Người kể chuyện trong truyện ngắn của nguyễn huy thiệp - Pdf 10


1
Người kể chuyện trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp

Bùi Thị Đức Thiện

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Lí luận văn học; Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lí Hoài Thu
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Khái lược về người kể chuyện và hành trình truyện ngắn của nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp. Nghiên cứu về người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Phân tích ngôn ngữ và giọng điệu người kể chuyện
trong truyện ngắn của tác giả Nguyễn Huy Thiệp.

Keywords. Lý luận văn học; Văn học Việt Nam; Truyện ngắn

Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những nhà văn tiêu biểu cho văn học Việt Nam
những năm sau đổi mới.
Nguyễn Huy Thiệp trải nghiệm ngòi bút của mình ở khá nhiều thể loại song thành
công hơn cả là sáng tác truyện ngắn.
“Nếu kể được xem là “thiên chức” của người viết văn xuôi thì Nguyễn Huy Thiệp
là nhà văn đã hoàn thành “thiên chức” đó trong truyện ngắn một cách xuất sắc”.
Việc ứng dụng nghiên cứu về người kể chuyện theo lí thuyết tự sự học ở Việt Nam
đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu và từng bước khẳng định hiệu quả
của hướng tiếp cận này. Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu về người kể
chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp với mong muốn có được cái nhìn cụ

dịp thống kê.
Trên cơ sở kế thừa thành tựu của những nghiên cứu trước đó, chúng tôi đi sâu vào
nghiên cứu các dạng thức người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
với mong muốn có cái nhìn tổng hợp trên những phương diện biểu hiện tiêu biểu, có
tính ổn định về người kể chuyện trong truyện ngắn của ông. Đồng thời thấy được
phong cách độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu cho luận văn là "người kể chuyện trong
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp".
- Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi tập trung khảo sát ở một số truyện ngắn tiêu biểu của ông trong cuốn "
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp " do Nhà xuất bản văn hóa Sài Gòn, xuất bản quý III
năm 2007.
- Mục đích nghiên cứu:
Lựa chọn đề tài về người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp,
chúng tôi mong muốn đem lại cái nhìn có tính khái quát, khoa học và khách quan về
hình tượng người kể chuyện trong hệ thống truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Đồng
qua đó góp phần khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo độc đáo cũng như những đóng
góp của ông trong truyện ngắn Việt Nam đương đại.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số biện pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp loại hình, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương pháp so sánh,
Phương pháp thống kê.
5. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo cấu trúc luận
văn bao gồm 03 chương:
- Chương 1. Khái lược về người kể chuyện và hành trình truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp


nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu. Đó cũng chính là nhữnng vấn đề mà luận văn chúng tôi có
đề cập đến khi khi tìm hiểu về người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
1.1.2.1 Ngôi kể - hình thức cơ bản của người kể chuyện
Có rất nhiều đề xuất khác nhau về hình thức cơ bản của người kể chuyện. Giới
nghiên cứu thường dựa trên ngôi phát ngôn khi phân loại người kể chuyện. Trên cơ sở
đó có người kể chuyện ở ngôi thứ và người kể chuyện ở ngôi thứ ba, một số trường
hợp đặc biệt xuất hiện dạng người kể chuyện ở ngôi thứ hai.
Các nhà nghiên cứu phương Tây khác tiêu biểu là G.Genette với xu hứng nghiên
cứu lớp ngôn từ của người trần thuật lại cho rằng có hai hình thức cơ bản của người kể
chuyện: người kể chuyện ngoại sự và người kể chuyện nội sự. Cũng theo G.Genette
người kể chuyện ngoại sự sử dụng hình thức kể là chủ đạo tương đương với ngôi thứ
ba trong kể chuyện. Còn người kể chuyện nội sự hiện diện sử dụng hình thức kể chủ
đạo là hình thức diễn ngôn với ngôi kể thứ nhất mà mang ấn tượng chủ quan rõ nét.

4
Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm tiếp cận của các nhà nghiên cứu tự sự học
chúng tôi lựa chọn khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ở ngôi kể với tư cách
là hình thức cơ bản của người kể chuyện.
1.1.2.2 Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn là một khái niệm đặc thù của trần thuật học trong thế kỉ XX và được rất
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Điểm nhìn cùng với người trần thuật là hai yếu tố cơ
bản tạo nên cái gọi là “trần thuật”. Khi xem xét về điểm nhìn trong văn bản trần thuật
chúng tôi cho rằng dù xem xét ở phương diện vật lý, tâm lý hay trường nhìn… thì
điểm nhìn cũng luôn luôn mang trong mình khuynh hướng nhận thức nhất định, khẳng
định tầm quan trọng của nó trong sáng tác văn học. Điểm nhìn đó có thể là điểm nhìn
của người trực tiếp kể chuyện cũng có thể là điểm nhìn của người kể chuyện được
khúc xạ bởi điểm nhìn của một nhân vật nào đó trong truyện. Đó cũng chính là quan
điểm tiếp cận của chúng tôi khi nghiên cứu về điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp.
Việc lựa chọn một điểm nhìn bao giờ cũng ghi nhận dấu ấn của người sáng tác và

cuộc sống: về ý nghĩa của cuộc sống, về cái chết, về tình yêu… Do đó các sáng tác
của ông thường giàu tính triết lý và chiêm nghiệm.
Nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết là người nông dân và
tiểu thị dân thành thị với đủ mọi lứa tuổi,“toàn những con người góc cạnh gân guốc.
Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không xây dựng theo xu hướng
phản diện hay chính diện. Họ là những con người tồn tại chân thực với tất cả sự phức
tạp của nó. Ở họ có xấu xa đốn mạt đan cài với những điều tốt đẹp, ranh giới giữa cái
thiện và cái ác rất mong manh trong mỗi con người.
Ở phương diện nghệ thuật, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ghi nhận nhiều
sáng tạo mang cá tính trong việc xây dựng tình huống. Các truyện ngắn của ông hầu
hết đều khai thác những tình huống trong đời sống thường nhật song khá đa dạng và
giàu kịch tính (Không có vua, Giọt máu, Sang sông, Huyền thoại phố phường…).
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp góp phần làm phong phú diện mạo cho truyện
ngắn hiện đại với các kiểu truyện ngắn: “giả lịch sử” (Vàng lửa, Kiếm Sắc, Phẩm
tiết…); truyện ngắn mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát);
truyện ngắn trong truyện ngắn (Chút thoáng Xuân Hương, Con gái thủy thần, Những
ngọn gió Hua Tát, Thương nhớ đồng quê); truyện ngắn mang dáng dấp phóng sự (Tội
ác và trừng phạt); truyện ngắn nhật ký (Mưa); truyện ngắn dòng chảy ý thức (Không
khóc ở Califocnia)…
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ghi nhận nhiều đóng góp trong nghệ thuật kể.
Đó là giọng điệu sắc lạnh khi nhìn thẳng vào sự thật, phơi bày cái xấu cái ác, những
mảng hiện thực u tối của cuộc đời được xen lẫn với giọng điệu trữ tình khi diễn tả
những trớ trêu của cuộc đời, của số phận con người. Và mỗi câu chuyện Nguyễn Huy
Thiệp mang tới cho người đọc đều ẩn chứa những chiêm nghiệm suy tư về con người
và cuộc đời.
Nguyễn Huy Thiệp tạo cho mình giọng điệu riêng trong lối kể chuyện. Đó là giọng
điệu sắc lạnh khi nhìn thẳng vào sự thật, phơi bày cái xấu cái ác, những mảng hiện
thực u tối của cuộc đời được xen lẫn với giọng điệu trữ tình khi diễn tả những trớ trêu
của cuộc đời, của số phận con người. Và mỗi câu chuyện Nguyễn Huy Thiệp mang tới
cho người đọc đều ẩn chứa những chiêm nghiệm suy tư về con người và cuộc đời.

sống hay là những trải nghiệm của riêng tôi.
Đứng ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” người kể chuyện có khi xuất hiện với tư cách là
hình tượng tác giả trong vai trò người kể chuyện: Kiếm sắc,Vàng lửa, Phẩm tiết, Mưa
nhã Nam, Trương Chi, Cún, Sống dễ lắm, Tội ác và trừng phạt, Chú Hoạt tôi…Người
kể chuyện với tư cách là tác giả thường xuất hiện ở đầu và cuối tác phẩm dẫn dắt
người đọc đến với câu chuyện của mình. Tuy nhiên phần nội dung của câu chuyện chủ
yếu được kể bằng người kể chuyện hàm ẩn. Người kể chuyện dạng này trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang tính dân chủ không đòi hỏi người đọc phải tin theo
những gì mình kể mà mang tính chất giới thiệu đến người đọc những thông tin để bạn
đọc tự lựa chọn hoặc mang thông tin ra để đối thoại với người đọc, không đưa ra phán
xét hay kết luận mang tính cá nhân cho nhân vật hay sự kiện được kể. Điều này đã tạo
nên gương mặt mới cho người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
khác với kiểu kể chuyện truyện thống ở ngôi thứ nhất vốn chịu sự chi phối mang tính
chủ quan của người kể chuyện. Vì vậy có thể nói người kể chuyện ngôi thứ nhất trong
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã có sự dịch chuyển từ người kể chuyện mang
tính độc thoại đến xu hướng của người kể chuyện đối thoại với bạn đọc. Đó là kiểu
hình tượng tác giả đồng hành cùng bạn đọc.
2.1.2 Người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba
Kể chuyện ở ngôi thứ ba tức người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện được kể hay
là người kể chuyện không có mặt trong câu chuyện. Kiểu người kể chuyện này xuất
hiện trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như: Không có vua, Những ngọn
gió Hua tát, Giọt máu, Thương cả cho đời bạc, Tâm hồn mẹ, Chút thoáng Xuân
Hương, Nguyễn Thị Lộ, Mưa, Huyền thoại phố phường, Muối của rừng, Sang sông…
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba
hiện diện với tư cách người đứng ngoài cuộc và trình bày lại sự việc không có bình
luận khiến cho câu chuyện có cảm giác như tự kể ra. Người kể chuyện giữ vai trò như
chiếc máy quay ghi lại mọi góc độ của sự việc cùng với lời nói hành động của nhân
vật. Với kiểu kể chuyện như vậy người kể chuyện không lấy vai trò của người kể

7

2.2 Điểm nhìn trần thuật
2.2.1 Người kể chuyện dựa vào điểm nhìn của nhân vật.
Người kể chuyện dựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể là kiểu người kể chuyện
nhìn và kể những thông tin tương đương với một nhân nhân vật nào đó trong câu
chuyện. Điều đó có nghĩa là người kể chuyện dùng điểm nhìn của nhân vật để quan sát
và kể lại sự việc. Người kể chuyện dựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể lại câu
chuyện xuất hiện khá phổ biến trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp mà người
kể chuyện là nhân vật có mặt trong câu chuyện được kể. Câu chuyện được kể lại theo
tri giác của nhân vật.
Kể chuyện dựa vào điểm nhìn của nhân vật không có nghĩa là người kể chuyện
phải là nhân vật trong câu chuyện trần thuật lại các sự kiện. Trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp ngay ở cả những truyện ngắn được kể bằng người kể chuyện ngôi

8
thứ ba cũng dựa vào điểm nhìn của nhân vật. Và lúc này điểm nhìn của người kể
chuyện trở thành “điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật”
Dựa vào điểm nhìn của nhân vật còn xuất hiện khi người kể chuyện di chuyển
điểm nhìn sang nhân vật trong truyện với mức độ đậm nhạt khác nhau trong tác phẩm.
Ở quan điểm này chúng tôi chú trọng xem xét điểm nhìn ở cấp độ thấp hơn văn bản.
Như nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa đã chỉ ra: “Ở cấp độ thấp hơn văn bản (đoạn
văn, hồi, cảnh v.v.), điểm nhìn nghệ thuật thể hiện ở từng câu hay phát ngôn hay từng
diễn ngôn: lời kể, lời thoại của nhân vật”. Dạng thức kể chuyện này tạo ra sự di
chuyển điểm nhìn trong cách kể chuyện
2.2.2 Người kể chuyện kể với điểm nhìn bên ngoài
Theo lý thuyết tự sự học, người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài tương ứng với
kiểu người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện được kể. Với điểm nhìn này người kể
chuyện chỉ tái hiện lại câu chuyện một cách khách quan các diễn biến bên ngoài của sự
việc mà không đi sâu vào khắc họa tâm lý nhân vật. Không có nhận xét hay bình luận,
người kể chuyện có chức năng như chiếc máy quay chỉ ghi lại lời nói, hành động của
thế giới nhân vật. Điểm nhìn của người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy

2.2.3 Sự di chuyển và đa dạng hóa điểm nhìn
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp sự di chuyển điểm nhìn xuất hiện khi có
sự dịch chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện chính thức sang các nhân vật. Dạng tổ
chức này thể hiện khá rõ trong truyện ngắn Vàng lửa. Chút thoáng Xuân Hương,
Nguyễn Thị Lộ…
Di chuyển điểm nhìn được tao ra khi có sự dịch chuyển từ cái nhìn bên ngoài sang
cái nhìn bên trong, tức từ lời kể của tác giả sang lời nội tâm của nhân vật. Trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Lộ, Chăn trâu cắt cỏ Thiên văn, Sống dễ lắm Cún, Con gái thủy thần,
Những người thợ xẻ, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt,…Di chuyển điểm nhìn từ bên
ngoài vào bên trong là thủ pháp cho phép tác giả đi sâu và thế giới nội tâm nhân vật
đồng thời tạo ra tiếng nói đa thanh trong lời kể.
Ngoài ra còn có sự di chuyển điểm nhìn trong không gian và thời gian. Tuy nhiên
đáng chú ý là kiểu chuyển hóa điểm nhìn thời gian trong một số truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp. Lối trần thuật dựa trên điểm nhìn hiện tại và điểm nhìn thời gian
của quá khứ được đồng hiện trong thời gian hiện tại, tạo nên sự quy chiếu đánh giá quá
khứ từ điểm nhìn hiện tại để khám phá quá khứ và hé lộ những giá trị mang tính bài
học kinh nghiệm cho hiện tại.
Sự đa dạng hóa điểm nhìn – xuất hiện nhiều điểm nhìn khác nhau về một vấn đề.
Đa dạng hóa điểm nhìn còn được tổ chức ở cấp độ thấp hơn văn bản.
Ở truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp các điểm nhìn thường được đặt trong thế đối
lập nhau, tự phản biện nhau và không tuân theo một quy trình lý giải nào của người kể
chuyện. Các điểm nhìn cứ nghiễm nhiên tồn tại trong sự phán xét lẫn nhau tạo nên
tiếng nói đa thanh, đồng thời là cơ hội thể hiện tính đối thoại của người kể chuyện với
người đọc. Sự xuất hiện của kiểu tổ chức trần thuật đa dạng hóa điểm nhìn trong văn
của Nguyễn Huy Thiệp khiến cho điểm nhìn của người kể chuyện bị lu mờ, thậm chí
mất đi thực quyền của mình. Đó cũng là lối kể chuyện đặc trưng trong rất nhiều các
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp

truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn có xu hướng hạn chế sự định giá của
mình mặc dù người kể chuyện có rất nhiều thực quyền trong vấn đề này. Xu hướng
chủ yếu là bình luận ngắn và trong bình luận thường chỉ kết luận riêng phần mình và
dành riêng chỗ trống cho người đọc. Đó cũng là mặt biểu hiện của người kể chuyện
khách quan không có ý định dạy dỗ chỉ bảo người đọc trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp.
Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp đã cho thấy việc sử dụng ngôn ngữ trần thuật
một cách chủ động, có cá tính trong lối kể chuyện.
3.1.2 Tính chất khẩu ngữ, thông tục:
Văn của Nguyễn Huy Thiệp là thứ văn chương gần gũi với đời sống và mang hởi
thở của cuộc sống. Ngôn ngữ của đời sống được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng sinh
động trong các truyện ngắn của mình.
Trước hết chúng tôi xem xét đến các yếu tố ngôn ngữ mang tính chất dân gian mà
người kể chuyện đưa vào sử dụng trong quá trình kể chuyện. Các yếu tố ngôn ngữ này
rất đa dạng: tục ngữ, thành ngữ, ca dao, hò vè, đồng dao, hát nói…Những yếu tố ngôn
ngữ này không phải là dạng ngôn ngữ thô nhám nhưng do nguồn gốc phát sinh nó lại
chứa đựng hơi thở tự nhiên của cuộc sống, và lâu nay nó vẫn được vận dụng gắn liền
với ngôn ngữ đời sống. Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi nhận thấy
người kể chuyện đưa nhiều câu nói, câu hát dân gian khi kể chuyện.
Bên cạnh việc vận dụng các yếu tố ngôn ngữ gần gũi trong đời người kể chuyện
còn đưa cả thứ ngôn ngữ thô nhám, góc cạnh không gọt giũa, những yếu tố ngôn ngữ
tục cũng không hề được giấu diếm trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Tuy
nhiên đây không phải là không có tính chắt lọc ngôn ngữ trong cách kể mà là một chủ
ý của Nguyễn Huy Thiệp.
11
3.1.3 Tính chất đa thanh
Theo lý thuyết của Bkhatin ngôn ngữ trần thuật có thể mang tính một giọng hoặc

có kèm theo bình luận hoặc đánh giá mang tính chủ quan của mình. Cuộc sống cứ thế
trôi chảy tự nhiên như chuyến đò hàng ngày đưa khách sang sông, như thế giới
“ không có vua”, cuộc sống không có cha. Ngay một số vấn đề miêu tả có tính chất
nhạy cảm như: cái chết, đời sống tình dục, nói tục Nguyễn Huy Thiệp cũng luôn duy
trì cách kể hết sức bình thường và khách quan.
Giọng điệu khách quan lạnh lùng của người kể chuyện trở thành giọng nói chủ đạo
trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp .
3.2.2 Giọng điệu trữ tình
Chất trữ tình trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không phô bày lồ lộ trên
trang viết mà ẩn sâu bên trong lớp vỏ ngôn từ dửng dưng lạnh lùng. Nguyễn Huy
Thiệp viết nhiều về cái ác, cái xấu và kể về cái ác cái xấu một cách tự nhiên không

12
ngại ngùng che đậy. Điều này khiến nhiều người cho rằng Nguyễn Huy Thiệp thích
thú với cái ác. Đằng sau những sự thật trần trụi là một cái tâm luôn muốn cố gắng mổ
xẻ lý giải và thương cảm: “Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng
thương lắm”. Chất trữ tình không phải là giọng điệu chủ âm trong các truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp nhưng luôn phảng phất trong các sáng tác và đặc biệt sâu lắng
trong một số tác phẩm như: Chảy đi sông ơi, Trong lòng mẹ… Ở những tác phẩm này
chất trữ tình sâu lắng được bộc lộ khi người kể chuyện ở ngôi thứ nhất tự bày tỏ nỗi lòng,
tự cảm nhận cuộc sống bằng những trải nghiệm cuộc sống của chính mình. Đồng thời
khai thác lối kể chuyện mang đậm tính chất truyền thống Á Đông, Nguyễn Huy Thiệp
sử dụng khá đa dạng và nhiều thơ với mức độ đậm nhạt khác nhau trong các tác phẩm
tạo nên dư âm trữ tình sâu lắng trong truyện. Đó có thể là những câu thơ Nguyễn Huy
Thiệp đặt ra, những bài thơ của các nhà thơ khác, những bài ca dao… Đặc biệt có một
số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có sự xuất hiện của lời thơ, lời hát liên tục được
duy trì như là yếu tố tạo thành của kết cấu câu chuyện. Dạng này xuất hiện trong:
Những bài học nông thôn, Trương Chi, Kiếm sắc, Thương nhớ đồng quê, Phẩm tiết,
Thiên văn…Lối kể chuyện bằng việc tái hiện các lời thơ cho phép Nguyễn Huy Thiệp
diễn tả được ý và tình mà vốn dĩ lời văn xuôi không thể diễn đạt hết được.

khó có thể trộn lẫn. Không còn là kiểu người kể chuyện mang tính độc thoại, không
lấy quyền năng của người kể chuyện để dạy bảo trong mỗi câu chuyện, khước từ thực
quyền của người kể chuyện toàn tri; người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp dịch chuyển sang tinh thần của người đối thoại, người đồng hành với bạn
đọc. Sự thay đổi đó trong gương mặt người kể chuyện mở ra cái nhìn mới trong quan
niệm tiếp nhận văn học.
Với kỹ thuật xử lý câu chuyện từ điểm nhìn bên ngoài cộng với việc vận dung linh
hoạt điểm nhìn: từ di chuyển điểm nhìn cho đến đa dạng hóa các điểm nhìn trong trần
thuật, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra trong các truyện ngắn của mình cái nhìn cuộc sống
nhiều chiều đa dạng và phong phú, góp phần mang lại không khí dân chủ mang tính
đối thoại giữa người kể chuyện và bạn đọc.
Hấp dẫn người đọc không chỉ bằng diện mạo mới mẻ ngay trong những lối kể
truyền thống, người kể chuyện lôi kéo người đọc bằng chính giọng điệu rất riêng của
mình. Đó là giọng điệu khách quan lạnh lùng khi phơi bày những góc khuất u tối của
cuộc sống xã hội; là tiếng nói trữ tình ẩn giấu đằng sau về lạnh lùng dửng dưng, trong
những khoảng lặng hiếm hoi của cuộc sống thường nhật; là những chiêm nghiệm về
cuộc đời và con người hết sức gần gũi có được từ những trải nghiệm cuộc sống trong
chính những câu chuyện kể. Thành công trong lối kể chuyện của Nguyễn Huy thiệp
còn có được từ lối tổ chức ngôn từ nghệ thuật của nhà văn. Đó là lối hành văn đơn
giản, câu văn ngắn gọn, giản dị nhưng hàm chứa nhiều thông tin. Ngôn từ được tổ
chức theo nguyên tắc trần thuật đa thanh khiến truyện ngắn của ông tạo ra tiếng nói đa
thanh của nhiều chủ thể độc lập ngang quyền nhau, thậm chí đồi lập nhau. Vì vậy
không có sự tồn tại của chân lý tuyệt đối trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.

References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thái Phan Vàng Anh (2010), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại,
Luận án Tiến sĩ Văn học, Học viện Khoa học xã hội, Viện khoa học xã hội Việt Nam.
2. Thái Phan Vàng Anh, Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại,
http://vannghequandoi.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=586

15. Vũ Thị Thu Hiền (1999), Những đổi mới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội.
16. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, Đà
Nẵng
17. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
18. La Khắc Hòa, Những dấu hiệu của chủ nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt
Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài,
http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=133&menu=106
19. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà
Nội
20. Châu Minh Hùng, Hình thức đa thanh mới qua truyện Nguyễn Huy Thiệp,

15
http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2006/03/3B9ACC18/, 03/03/2006
21. Đỗ Việt Hùng – Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), Phân tích phong cách ngôn ngữ
trong tác phẩm văn học, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội
22. Jahn Manfred (2005), Trần thuật học: nhập môn lí thuyết trần thuật (Nguyễn Thị
Như Trang dịch), tài liệu ở dạng bản thảo.
23. Trần Thiện Khanh, Một cách nhìn thực tiễn về văn chương hậu hiện đại,
http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/165-mt-cai-nhin-
v-thc-tin-vn-chng-hu-hin-i htlm
24. M. Khrapchenkô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học (Lê
Sơn, Nguyễn Minh dịch), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
25.Cao Kim Lan, Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả,
http://vienvanhoc.org.vn/reader/?id=644&menu=74
26. Cao Kim Lan, Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ
hình thi pháp Hậu hiện đại, http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=55&menu=106
27. Cao Kim Lan, Lý thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Scholes và R. Kellogg,
http://vienvanhoc.org.vn/reader/?id=512&menu=74
28. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục,

42. Nguyễn Huy Thiệp (2003), Giăng lưới bắt chim (tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới
thiệu), Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội.
43. Nguyễn Huy Thiệp (2005), Trò chuyện với hoa thủy tiên hay những nhầm lẫn của
nhà văn, trong cuốn “ Giăng lưới bắt chim” ( Phê bình, tiểu luận, giới thiệu), Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội.
44. Nguyễn Huy Thiệp (2007), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa Sài Gòn,
TPHồ Chí Minh.
45. Nguyễn Văn Thuấn, Nguyễn Huy Thiệp-Đưa nhân vật vào lập trường đối Thoai,
http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?ID=421&catid=7&main=newsdetail&pid=0
&shname=Nguyen-Huy-Thiep-Dua-nhan-vat-vao-lap-truong-doi-thoai, 10/07/2008.
46. Lộc Phương Thủy (2007), Lí luận – Phê bình văn học thế giới thế kỷ XX, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
47. Nguyễn Thị Thu Thủy (2003). Ngôn Ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt
Nam sau 1975 (Điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện), Luận án TS. Hà Nội.
48. Tzvetan Todorov (2004), Thi pháp văn xuôi, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
49. Bùi Thanh Truyền, Song đề truyền thống - hiện đại trong điểm nhìn nghệ thuật
của truyện giả cổ tích và truyện cũ viết lại thời đổi mới,
http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=399&menu=74
50. Phùng Văn Tửu, Người kể chuyện xưng “tôi” trong văn chương hiện đại,
http://vienvanhoc.org.vn/reader/?id=692&menu=74

17
51. Phong Tuyết (2008), Người kể chuyện trong văn xuôi, Tạp chí văn học nước ngoài,
số 5, Tr 120 - 136


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status