợng, gợi cảm nhƣng cũng giàu chất suy
tƣởng ” [30, tr.42].
Đối thoại tình yêu Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, xuất bản năm 2007,
có cách khai thác đời thơ Lƣu Quang Vũ ở góc nhìn khác. Ngoài tác phẩm,
các bài phê bình thơ, còn có những bức thƣ chan chứa ân tình và đồng điệu
giữa hai ngƣời, những câu thơ họ viết tặng nhau… Qua cách đôi vợ chồng thi
sĩ đối thoại bằng những trang thơ, ngƣời đọc nhận ra những vẻ đẹp tâm hồn
và cả khát vọng yêu thƣơng của Lƣu Quang Vũ trong cuộc đời thực.
Các nhà nghiên cứu phê bình đã có nhiều hƣớng tiếp cận tìm hiểu thơ
Lƣu Quang Vũ, tập trung ở những nội dung nhƣ:
- Cái tôi trữ tình trong thơ Lƣu Quang Vũ
Phạm Xuân Nguyên có nhận định ấn tƣợng về bản chất những khao
khát trong con ngƣời nhà thơ: "Nhƣ con tàu luôn bồn chồn ra đi. Thơ anh tất
bật, hối hả nhƣ đời anh Bởi nhƣ gió, anh phóng túng, tự do. Dám sống đúng
Anh Ngọc so sánh: “Xuân Diệu cuống quýt vì thời gian, Lƣu Quang Vũ
bối rối bởi không gian, nói khác thì rất khác, nhƣng nói giống thì cũng không
kém gì hai giọt nƣớc”. Tác giả cho rằng Vườn trong phố có thể tiêu biểu cho
hồn thơ cũng nhƣ bút pháp Lƣu Quang Vũ và nhấn mạnh yếu tố giọng điệu
trong mảng thơ tình“một giọng thơ khó lẫn bởi cƣờng độ tình cảm quá mạnh
đã phá vỡ con đê khuôn sáo của từ ngữ…” [30, tr.206].
8
Các hƣớng nghiên cứu đã làm nổi bật những đặc điểm phong cách trữ
tình của thơ Lƣu Quang Vũ. Song, chƣa có công trình nghiên cứu hệ thống và
chuyên sâu về yếu tố thời gian - không gian nghệ thuật trong thơ ông. Thời
gian trong thơ thƣờng gợi sâu những tâm tình, không gian thơ vốn dung chứa
không gian tâm hồn. Hơn nữa, thơ Lƣu Quang Vũ nhiều ám ảnh và dự cảm,
giọng thơ không thuần nhất, cái tôi trữ tình nhiều khi day trở mâu thuẫn
không dễ nhận diện. Qua đề tài Thời gian và không gian nghệ thuật trong
thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi hi vọng đóng góp thêm ý kiến về một hƣớng
tiếp cận hiệu quả trong quá trình khám phá thế giới nghệ thuật của một nhà
thơ luôn khắc khoải về niềm tin và cả nỗi đau nhân thế .
3. Mục đích nghiên cứu
Qua phân tích cách chiếm lĩnh hiện thực với thời gian - không gian
nghệ thuật của thơ Lƣu Quang Vũ, luận văn chỉ ra đặc điểm thi pháp, cá tính
sáng tạo và phong cách độc đáo của nhà thơ. Từ đó, góp phần khẳng định
những đóng góp giá trị và vị thế của tác giả Lƣu Quang Vũ trong đời sống thơ
ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lí thuyết thi pháp học về thời gian và không gian nghệ
thuật trong văn học để tìm tòi, phát hiện những phƣơng diện độc đáo và vai trò
của yếu tố thời gian - không gian trong thế giới nghệ thuật thơ Lƣu Quang Vũ.
5. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
QUANG VŨ
Chƣơng 3: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LƢU
QUANG VŨ
10
Chƣơng 1
KHÁI LƢỢC VỀ THỜI GIAN - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ
HÀNH TRÌNH THƠ CỦA LƢU QUANG VŨ
1.1. Khái niệm về thời gian - không gian nghệ thuật
1.1.1.Thời gian nghệ thuật
Thời gian là một phạm trù cơ bản của cuộc sống - thế giới tự nhiên và
con ngƣời đều tồn tại trong quá trình vận động của thời gian. Thể hiện
phƣơng thức tồn tại và triển khai thế giới, nghệ thuật có thời gian riêng. Thời
gian nghệ thuật không trùng khít cũng nhƣ không hoàn toàn tồn tại trong thời
gian vật chất. Bởi những sự kiện và tâm thế con ngƣời trong tác phẩm nghệ
thuật luôn có quá trình vận động và phát triển riêng. Văn học đƣợc xếp thuộc
loại nghệ thuật thời gian, nghĩa là hình tƣợng văn học đƣợc mở dần theo thời
gian, gắn liền với sự cảm thụ về thời gian.
“Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con ngƣời trong thế
giới” [18, tr.322]. Thời gian nghệ thuật đƣợc xây dựng theo cách cảm nhận
thời gian, cảm nhận phƣơng thức tồn tại giữa thế giới của con ngƣời. Phản
ánh sự cảm nhận ấy, thời gian nghệ thuật thể hiện quan điểm, tƣ tƣởng tác giả.
Đó cũng là sự sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ để tạo ra một thế giới nghệ thuật có
thể trƣờng tồn trong thời gian. Nhƣ thế, thời gian nghệ thuật cũng mang đầy
tính chủ quan.
Là thời gian tâm lý, thời gian nghệ thuật đƣợc cảm nhận qua lăng kính
cảm xúc nên không nhất thiết phải theo trật tự vốn có của tự nhiên (quá khứ -
hiện tại - tƣơng lai) mà có thể “đảo ngƣợc quay về quá khứ, có thể bay vƣợt
tới tƣơng lai xa xôi, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận” [18, tr.322].
Cảm quan nghệ thuật bắt đầu từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian có
cánh hoa đào lả tả
gợn sóng hồ Bi- oa.
12
hay
Đất khách mƣời mùa sƣơng
về thăm quê ngoảnh lại
Ê- đô là cố hƣơng.
(Ba- sô)
Thơ ca trung đại Việt Nam đã điểm nhịp thời gian “Sen tàn cúc lại nở
hoa/ Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân” (Nguyễn Du) cho đến thơ hiện đại:
Bỗng nhận ra hƣơng ổi
Phả vào trong gió se
Sƣơng chùng chình qua ngõ
Hình nhƣ thu đã về
(Hữu Thỉnh)
Với những cá tính sáng tạo, thời gian nghệ thuật bao giờ cũng có cách
thức thể hiện mới lạ, độc đáo, tạo nên ấn tƣợng sâu sắc về dòng chảy vô thủy
vô chung của cuộc đời.
Thế giới nghệ thuật là khúc xạ của cuộc sống thực, thời gian nghệ thuật
theo đó cũng là một hiện tƣợng ƣớc lệ trong thế giới tƣởng tƣợng ấy, cho nên
không dễ xác định. Nhìn chung, thời gian nghệ thuật có thể biểu hiện qua một
số phƣơng diện: nhịp điệu thời gian, trình tự thời gian, hình tƣợng thời gian.
Theo Trần Đình Sử: “Thời gian nghệ thuật trong văn học không phải đơn
giản chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian mà là một hình tƣợng thời gian
sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian đƣợc dùng làm hình
thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm” [23, tr.77].
Ở mỗi thể loại văn học, do đặc trƣng nghệ thuật riêng nên thời gian
cũng diễn biến khác nhau. Tiểu thuyết là thể loại có sức dung chứa lớn với
khát vọng thâu tóm toàn bộ hiện thực (mô hình đại tự sự), thời gian trong tiểu
14
trong một trƣờng nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính
bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách
quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộn , dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật.”
[18, tr.160].
Mỗi loại hình nghệ thuật có cách tái hiện không gian riêng. Nếu hội họa
và điêu khắc miêu tả các sự vật một cách tĩnh tại thì trong việc chiếm lĩnh
không gian nghệ thuật văn học lại có ƣu thế vƣợt trội. Bằng phƣơng tiện đặc
biệt là ngôn từ, văn học có khả năng chuyển dịch từ bức tranh này sang bức
tranh khác một cách nhanh chóng lạ thƣờng, dễ dàng đƣa ngƣời đọc vào
những miền không gian khác nhau.
Theo Trần Đình Sử,“Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của
nhà nghệ sĩ nhằm biểu hiện con ngƣời và thể hiện một quan niệm nhất định về
cuộc sống, do đó không thể quy nó về không gian địa lý hay không gian vật lý,
vật chất.” [23, tr.108]. Chính vì thuộc về thế giới nghệ thuật, thế giới của
“cái nhìn và mang ý nghĩa” (Trần Đình Sử), cho nên không gian nghệ thuật
đƣợc mở ra từ một trƣờng nhìn, một cách nhìn. Điểm nhìn giúp mô hình
không gian trở nên linh động và đầy đủ, đồng thời soi chiếu phản ánh không
gian bên trong con ngƣời:
Dừng chân đứng lại: trời, non, nƣớc
Một mảnh tình riêng, ta với ta
(Bà huyện Thanh Quan)
Nhƣng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi
trên mỏm đá xòe nhƣ con bƣớm sặc sỡ… Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cƣời ầm
lên sân chơi trƣớc nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi
chơi… Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bổi hổi… Tiếng chó sủa xa xa.
Những đêm tình mùa xuân đã tới. (Tô Hoài).
15
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
( Nghĩa là:
Vạn dặm sông xanh, vạn dặm trời)
(Không Lộ thiền sƣ)
Thiên nhiên trong thơ ca trung đại là nơi di dƣỡng tinh thần:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Với thơ ca cách mạng, Trần Đình Sử đã phát hiện“Hình tƣợng không
gian quan trọng nhất đóng vai trò hình tƣợng xuyên suốt trong thế giới thơ Tố
Hữu là con đƣờng cách mạng” [25, tr.186].
Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực vốn
tồn tại khách quan mà nó trở thành một kí hiệu đặc biệt để diễn đạt những
phạm trù ở ngoài thời gian, hoặc để thể hiện tâm trạng của nhân vật, thậm chí
hé lộ khả năng đánh giá nhân vật về mặt đạo đức, thẩm mĩ. Chẳng hạn, bầu
trời Auterlitx trong xanh, cao vời mà Anđrây (Chiến tranh và hòa bình - Lev
Tolstoi) nhìn thấy lúc nằm ngửa mặt, bị thƣơng, giáp mặt tử thần đã thể hiện
tâm hồn và tƣ tƣởng chàng. Bầu trời ấy là không gian thức tỉnh và khao khát,
cái cao cả, cái vĩnh hằng hiện ra qua “khoảng không vô tận màu xanh biếc”,
nhƣ muốn nói lên chân lý “Ngoài bầu trời cao tận kia ra, tất cả đều là vô
nghĩa, đều là lừa dối”.
Không gian nghệ thuật trong thơ mang tính chất ít xác định. Trong tiểu
thuyết, “không gian đƣợc dễ dàng xác định bởi khuôn khổ của nội dung cốt
truyện và môi trƣờng sinh sống của nhân vật” [29, tr.101]. Theo Những vấn
đề thi pháp của truyện (Nguyễn Thái Hòa), ở văn xuôi có các loại không
17
gian: không gian bối cảnh (là không gian rộng lớn nhất mà câu chuyện xảy ra,
bao gồm: bối cảnh thiên nhiên, bối cảnh xã hội, bối cảnh tâm trạng), không
gian sự kiện, không gian tâm lý, không gian kể chuyện, không gian đối thoại.
Sinh ra trong gia đình có thiên hƣớng nghệ thuật (cha là nhà viết kịch
Lƣu Quang Thuận) và tài năng sớm đƣợc bộc lộ nhƣng Lƣu Quang Vũ không
vội vã nhận lấy những cơ may cho cuộc sống của mình (Ông từng đƣợc vào
thẳng đại học bởi thành tích học tập xuất sắc; Lƣu Quang Vũ cũng nổi lên văn
đàn khá sớm, lọt vào mắt xanh của nhiều nhà phê bình “kỹ tính” ). Mƣời bảy
tuổi, chàng trai trẻ tình nguyện đi bộ đội không hẳn do tâm lý thế hệ mà còn
bởi nguyên nhân sâu xa, trong ý thức, trong tâm hồn: Đất nƣớc mình tƣơi hoa
đẹp nắng - Ta cùng gìn giữ phải không anh (Gửi tới các anh, 1965).
Năm năm Lƣu Quang Vũ tham gia chiến đấu và làm công tác văn nghệ
quần chúng ở một đơn vị phòng không - không quân, những câu thơ mang hơi
thở tƣơi trẻ, tài hoa, giàu cảm xúc đã cất lên giữa những không khí khói lửa
của chiến sự:
Chiến hào nắng chói
Bỗng thơm mùi bƣởi, mùi chanh
Đi xa lòng vẫn nhớ
Dáng quê hƣơng trong cây lá hiền lành.
Những vần thơ đầu tiên ở Hương cây (1968) là sự hài hòa giữa vẻ đẹp
lý tƣởng và tình cảm trong trẻo trong tâm hồn nhà thơ trẻ mang áo lính. Tâm
hồn anh lính trẻ mộng mơ nhƣng không phải kiểu lãng mạn Đêm mơ Hà Nội
dáng kiều thơm (Quang Dũng) tiểu tƣ sản ngày trƣớc hay cố gắng hƣớng đến
xây dựng những không gian lý tƣởng hoành tráng chói ngời sắc đỏ… Tƣơi
nhƣ cánh nhạn lai hồng (Nguyễn Mỹ), rừng lạ ào ào lá đỏ (Nguyễn Đình
Thi)… Giữa hiện thực khốc liệt của chiến trận, nếu Hoàng Nhuận Cầm đã ấn
tƣợng khi góp một thanh âm trong ngần dìu dặt quen mà lạ:
19
Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu
Dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi nhỏ
Trong những chiếc ba lô kia, ai dám bảo là không có
Một hai ba giọng hát chú ve kim?
nhiều đổi thay:
Ta đến làm gì, ta sẽ đi đâu
Các sinh viên bàn cãi nhau
Về ý nghĩa của tồn tại
(Bài hát trong một cuốn phim cũ)
Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Lƣu Quang Vũ thƣờng đặt ra
những câu hỏi day dứt về đời sống nhân sinh và luôn thao thức những dự cảm
lo âu cho thân phận con ngƣời. Khi viết cho chính mình, thơ ông cũng có
nhiều khoảng u buồn, xám lạnh. Tuy nhiên, chính những nếm trải cay cực của
cuộc đời đã đem lại sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và tƣ duy nghệ
thuật của nhà thơ.
Với bản chất luôn tha thiết với cuộc đời và con ngƣời, nhà thơ đã tìm
đƣợc cách tiếp cận hiện thực ở một góc độ khác. Tình cảm quê hƣơng, đất
nƣớc trong sáng tác của Lƣu Quang Vũ trƣởng thành hơn, hóa thành cảm
hứng mạnh mẽ về dân tộc, nhân dân. Những Việt Nam ơi, Đất nước đàn bầu,
Tiếng Việt, Bài ca trên bán đảo … đều chung một tình yêu nhiều trăn trở với
Tổ quốc.
Lƣu Quang Vũ cũng tìm đến thơ tình nhƣ một quy luật tất yếu của tâm
hồn thi sĩ nhạy cảm. Gắn bó với tình yêu trong đời thực của ông, đầy đa đoan
biến động, tình yêu trong thơ Lƣu Quang Vũ mang đủ những sắc màu, dáng
vẻ, cung bậc, từ hạnh phúc đến đau khổ, từ tin yêu đến hoài nghi thất vọng…
Lƣu Quang Vũ yêu sớm, mối tình đầu trong sáng, mê say với Tố Uyên (một
diễn viên xinh đẹp) đã trở thành thi hứng cho Vườn trong phố, Hơi ấm bàn