Người kể chuyện trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

HỒ THỊ DUNG

NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

HỒ THỊ DUNG

NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành
Mã số

: Lý luận văn học
: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Đức Phương

Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Học viên

Hồ Thị Dung


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Mở đầu

1

1. Lý do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề

2

3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu

6

4. Phương pháp nghiên cứu

7

1.2.1. Hành trình sáng tác

14

1.2.2. Quan niệm nghệ thuật

23

Chương 2: Ngôi kể và điểm nhìn của người kể chuyện trong

30

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
2.1. Ngôi kể

30

2.1.1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất

30

2.1.2. Người kể chuyện ngôi thứ ba

38

2.2. Điểm nhìn trần thuật

40

2.2.1. Điểm nhìn bên ngoài


63

3.1.1.3. Chọn lọc chi tiết đặc sắc

69

3.1.2. Miêu tả

76

3.1.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật

76

3.1.2.2. Nghệ thuật miêu tả hành động

81

3.1.3. Kể chuyện

83

3.1.3.1. Kể sự kiện, biến cố

83

3.1.3.2. Kể tình huống

93


106

3.2.2.4. Giọng điệu trong trẻo, hồn hậu

110

Kết luận

112

Tài liệu tham khảo

114


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng đất tận cùng Tổ quốc. Chị sinh
năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia đình
nông dân. Sau hơn mười năm cầm bút, chị đã trở thành một hiện tượng độc đáo
khiến bạn đọc trong nước và ngoài nước quan tâm. Người con đất Mũi, người
con gái miền Tây xuất thân từ nông dân bằng tài năng của mình đã góp phần làm
sống động nền văn học đương đại. Với Nguyễn Ngọc Tư "viết văn là một lựa
chọn khó, đầy nhọc nhằn, nặng nề, dằn vặt". Nhưng với tài năng thiên bẩm, với
đam mê nghiệp văn, Nguyễn Ngọc Tư đã gặt hái được những thành công liên
tiếp. Thành công khởi nghiệp của Nguyễn Ngọc Tư là tác phẩm Ngọn đèn
không tắt. Tác phẩm đầu tay đoạt giải 3 báo chí trong năm 1997 đã chính thức

nó dẫn dắt các biến cố, sự kiện tham gia vào sự phát triển sinh động của các phương
diện đời sống tạo thành chuỗi các tình tiết của tác phẩm.
Tác phẩm tự sự miêu tả các sự kiện, hành động trong đời sống nhân vật
diễn ra trong không gian và thời gian. Qúa trình tiến hành các sự kiện, các hành vi
nhân vật tức là sự vận động trong không gian - thời gian của cái được miêu tả gọi
là cốt truyện.
Trong tác phẩm tự sự người kể chuyện có một vai trò hết sức quan trọng. Các
sự kiện, hành vi trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng được kể lại thông qua một người
kể chuyện nào đó. Đúng như Arixtôt trong Nghệ thuật thi ca có viết: "Thế giới tồn tại
của tác phẩm tự sự là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật" Người kể chuyện
sẽ kể lại các sự kiện và con người như là những gì xảy ra bên ngoài mình. Tác phẩm
tự sự nào cũng luôn có hình tượng người kể chuyện để phân tích, nghiên cứu bình
luận hoặc làm sáng tỏ mối quan hệ của các nhân vật trong truyện. Đặc biệt là lời kể
của người kể chuyện luôn giàu tính tạo hình, giàu sức biểu cảm, gợi cái được kể thậm
chí cả bản thân người kể nữa. Đặc biệt thi pháp học hiện đại nhấn mạnh phương diện
hình thức của tác phẩm. Vì vậy nghệ thuật tự sự rất quan trọng trong tác phẩm tự sự.
Việc tìm hiểu người kể chuyện trong truyện ngắn của một nhà văn trẻ như Nguyễn
Ngoc Tư sẽ cho chúng ta thấy được sự đóng góp của chị trong sự vận động chung của
truyện ngắn Việt Nam đương đại. Qua đó cũng cho người đọc một cái nhìn khái quát
về những chuyển biến mạnh mẽ cả về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện của
thể loại truyện ngắn trong nền văn học Việt Nam hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề người kể chuyện trong văn xuôi
Trong lý luận văn xuôi hiện đại, phạm trù người kể chuyện trở thành một
trong số những vấn đề trọng tâm và được các nhà nghiên cứu tìm cách lí giải, phân
tích rất nhiều. Từ đầu thế kỉ XX, vấn đề người kể chuyện đã được các nhà hình thức
chủ nghĩa Nga như A. Veksler, I. Gruzdev, V. Shklovski, B. Eikhenbaum và nhóm
các nhà nghiên cứu Bắc Âu viết bằng tiếng Đức như W. Dibelius, K. Friedemann, K.
Forstreuter đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, phải qua công trình của những nhà nghiên
cứu thế hệ sau, những người đặt nền móng cho trần thuật học như P. Lubbock,

nhận được nhiều sự yêu mến và kì vọng từ độc giả. Vì vậy đã có không ít những bài
viết, những công trình nghiên cứu, khóa luận về nhà văn nữ này. Có thể nói , sáng
tác của Nguyễn Ngọc Tư đã dành được sự ưu ái, quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu phê bình cũng như độc giả trên khắp mọi miền tổ quốc và cả nước ngoài. Nhiều
bài viết được đăng trên các báo uy tín như: Tuổi trẻ, Thanh niên, Văn nghệ, Tạp chí
nghiên cứu văn học, Văn nghệ đồng bằng Sông Cửu Long và trên những trang web
báo mạng… Sau đây, chúng tôi chỉ dẫn ra một số bài nhận xét tiêu biểu như:
Nguyễn Quang Sáng với lời tựa tập Ngọn đèn không tắt, Huỳnh Kim với “ Gặp
Nguyễn Ngọc Tư”; Huỳnh Công Tín với “Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam Bộ”,
Trần Phỏng Diều với “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”,
nhiều bài báo của Trần Hữu Dũng trên trang web viet – studies.org…


4

Nhìn chung, các tác giả này đều ít nhiều nghiên cứu và chỉ ra những giá trị
nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
Ngay từ đầu, Nguyễn Ngọc Tư đã thu hút được công chúng với một phong
cách mới lạ và độc đáo đậm dấu ấn Nam Bộ. Khi tập Ngọn đèn không tắt đến với
công chúng, "Nhiều bài báo, nhiều tiếng khen trong Nam ngoài Bắc phát hiện về
Nguyễn Ngọc Tư, một hiệu ứng đọc ít thấy từ lâu" (Dạ Ngân - Nguyễn Ngọc Tư
điềm đạm mà thấu đáo). Nhà văn Dạ Ngân trong bài Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân:
Nguyễn Ngọc Tư điềm đạm mà thấu đáo đã nhận xét về Nguyễn Ngọc Tư: "Nguyễn
Ngọc Tư giỏi ở chỗ cái tưởng không có gì mà Tư cũng viết được, lại viết rất có
duyên, rất nhân hậu. Đọc cái nào xong cũng phải nhoẻn cười sung sướng, sung
sướng mà lại ứa nước mắt, thấy nước mắt của mình cũng trong trẻo và đẹp đẽ, ấy
là cái đáng giá mà Tư cho người đọc hôm nay". Nhà văn Huỳnh Kim cũng dành
không ít lời khen cho văn chương Nguyễn Ngọc Tư "...đọc tập truyện Ngọn đèn
không tắt thật là thích vì văn chương sâu sắc mà dung dị, tinh tế mà lại tràn trề
tánh nết của người dân Nam Bộ trong khi tác giả mới hai mươi bốn tuổi. Với tôi

mà cha ông ta đã dày công khai phá...Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, những
con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứa đựng bên trong cả một tâm hồn vừa
nhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế". Trần Phỏng Diều trong bài Thị
hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. "Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của
vùng đất Nam bộ, tuổi thơ của chị đã gắn liền với những dòng sông uốn khúc, rừng
đước bạt ngàn, đồng lúa mênh mông... Do đó có thể nói, thị hiếu thẩm mỹ trong
Nguyễn Ngọc Tư cũng chính là hình tượng người nghệ sỹ, hình tượng người nông
dân và hình tượng con sông đưa mình uốn khúc, chở nặng tình người" [4, tr. 94].
Tuy nhiên, Cánh đồng bất tận vẫn là truyện ngắn đánh dấu sự thành công
vượt trội của Nguyễn Ngọc Tư và số bài viết phê bình dành cho tác phẩm này vẫn
nhiều hơn cả. Dư luận nhiều chiều khen có, chê có nhưng nhìn chung là tác phẩm
đã được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng cao.
Nguyễn Hòa - nhận xét: "Trong bối cảnh văn chương năm 2015 truyện ngắn
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư trở thành một điểm sáng không cần tới bất
cứ sự lăng xê nào".
Trong cuộc trao đổi cùng các nhà văn Trung Trung Đỉnh và Chu Lai, nhà thơ
Hữu Thỉnh nhấn mạnh "Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá rất ngoạn mục, tự vượt
lên chính mình và tạo nên bất ngờ thú vị cho giới nhà văn... Cánh đồng bất tận viết
về những con người Nam Bộ với tính cách đặc thù: Chân thực, chất phác, hồn
nhiên và bản năng... Hai nhân vật đứa trẻ trong tác phẩm là nạn nhân lớn lên tự
nhiên như đàn vịt, thiếu thốn sự quan tâm và những cử chỉ yêu mến của người thân.
Điều đó đã lay động trái tim của hàng nghìn độc giả". Hữu Thỉnh đặc biệt quan tâm
và đánh giá cao "Không khí của tác phẩm: cuộc sống Nam Bộ, hơi thở Nam Bộ,
nhân vật Nam Bộ, ngôn ngữ Nam Bộ thấm đẫm, nồng nàn trong "Cánh đồng" Đi
sâu vào nội dung của tác phẩm Cánh đồng bất tận tác giả Hữu Thỉnh viết: "Thông
điệp của Tư ở đây là con người sống phải biết khoan dung và tha thứ. Chỉ có lấy ân
báo oán thì con người mới có thể nguôi ngoai được lòng thù hận nỗi đau, nhờ đó
người sẽ người hơn, sẽ lớn lên". Hữu Thỉnh cũng đánh giá cao nghệ thuật thể hiện
của Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận. Theo Hữu Thỉnh, Nguyễn Ngọc Tư


nhà văn một cách khách quan, khoa học và toàn diện hơn.
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ coi người kể chuyện là một đơn vị nghệ thuật để khảo sát,
không phải là một yếu tố nội dung. Do đó, luận văn này sẽ tiến hành tìm hiểu bốn
bình diện cụ thể sau: ngôi kể, điểm nhìn, phương thức kể, ngôn ngữ, giọng điệu.
Phân tích một cách toàn diện người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn
Ngoc Tư cũng chính là một cách để khẳng định tài năng không thể thay thế được
của nhà văn. Đồng thời, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần vào quá trình gạn đục


7

khơi trong của nền lí luận văn học Việt Nam khi mà văn học Việt Nam hiện đại và
đặc biệt là văn học Việt Nam đương đại đang được đặt ở giao lộ của sự đan cài
những giá trị khác nhau.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống truyện ngắn của nhà văn. Và cũng
bởi những giới hạn đó, chúng tôi sẽ tiến hành phương pháp nghiên cứu trường hợp
thông qua việc khảo sát hai tập truyện tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư làm đơn vị
nghiên cứu chính. Cụ thể như sau:
Các tập truyện ngắn:
* Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 2005)
* Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn, Nxb Thời đại, 2010).
Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thêm một số tập truyện ngắn khác của
Nguyễn Ngọc Tư.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp
tiếp cận thi pháp học, phương pháp loại hình, phương pháp phân tích, tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, lí thuyết tự sự học.
Ngoài ra còn có các thao tác khác như liệt kê, miêu tả…
5. Đóng góp của luận văn

nghệ thuật ngôn từ.
Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu giới thiệu và dịch thuật tự sự học, việc xác
định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm tương đương đòi hỏi những cố gắng nhất định.
Trong tình hình mà một số thuật ngữ quan trọng như tự sự, rồi tự sự học cũng như
trần thuật, văn bản, diễn ngôn, thoại ngữ... mà hiện nay ta dùng đều là những từ
Hán Việt thì việc tham khảo các học giả Trung Quốc có lẽ cũng là một việc có ích.
Giáo sư Trần Đình Sử có nói: “Chúng ta cần xây dựng cho mình một hệ thống thuật
ngữ tiếng Việt về tự sự học”. Liên hệ đến Trung Quốc ông nói thêm: “ Ngay thuật
Narratology người Trung Quốc hiện nay vẫn có hai cách dịch. Tự sự học và Tự
thuật học (tự = kể, thuật = kể). Khái niệm “tự thuật học” dùng tương đồng với “tự
sự học”, nhưng trọng tâm có lúc có phần khác nhau. “Tự thuật học” nghiêng về
nghiên cứu phương diện hành vi kể, lời kể, còn “tự sự học” nghiên cứu cả hai mặt:
hành vi lời kể và cấu trúc sự kiện”.
Lại Nguyên Ân đề nghị cách gọi trần thuật học (tr.146, bài Về việc mở ra
môn trần thuật học trong nghành nghiên cứu văn học ở Việt Nam trong sách Tự sự
học, Nxb.ĐHSP). Ông viết: “Trần thuật học (narratologie, naratology) được đề
xuất cuối những năm 60 do việc xem xét lại học thuyết Chủ nghĩa cấu trúc từ quan
điểm lí thuyết giao tiếp về bản chất của nghệ thuật và các dạng thức tồn tại của nó.
Thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu lý luận văn học Việt Nam đã nhận thấy
tự sự học ngày càng chứng tỏ hữu dụng của nó đối với văn học nghệ thuật.
Trước hết các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nỗ lực dịch và giới thiệu những
vấn đề lý thuyết tự sự học ở các phương diện thuộc về lịch sử phát triển, các xu


9

hướng chung - riêng, các khái niệm của tự sự học đương đại,... có thể kể đến các
công trình dịch thuật như: Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc
dịch; cơ sở của ký hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch...
Tự sự học hiện đại cố gắng khu biệt narrative và naration như là khu biệt

chuyện đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ là yếu tố liên kết, dẫn dắt câu


10

chuyện, môi giới để bạn đọc tiếp cận với thế giới nghệ thuật mà còn có chức năng tổ
chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiểu các phương diện người kể
chuyện giúp người đọc tiếp cận được với những giá trị văn chương đích thực.
1.1.2. Người kể chuyện
Người kể chuyện (narrator) là một thuật ngữ công cụ của tự sự học, được
xem là khái niệm trung tâm nhất trong phân tích trần thuật. Tuy nhiên xung quanh
khái niệm này còn có rất nhiều quan điểm khác nhau. Khi tiếp cận về vấn đề người
kể chuyện, chúng tôi cho rằng người kể chuyện chính là chủ thể của những lời kể về
câu chuyện nào đó trong tác phẩm văn học. Chủ thể đó là một nhân vật đặc biệt do
nhà văn sáng tạo ra để dẫn dắt, gợi mở hay sắp đặt câu chuyện được kể. Người kể
chuyện có thể là đàn ông hoặc đàn bà, là con người của quá khứ, hiện tại hoặc
tương lai, nhưng là người kể lại câu chuyện trong tác phẩm bằng một chỗ đứng, một
điểm nhìn phù hợp với ý đồ sáng tạo của nhà văn. Đó là "kẻ được sáng tạo ra để
mang lời kể" [38, tr. 17]. Vì vậy trong tác phẩm tự sự "không thể có trần thuật thiếu
người kể chuyện. Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà
kể chuyện" (Todozov) [38; tr. 116]
Những quan niệm khác nhau trong giới nghiên cứu về người kể chuyện đưa
đến những cách phân loại khác nhau về hình tượng này. Có thể phân chia các dạng
thức người kể chuyện trên tiêu chí của điểm nhìn, dựa vào mối quan hệ của người
kể chuyện với câu chuyện, hay dựa vào quyền năng của người kể chuyện... chúng
tôi cho rằng dù được phân chia theo tiêu chí nào thì cái đích đạt tới cũng là chỉ ra
vai trò của người kể chuyện trong câu chuyện. Do đó người kể chuyện cũng có thể
khoác lên mình nhiều vai trò khác nhau trong mỗi câu chuyện. Và tùy thuộc vào ý
đồ sáng tạo của nhà văn mà người kể chuyện sẽ xuất hiện ở những mức độ khác
nhau trong tác phẩm. Người kể chuyện có thể can thiệp một cách trực tiếp vào văn

nhất, trực tiếp hoặc gián tiếp hướng đến người nghe, sẵn sàng bộc lộ thái độ thân
thiết với người đọc nếu cần. Người "xâm nhập vào câu chuyện để nói lên những
chú giải, là người có một giọng điệu đặc trưng". Người kể chuyện ẩn tàng,
không bày tỏ những đặc điểm công khai như trên. Người kể chuyện loại này
không hướng đến người nhận hay người nghe, có giọng điệu và phong cách ít
nhiều trung tính; không sẵn sàng bộc lộ dù rất cần thiết; không xâm nhập hay
can thiệp vào dòng chảy của câu chuyện, để cho câu chuyện vận động theo đúng
logic mà nó phải trải qua, không bình luận thêm, không định hướng độc giả.
Trần thuật hàm ẩn có thể dễ dàng nhận ra khi hành động được nhìn qua con mắt
của người quan sát từ bên trong.
Ứng với hai kiểu người kể chuyện trên, Genette đề xuất một cách phân loại
người kể chuyện dựa trên những tiêu chí khác. Vấn đề người kể chuyện được đặt
trong mối tương quan và mối quan hệ với tiêu cự, tiêu điểm, thức, giọng, tần suất.
Xuất phát từ giọng, tức là "ai kể?", G.Genette đưa ra bốn kiểu kể chuyện tương ứng
với bốn kiểu người kể chuyện. Cụ thể là, dựa vào việc xác định nơi truyện kể bắt
đầu, tác giả phân biệt thành hai loại người kể chuyện: người kể chuyện bên trong
(intradiegetic narrator) và người kể chuyện bên ngoài (extradiegetic narrator); dựa
vào mức độ "can dự" vào truyện của người kể chuyện, tác giả xác lập hai kiểu:
người kể chuyện dị sự (heterodiegetic narrator) và người kể chuyện đồng sự
(homodiegetic narrator), (tức là tác giả tập trung chủ yếu vào vấn đề người kể


12

chuyện ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba, hay chính xác hơn là xem xét người kể
chuyện ở việc có tham gia hoặc không tham gia vào câu chuyện). Như vậy, cả hai
nhà nghiên cứu kể trên (Manfred Jahn và Genette) đều nhìn người kể chuyện đơn
thuần ở phương diện ngôi kể và điểm nhìn.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng
người kể chuyện là "hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học,

phẩm văn học. Với cốt truyện, người kể chuyện có thể quyết định tốc độ của câu
chuyện, sự dãn nở của các chi tiết, tình tiết. Với nhân vật, anh ta trở thành một công
cụ giúp nhà văn định vị, đánh giá nhân vật. Trong lời kể, người kể chuyện tác động
đến thái độ kể, cách dẫn dắt câu chuyện. Trong mối quan hệ với độc giả, người kể
chuyện góp phần tạo biến cố bất ngờ hay tác động đến cảm xúc của người đọc đồng
thời cũng có khả năng đón trước tầm đón đợi của người tiếp nhận.
Với tất cả những đặc tính đã nêu trên, người kể chuyện thực sự là một
trong số những vấn đề phức tạp trong thi pháp học hiện đại, thách thức trí tuệ
của các nhà nghiên cứu, phê bình trên thế giới. Nhưng nếu có thể phân tích và dù


14

chỉ hiểu một phần nào vấn đề người kể chuyện này trong sự nghiệp của một nhà
văn nào đó thì đó thực sự sẽ là một bước quan trọng để tiến tới lý giải phong
cách nghệ thuật tác giả.
1.2. Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
1.2.1. Hành trình sáng tác
Nguyễn Ngọc Tư “là một người phụ nữ rất trẻ, dung dị, bình thường, nhưng
kiên cường và bản lĩnh.Tư sống gần ba má, anh chị. Từ thế hệ nội, ngoại, cả gia
đình của Tư đều là bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ. Chị và anh của Tư sinh ra
trong chiến khu trước hòa bình, còn Tư thì sinh ra ở Bạc Liêu (năm 1976, nhưng
không ai nhớ ngày nào, chỉ nhớ đêm ấy trời không trăng, tối mịt) rồi về sống ở Cà
Mau từ hồi bốn tuổi” [49].
Lúc nhỏ chị vừa học vừa làm việc nhà việc ruộng vườn. Sau chín năm học chị
phải rời trường vì ông ngoại qua đời. Cuộc sống vất vả, lam lũ nhưng Tư không tỏ ra
bi quan trước số phận. Chị sống giản dị, điềm tĩnh nhưng không kém phần hóm hỉnh
trong những câu chuyện thường ngày. Nguyễn Ngọc Tư không sống theo lối lễ nghi
cầu kì, phức tạp, chị sống bằng chính mình, không quan tâm mọi người nghĩ gì, bàn
luận gì về mình. Đối với chị mọi thứ không quá quan trọng để phải bận tâm, suy nghĩ

tâm trí chị một cách rõ nét nhất.
Trong đời thường Nguyễn Ngọc Tư có vẻ ngoan hiền, thích cuộc sống giản
đơn, nhưng lại có một nội tâm phức tạp và bí ẩn. Trong văn chương Nguyễn Ngọc
Tư thường ví truyện của mình như trái sầu riêng, nhiều người rất thích nhưng nhiều
người lại dị ứng.
Trong nghề viết văn Nguyễn Ngọc Tư tâm niệm rằng: "Chị không muốn màu
mè cũng không cố gắng cầu kì làm mới bởi đời chị và con người chị đã gắn với
ruộng đồng lam lũ... chị không muốn sống và viết vượt ra khỏi mảnh đất mà chị
hiểu sâu xa tường tận hơn cả so với bất kì vùng đất nào khác. Chị biết mình cần
phải tỉnh táo viết văn mà cứ đòi lên dốc mãi thì cũng khó mà làm gì có cái dốc nào
cao đến thế nên đôi khi cũng phải dừng lại, ngoảnh lại, đi xuống rồi mới đi lên...
Mỗi tác phẩm hay là một món quà tinh thần tặng cuộc sống"(Đọc Nguyễn Ngọc Tư
qua Cánh đồng bất tận). Nguyễn Ngọc Tư qua trang truyện của mình đã dệt nên
bức tranh cuộc sống mang đậm màu sắc Nam bộ. Một bức tranh giải dị, trong sáng,
ấm áp tình đời tình người cao cả.
Kín đáo và lặng lẽ nhưng không bị khuất mờ trong làng văn chương Việt
Nam là cách mà Nguyễn Ngọc Tư đến với nghề sáng tác văn chương. Nguyễn Ngọc
Tư xuất hiện trên văn đàn lần đầu tiên vào năm 2000 (với truyện ngắn Ngọn đèn
không tắt – giải nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II).
Tập truyện này cũng đem lại cho chị giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn
Việt Nam năm 2001 và được chọn in lại trong Tủ sách vàng của NXB Kim Đồng
năm 2003. Ngay sau đó lại là sự ra đời của các tập truyện Ông ngoại (2001), Giao
thừa (2003), Biển người mênh mông (2003).
Từ Ngọn đèn không tắt qua đến tập truyện Giao thừa, Nguyễn Ngọc Tư đã
bỏ bớt được tính chất học trò trong cách kể chuyện và ngay cả trong lối viết. Tư trở
nên già dặn hơn. Truyện kể cũng đơn giải thôi, nhưng mạch lạc hơn. Tập Giao thừa


16


- Nước chảy mây trôi (tập truyện và ký), NXB Văn Nghệ, 2004
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Văn hóa, 2005
- Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2005
- Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, 2005
- Ngày mai của những ngày mai, NXB Phụ Nữ, 2007
- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, NXB Trẻ, 2008
- Biển của mỗi người, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008
- Yêu người ngóng núi, NXB Trẻ, 2010
- Khói trời lộng lẫy, NXB Thời đại, 2010
Giải thưởng:
 Giải nhất, Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi hai mươi lần 2 năm 2000
với tập truyện Ngọn đèn không tắt
 Giải B, Hội nhà văn Việt Nam năm 2001, với tập truyện ngắn Ngọn đèn
không tắt
 Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ, Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội
VHNT Việt Nam năm 2000, tập truyện Ngọn đèn không tắt
 Một trong mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003 do Trung ương Đoàn trao tặng.
 Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2005
 Giải "Hiện tượng văn học năm 2006", với tác phẩm Cánh đồng bất tận
Ngoài ra, những truyện ngắn mới nhất của chị cũng thường xuyên được
đăng trên báo chí trong cả nước và được cập nhật liên tục trên trang web "Vietstudies" của GS. Trần Hữu Dũng. Với số lượng tác phẩm khá lớn này chứng tỏ
Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút có rất nhiều tiềm năng.


19

Để có được cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về Nguyễn Ngọc Tư ở
mảng truyện ngắn, trước tiên chúng ta cần đặt chị vào môi trường văn chương của
khu vực đồng bằng sông Cửu Long để hiểu thêm về tình hình sáng tác, cũng như
đặc điểm chung của văn chương khu vực Nam Bộ, từ đó tìm ra những nét tương

cao thượng và cái thấp hèn trong nội tâm mỗi nhân vật (tiêu biểu là Cánh đồng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status