NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________ Phạm Thị Thùy Trang NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG THỊ VĂN Thành phố Hồ Chí Minh – 2009 Lời cảm ơn

Việt, cả người ngoại quốc” [64, tr.7]
. Xung quanh các sáng tác của nhà văn
xuất hiện nhiều ý kiến khen chê khác nhau, nhưng sức hấp dẫn của những
trang văn này đối với độc giả đã được nhiều nhà phê bình thừa nhận. Bùi Việt
Thắng nhận xét: “Mỗi truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đều như một “khối
thuốc nổ” làm tan vỡ mọi nếp nghĩ bì
nh thường của độc giả”[18, tr.351].
Nguyễn Đăng Mạnh thì cho rằng: “Những truyện của Nguyễn Huy Thiệp có
một sức hấp dẫn khó cưỡng lại được. Anh có nhiều ngón nghề lôi cuốn người
đọc cũng “bợm” lắm” [57, tr.347]. Còn các tác giả của công trình Truyện
ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp - Chân dung phát biểu: “Lịch sử văn
học còn ghi: Vào giữa những năm tám mươi của thế kỷ XX, khi “ hiện tượng
Nguyễn Minh Châu” bùng lên và sau đó tạm lắng thì phát lộ “hiện tượng
Nguyễn Huy Thiệp”” [19, tr.767]
. Và cho đến thời điểm hiện tại, Nguyễn Huy
Thiệp cùng với các tác phẩm của ông vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà
phê bình nghiên cứu khi tìm hiểu về nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ
sau năm 1975 nói chung, cũng như khi khảo sát phong cách nghệ thuật của
nhà văn nói riêng. Có thể nói, khi nhắc đến những hiện tượng văn học tiêu
biểu sau chiến tranh, bất cứ một tác giả nào cũng phải đề cập ít nhiều đến
Nguyễn Huy Thiệp như một biểu hiện xuất sắc và độc đáo của dòng văn học
đương thời.
2. Nguyễn Huy Thiệp viết cả kịch bản văn học, phê
bình văn học, tiểu
thuyết, nhưng mảng sáng tác nổi bật và thu được nhiều thành tựu hơn cả là
truyện ngắn. Các truyện ngắn của nhà văn từ lâu đã trở thành trung tâm của
những bàn thảo, tranh luận sôi

thuật. Chính vì vậy, khi khảo sát một hình tượng người kể chuyện, chúng ta
phải đi vào phân tích từng yếu tố này để rút ra một cách nhìn nhận xác đáng
và trọn vẹn về hình tượng. Xét riêng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thì
sự đặc sắc của mỗi loại hình tượng người kể chuyện đều gắn liền với những
đặc trưng nhất định t
rong nghệ thuật sử dụng các phương tiện trần thuật, ngôn
từ, giọng điệu kể chuyện cũng như sự luân phiên thay đổi ngôi kể và các điểm
nhìn trần thuật. Cái hay của nhà văn là ở chỗ, ông đã thể hiện được tài năng
biến hóa li
nh hoạt trong việc vận dụng và kết hợp các yếu tố tự sự để kiến tạo
nên nhiều dạng người kể chuyện khác nhau, qua đó xây dựng nên những cấu
tứ tự sự độc đáo, mang tính biểu hiện cao.
4. Nhận xét về phong cách truyện ngắn mới lạ và đặc sắc của Nguyễn
Huy Thiệp, các nhà phê bình, nghiên cứu từ trước tới nay thường tập trung
nhiều vào việc xem xét những yếu tố khác nhau của nghệ thuật tự sự như:
giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ, cách kể chuyện, vị trí của người kể, bút pháp,
nghệ thuật
xây dựng nhân vật… cùng những đặc điểm nội dung, tư tưởng nổi
bật như: sự ưu trội của “thiên tính nữ” trong nghệ thuật xây dựng các nhân vật
nữ, tính triết lý và chất thơ đặc trưng t
rong nội dung truyện kể, … Những yếu
tố trên đây đều ít nhiều liên quan đến hình tượng người kể chuyện trong các
tác phẩm. Tuy nhiên hầu như chưa có công trình nào đi sâu vào khảo sát đặc
điểm cũng như nghệ thuật xây dựng loại hình tượng này trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp. Những sự đề cập nếu có đều mang tính nhắc gợi
nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu một vấn đề nghệ thuật khác trong sáng tác
của nhà văn. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ vận dụng một số kiến

ngày nhà văn càng chinh phục trái tim mọi người. Truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp khuấy động trái tim độc giả về nhiều phương diện, đời sống, suy tư,
văn học nghệ thuật, triết lý, thân phận con người. Từ một thế giới văn chương
ổn định, mang nhiều tính chất hồn nhiên, lạc quan, chúng ta bước vào một thế
giới bất ổn của đời sống thật, hằng ngày, đau khổ và của những day dứt bất
tận. Nguyễn Huy Thiệp cũng đã có lần trần tình về quan niệm lựa chọn đề tài
của mình: “Không khí dung tục suy đồi “đương thời” cũng chính là không khí
sống, không khí sáng tác – mặc nhiên là thế - bởi vậy nếu từ chối đối th
oại
nghĩa là anh tự làm cho mình khó thở, tự giam cầm mình” [75, tr.246] và
“Thực tế ngày càng trở nên khắc nghiệt. Đừng tưởng rằng ở đấy không có trả
giá, không có đau đớn, không có gì
để viết. Nó là cả một bi hài kịch cuộc đời,
có khi là cả một bi hài kịch một thời” [75, tr.247]. Tuy viết nhiều về những sự
thật trái ngang, tàn khốc của hiện thực, nhưng những trang viết của nhà văn
vẫn thấm đẫm chất nhân văn và lòng yêu thương con người. “Nhịp mạnh
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là tình yêu. Tình yêu con người, tình
yêu loài người là tinh thần bao trùm các tác phẩm của anh” (Đỗ Đức Hiểu)
[64, tr.479]. Cho đến nay, “gi
a tài” truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chỉ
khoảng hơn 40 truyện, nhưng chỉ cần đọc bấy nhiêu truyện ngắn của ông,
người đọc cũng đã rất ngạc nhiên trước sự phong phú của vốn sống, sự lịch
lãm của bản lĩnh, sự sắc sảo của óc quan sát, sự sâu sắc của trí tuệ, sự đằm
thắm của tình người, sự đa dạng trong bút pháp của nhà văn. Chỉ bấy nhiêu
truyện ngắn, anh đã mang đến cho văn học đương t
hời một diện mạo mới: từ
cách chọn đề tài, cách xây dựng nhân vật, cách dựng truyện, lối hành văn…

ít nhiều đề cập đến những đặc điểm
tiêu biểu về người kể chuyện trong các
tác phẩm này.
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào khi nhận xét về người kể chuyện trong
truyện ngắn Tướng về hưu đã viết: “Cái nhìn dân chủ hóa của người kể
chuyện, ở đây chính là chỗ: tin rằng mình không phải mách nước cho ai, lên
lớp cho ai, thậm chí, ở nhiều chỗ, đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc” [14,

tr.87]. Như vậy, có thể thấy, ngay từ tác phẩm đầu tay của mình, Nguyễn Huy
Thiệp đã có ý thức xây dựng một hình tượng người kể chuyện bình đẳng với
các nhân vật khác trong tác phẩm và cả với người đọc. Còn tác giả Đào Duy
Hiệp khi đọc tác phẩm Một thoáng Xuân Hương đã rút ra một số đặc điểm
về điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện trong chùm truyện ngắn này. Ở
truyện thứ nhất, “người kể chuyện tuy ở ngôi thứ ba, nhưng do từ vựng của
nhân vật nên tuy xưng “tôi” mà người đọc như lại thấy chính Tổng Cóc đang
kể ra những suy nghĩ, những độc thoại, cách ứng xử… của ông ta. Người kể
chuyện do đó mất đi vai trò của “ông biết tuốt”. Lời người kể chuyện đã
ít
(chủ yếu là tả các hành động của Tổng Cóc đứng lên, ngồi xuống, quát hỏi Lý
Cờ…), lại rất khó tách bạch cho ra giọng riêng” [64, tr.77]. Ở truyện thứ hai,
“điểm nhì
n chủ yếu trong truyện này là từ Ấm Huy. Vẫn là người thuật truyện
ở ngôi thứ ba, nhưng thường xuyên di chuyển sang Ấm Huy” [64, tr.81]. Còn
ở truyện thứ ba, người kể chuyện ngôi thứ ba thường xuyên dựa vào điểm
nhìn của nhân vật thi sĩ đóng vai Chiêu Hổ để trần thuật. Theo Đào Duy Hiệp,
Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng các cách thức kể chuyện như trên để lột tả
chân dung của Hồ Xuân Hương một cách đặc sắc: “Xuyên suốt cả ba truyện

dân gian (như tiểu thuyết kiểu Tam quốc chí chẳng hạn). Song ở Chương có
một nghịch lý phản cổ tích. Anh đầy ắp những huyền thoại mê tín và định
kiến, anh sống theo nhịp của mùa màng hội hè lễ tiết và nghi thức cổ xưa, bên
những con người cổ sơ với bàn chân giao chỉ, với thế đứng “né chân chèo”,
với bao dáng vẻ và lối nói đã tồn tại ngàn đời; song ở Chương quả đã xuất
hiện một c
ái “tôi” không đơn giản do lối xưng hô của câu chuyện, nó chính là
một loại “khe hở” khác, tràn ra từ những giấc mơ của anh” [14, tr.91].
Nhưng nhận xét vừa nêu của các nhà nghiên cứu xuất hiện trong giai đoạn
đầu, khi Nguyễn Huy Thiệp vừa cho “trình làng” những truyện ngắn đầu tiên
của mình trên văn đàn. Những ý kiến trên tuy xuất hiện rời rạc và chỉ nhằm
phân tích những hình tượng người kể chuyện nhất định t
rong một số truyện
tiêu biểu của nhà văn, song chúng cũng đã bước đầu cung cấp cho chúng ta
một cách nhìn khái quát về một số đặc điểm của người kể chuyện trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Càng về sau, các nhà nghiên cứu lại càng cố gắng đi vào những nét
khái quát của loại hình tượng này t
heo cách nhìn hệ thống thông qua việc
khảo sát hàng loạt các truyện ngắn của nhà văn. Tác giả Châu Minh Hùng
trong bài viết Cuộc tìm kiếm hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại
qua cấu trúc truyện của Nguyễn Huy Thiệp đã nhìn nhận: “Đọc truyện
Nguyễn Huy Thiệp, người đọc phải lao vào một cuộc chơi mà ở đó tất cả đều
ở trong quan hệ bình đẳng, dân chủ”, trong đó, “Nguyễn Huy Thiệp với tư
cách là một nhà văn đã hoàn toàn mất thực quyền trong tác phẩm. Ông ta chỉ
có quyền tổ chức tác phẩm mà không có quyền lấy phát ngôn của mình định
giá cho các phát ngôn khác. Thiệp không trân trọng,

nghĩa, vô hồn. “Thế giới vô hồn” là câu chuyện xuyên suốt toàn bộ sáng tác
của Phạm Thị Hoài. “Cuộc đời vô nghĩa” là tứ truyện chi phối mạch vận
động của câu chữ, hình ảnh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [36]. Còn
Cao Kim Lan, tác giả của bài viết Lịch sử trong t
ruyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp Hậu hiện đại, thì nhận xét: “Có một
thao tác dễ nhận diện trong truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp là các biến
cố trong cuộc đời của nhân vật thường được tác giả kể bằng một giả thuyết
thiếu chắc chắn nhất (…) Như vậy, tác giả đã không cho người đọc có cơ hội
chìm đắm vào những diễn biến xảy ra trong truyện. Cảm giác bất khả tín
buộc độc giả phải tiếp cận với văn bản một cách tỉnh táo bằng tri thức tích

cực thay vì cảm xúc thụ động” [45]. Thực chất, ở đây, Cao Kim Lan đã ít
nhiều đề cập tới kiểu người kể chuyện không đáng tin cậy trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, một kiểu hình tượng được xem
là sáng tạo đặc sắc của
nhà văn trong thời kì đổi mới văn học. Với cố gắng đúc rút những đặc điểm
cơ bản nhất của nghệ thuật kể chuyện ở Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên cứu
Bùi Việt Thắng đã cho rằng: “Thật ra nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Huy
Thiệp gần với lối viết sử (n
gắn gọn, chính xác, nhiều thông tin có tính liệt kê)
và đặc biệt sử dụng sáng tạo lối văn truyền kỳ (phối hợp cà văn xuôi - biền
văn – thơ tỉ lệ thơ trong truyện Nguyễn Huy Thiệp là rất đậm đặc) (…)
Nguyễn Huy Thiệp thích kể từ ngôi thứ nhất và đa số truyện hay đều được kể
từ ngôi này” [19, tr.777]. Và “nhân vật Tôi – người kể chuyện khá đa dạng:
là một công chức có cuộc sống trưởng giả no đủ (Chảy đi sông ơi), một kĩ sư
an phận, có phần nhu nhược (Tướng về hưu), hoặc là người tự do, không
nghề nghiệp (Con gái thủy thần), là nhà văn (
Tội ác và trừng phạt), một học
sinh tốt nghiệp phổ thông (Những người thợ xẻ)… Do người kể chuyện ở ngôi

thuật xây dựng hình tượng này của thời kì văn học đổi mới sau kháng chiến
chống Mỹ nói
chung và trên tiến trình phát triển của thể loại văn xuôi tự sự
trong nền văn học dân tộc.
4.2 Phương pháp phân tích
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng một số dẫn
chứng trích ra từ các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp để minh họa cho
những nhận xét, lập luận của mình. Do đó, trong suốt quá trình thực hiện,
chúng tôi luôn vận dụng phương pháp phân tích để làm rõ các vấn đề được
nêu ra ở các chương.
4.3 Phương pháp thống kê
Khi khảo sát các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi áp
dụng phương pháp thống kê để phân loại các hình thức ngôi kể và điểm nhìn
làm
cơ sở cho việc phân tích các đặc điểm của người kể chuyện ở các tác
phẩm.
5. Đóng góp của luận văn
Người kể chuyện là một phương diện nghệ thuật quan trọng,
không thể bỏ qua khi tìm hiểu tác phẩm văn xuôi. Hơn nữa, việc khám phá
những đặc điểm của người kể chuyện sẽ giúp chúng ta nhận diện được n
hiều
phương diện liên quan khác trong nghệ thuật tự sự của truyện kể. Khi thực
hiện luận văn này, chúng tôi không có tham vọng chỉ ra được tất cả những đặc
điểm của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, mà chỉ hy
vọng mang đến một cái nhìn toàn vẹn, chi tiết hơn về loại hình tượng này
trong các truyện kể của nhà văn. Qua đó, thấy được vai trò quan trọng của
nhân tố này trong việc định hướng cách thức tổ chức trần thuật trong tác


Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ

1.1 Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
1.1.1 Vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Suốt một thời gian dài, khi nghiên cứu tác phẩm tự sự, các lý thuyết
văn học chỉ chú trọng đến việc khảo sát thế giới nghệ thuật được nhà văn xây
dựng bên trong đó. Các phương diện khác có liên quan đến “cuộc sống” của
tác phẩm văn học như tác giả, người đọc thì ít được chú ý và xem
trọng. Đến
khoảng thế kỷ thứ XIX – đầu thế kỷ XX, các nhà lý luận phương Tây đã chú
ý nhiều hơn đến việc khảo sát hai nhân tố người đọc và tác giả trong đời sống
văn học. Điều này đã làm thay đổi nhận thức trong việc cảm thụ văn học. Từ
đây, tiếp nhận văn học là một quá trình tương tác giữa ba thành tố cơ bản là
tác giả - tác phẩm – người đọc.
Song đến l
úc đó, vai trò của người kể chuyện vẫn chưa được nhìn nhận
một cách thỏa đáng trong quá trình vận động của đời sống tác phẩm văn học.
Dù nhân tố này có mối liên hệ mật thiết đối với tác giả thực tế, tức là nhà văn,

Còn theo nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì người kể chuyện có vai trò
như một “kẻ mang thông điệp” chuyển tải những thông điệp từ người phát
ngôn đến người nhận: “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng được
chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên
(
speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ
quan ra mệnh lệnh, người kể chuyện trong tiểu thuyết, hay các đối tác ký vào
hợp đồng hợp tác kinh doanh…Những kẻ mang thông điệp có thể có thật hoặc
hư cấu” [48, tr.178]. Với một quan điểm rộng dựa trên nền của lý thuyết hội
thoại, tác giả của Văn chương như là quá trình dụng điển đã xác định được
vai trò quan trọng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự: cầu nối trung
gian giữa tác giả, t
ác phẩm và người đọc. Thêm vào đó ông còn nhấn mạnh
“chính đặc điểm và mối quan hệ giữa thông điệp và kẻ mang thông điệp là
cái quyết định tính chất của văn bản”[48, tr.178] và “trong truyện, thông điệp
mang tính chất khái quát, và kẻ mang thông điệp là những nhân vật hư cấu”
[48, tr.180]. Quan điểm này thống nhất với các tác giả của Từ điển thuật ngữ
văn học ở trên.
Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người
kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần t
huật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi
được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và
thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy
ra” [3, tr.360].Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai
trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự,
đồng thời nhấn mạn
h vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này. Đây

cấu cấu trúc của văn bản tự sự.
+ Người kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và
người đọc.
Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người kể chuyện của nó.
Không phải lúc nào người đọc cũng được thông báo về số phận riêng tư, diện
mạo hoặc mối quan hệ qua lại của người kể chuyện với các n
hân vật, hoặc vì
đâu, trong tình huống nào mà tiến hành kể chuyện. Nhiều khi người kể
chuyện tỏ ra khách quan không để lộ mối thiện cảm, ác cảm hay thái độ suy
nghĩ của mình. Nhưng bao giờ người đọc cũng cảm thấy được linh hồn của
người kể chuyện một cách rõ rệt, gần gũi. Người đọc nhận ra hì
nh tượng
người kể chuyện qua cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí
tuệ và chất tình cảm của anh ta.
Người kể chuyện không phải là một phương diện thuần túy thuộc về
hình thức văn học mà là hiện thân của một hình tượng đặc biệt, gắn liền với tư
tưởng, thái độ của tác giả về hiện thực, về thế giới và con người.Tuy nhiên,
tác giả và hình tượng người kể chuyện là
hai thực thể độc lập. Một bên là chủ
thể sáng tạo, một bên là hình tượng nghệ thuật. Người kể chuyện mang trong
mình nó cả nhân vật và người kể.
Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của
tác giả trong tác phẩm. Song quan điểm tác giả chỉ có thể được thể hiện qua
điểm nhìn, tầm nhận thức của người kể chuyện như một hình tượng ít nhiều
tồn tại độc lập. Người kể chuyện cũng có thể có tính cách như nội dung của
hình tượng. Khác với hình tượng nhân vật khác, tính cách của người kể
chuyện bộc lộ không chỉ qua việc trực tiếp tham gia vào hành động trong tác

– được sáng tạo nên”, là sự thống nhất thuộc về tác giả với cái khách quan
ngoài tác giả để tạo nên cái “chúng ta” chung.
Ngay cả trong những tác phẩm có tính tự truyện thì giữa người kể
chuyện với tác giả vẫn có những nét khác nhau. Mặc dù tác phẩm tự truyện
thường lấy chính cuộc đời tác giả làm chất liệu sáng tác nhưng rõ ràng thế
giới tồn tại của người kể chuyện và thế giới tồn tại của nhân vật được kể lại là
hoàn toàn khác nhau – khác nhau về thời gian, về không gian, về cảm xúc, tư
tưởng. Người kể chuyện chỉ có thể ý thức lại được thế giới kia chứ không thể
thâm
nhập vào thế giới kia được. Những hành động, tâm trạng, cảm giác mà
người kể chuyện kể lại trong tác phẩm tự truyện có thể là của nhà văn nhưng
đó là những hành động, tâm trạng đã xảy ra với nhà văn trong quá khứ chứ
không phải là thời khắc hiện tại bây giờ. Thời gian trôi qua
dù ít, dù nhiều
cũng đã làm cho mọi chuyện không còn được kể nguyên như cũ trong tác
phẩm tự truyện.
Tương quan giữa cái chủ quan và cái khách quan trong người kể
chuyện liên quan đến vấn đề tạo khoảng cách giữa tác giả và thế giới được
miêu tả trong tác phẩm tự sự. Tính khách quan của cái được miêu tả không
loại trừ tí
nh tích cực chủ quan của chủ thể sáng tạo. Việc tạo khoảng cách
thực chất chỉ ngụy trang cho quan điểm của tác giả. Trên thực tế, việc tạo
khoảng cách giữa tác giả và thế giới được miêu tả lại có thể làm tăng thêm sự
chủ động của tác giả trong việc tổ chức tác phẩm.
Hình thức tạo khoảng cách giữa tác giả và mạch trần thuật qua người kể
chuyện đặc biệt qua
n trọng với một tác phẩm tự sự. Chính nhờ có hình thức
này mà tác giả có thể hiện hình tượng trong tác phẩm mà vẫn đảm bảo khoảng
cách với thế giới được miêu tả, đồng thời vừa gián cách vừa hướng đạo được
cho người đọc. Tạo khoảng cách như vậy thực chất lại có thể rút ngắn khoảng

hình thành nên các dạng cốt truyện khác nhau: cốt truyện tuyến tính, cốt
truyện tâm lí, cốt truyện “truyện lồng truyện”…. Chức năng tổ chức tác phẩm
của người kể chuyện còn được t
hể hiện ở việc kết cấu văn bản nghệ thuật. Đó
có thể là việc sắp xếp bố cục của trần thuật, việc tạo nên độ lệch giữa phạm vi
đầu cuối của trần thuật so với cốt truyện để tạo cho trần thuật những khả năng
biểu hiện. Đó cũng có thể là việc lựa chọn, kết hợp các thành phần trần thuật.
Hoặc là việc tổ chức điểm nhìn trần thuật…
Tóm lại, người kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc tổ chức kết cấu
tác phẩm. Chính Timofiev cũng khẳng định: “Hình tượng này có tầm quan
trọng hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các
biến cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá

nhân người kể chuyện” [84, tr.44].
Là người đại diện phát ngôn, thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả
trong tác phẩm, người kể chuyện đồng thời đóng vai trò trung giới giữa người
đọc với thế giới nghệ thuật hình tượng và tác giả. Người kể chuyện cung cấp
cho người đọc những dấu hiệu, chỉ dẫn để thâm
nhập sâu vào trong đời sống
của các nhân vật. Những dấu hiệu ấy có khi rõ nét, chi tiết, song cũng có lúc
rất cô đọng, ẩn chứa nhiều tầng bậc ý nghĩa. Các tầng bậc kể chuyện càng đa
dạng, phức tạp càng kích thích được khả năng đồng sáng tạo, trí tưởng tượng
phong phú ở độc giả. Người kể chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm,

chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về
cuộc đời. Những chiêm nghiệm, suy tư ấy có căn cứ từ trong văn bản tự sự,
trong thế giới hình tượng nhà văn xây dựng trong sáng tác của mình. Bằng

cơ bản: điểm nhìn nghệ thuật, ngôi kể và lời kể.
a) Điểm nhìn nghệ thuật
Điểm
nhìn nghệ thuật (điểm nhìn) là “vị trí từ đó người trần thuật nhìn
ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm” [25, tr.112]. Điểm nhìn là vấn đề của
chính nghệ thuật kể chuyện, nó không chia sẻ với thơ ca hay văn học kịch.
Việc tổ chức kết cấu tác phẩm văn học phụ th
uộc vào yếu tố quan trọng này.
Chính điểm nhìn cho phép người kể chuyện soi sáng toàn bộ diễn biến câu
chuyện, quan hệ các nhân vật, trình bày nội dung trong những phối cảnh được
xem là hợp lý nhất. Có thể nói, điểm nhìn chính là nơi khởi nguồn cho việc
xây dựng cấu trúc nghệ thuật trong tác phẩm tự sự. Nó xác lập “điểm rơi” của
cái nhìn của chủ thể kể chuyện vào đối tượng trần thuật, vào thế giới khách

thể hư cấu được tái hiện trong sáng tác. Trong trường hợp này, hệ thống các
chi tiết, sự phân bố và kết nối thưa dày của các sự kiện, sự thay thế loại chi
tiết này bằng loại chi tiết khác trở thành biểu hiện của điểm nhìn nghệ thuật.
Đến lượt mình, điểm nhìn nghệ thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ
thuật, ngôi kể, cách xưng gọi sự vật, cách dùng từ ngữ, kiểu câu…Nó cung
cấp một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật của tác
phẩm, nhận ra những đặc điểm phong cách, quan niệm về nghệ thuật và nhân
sinh của nhà văn. Liên quan đến vấn đề này, nhà nghiên cứu Huỳnh Như
Phương đã có một nhận xét xác đáng: “Sự trần thuật câu chuyện bao giờ cũng
được tiến hành từ một điểm nhìn nào đó. Kết cấu văn bản có liên quan mật
thiết đến điểm nhìn đó, nó liên kết ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ
trực tiếp của các nhân vật trong một mối thống nhất hỗ tương. Miêu tả mối
quan hệ hỗ tương đó sẽ góp phần làm sáng tỏ kết cấu ngôn từ của sự trần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status