TRƯỜNG
đẠI
HỌC
C
A
À
N
T
H
Ơ
KHOA SƯ
P
HẠ
M
BỘ MÔN NGỮ
V
Ă
N
đỖ THỊ
L
I
Ê
N
THÀNH NGỮ, TỤC NG
Ữ
TRONG TRUYỆN
N
G
A
É
N
3. Mục đích yêu
c
ầ
u
4.
Phạm
vi nghiên
c
ứ
u
5.
Phương
pháp nghiên
c
ứ
u
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG
I: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH
NGỮ,
TỤC
NGỮ
VIỆT NAM
1.1. Một số
vấn đề về
khái
ni
ệ
m
1.1.1. Thành
n
.2
g
.1
t
.
â
M
m
ột
H
số
ọ
n
c
ét
l
t
i
ư
ệ
ơ
u
ng
Đ
đồ
H
ng
Cần
Thơ @ Tài liệu học tập
Hiệu quả
của
việc sử
dụng thành
ngữ
và tục
ng
ữ
1.3.1. Tính hàm súc
1.3.2. Tính hình
t
ượ
ng
1.3.3. Tính dân tộc
1.3.4. Tính
thuyết
phục
1.3.5. Tính
đại
chúng
CHƯƠNG
II: THÀNH
NGỮ,
TỤC
NGỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN
HUY THIỆP
2.1. VÀI NÉT VỀ CUỘC
đ
Ờ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
2.3.1. Cách
vận
dụng
2.3.1.1.
Kết quả
thống kê
2.3.1.2.
Sử
dụng nguyên
d
ạ
ng
2.3.1.3.
Sử
dụng
cải biến,
sáng
t
ạ
o
2.3.2.
Hiệu quả sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
c
tí
l
n
iệ
h
u
các
Đ
h
H
nhâ
C
n
ầ
v
ậ
n
t
2.3.2.3. Miêu
tả
nội tâm nhân
v
ậ
t
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu
thành
ng
ữ
,
tục
ngữ,
ca dao, dân ca
Việt
Nam qua
lời
ru
mượt
mà, êm ái của bà, của
mẹ.
Riêng đối
với
thành
ngữ,
tục
ngữ,
ngoài
việc sử
dụng
hết sức gần
gũi, quen thuộc trong
lời
ă
n
tiếng
nói hàng ngày của nhân dân thì nó còn
trong tác
phẩm. Thực tế
cho
th
ấ
y,
những
nhà
văn
nhà
thơ lớn từ xưa đến
nay
đều sử
dụng vốn thành
ngữ,
tục
ngữ
r
ấ
t
thành công trong sáng tác của mình
như:
Nguy
ễ
n
Trãi,
Nguy
ễ
n
Du, Hồ Chí Minh… .
â
g
m
i
ả
v
H
ăn
ọc
họ
l
c
iệ
tr
u
ướ
Đ
c
đ
H
ó
m
C
à
ầ
tr
n
on
T
c
ì
t
t
h
ậ
àn
p
h
v
n
à
gữ
n
,
t
g
ụ
c
h
n
iê
g
ữ
n
c
c
ũ
thời
muốn tìm
hiểu
sâu
sắc hơn về
cách
sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của nhà
văn đương đại
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp,
tôi đã
quyết
định
chọn
đề
tài: “Thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
Huy
Thiệp.
đ
ồ
ng
thời,
cũng cung
cấp
cho hành trang vào
đời
của tôi một
lượng kiến thức
đáng
kể
v
ề
thành
ngữ,
tục
ngữ,
phục vụ
đắc lực
cho chuyên môn
nghề
nghi
ệ
p
sau này của tôi là
một cô giáo
dạy
n
đây là trong các bài
viết
nhỏ, bài chuyên
luận,
bài báo cáo khoa học,
luận văn
tốt
nghi
ệ
p
trong
trường đại
học.
Tất cả những
bài
viết
này
đều
làm nổi
bật hiệu quả
s
ử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
văn chương
nói chung.
Theo tác
giả,
tùy theo
đối tượng, đề
tài, và
thể loại
mà Bác có
cách
sử
dụng tục
ngữ
phù
hợp.
Có khi Bác dùng tục
ngữ
làm một chủ
điểm,
một ý
chính
để
nêu lên
vấn đề,
có khi Bác dùng tục
ngữ để
chuy
ể
n
ý
chuy
ể
như
xây
dựng văn
b
ả
n” [
17;12]. Có
thể
nói, đây là một bài
viết
khá sâu
sắc
và tỉ mỉ đã phân tích
được
giá
tr
ị
sử
dụng tục
ngữ
trong
những
bài
văn,
bài
viết
của Bác
nhằm
mục đích cổ động
qu
ầ
C
n
hâu
T
v
h
ậ
ơ
n
d
@
ụ
ng
T
th
à
à
i
n
l
h
iệ
n
u
g
ữ
h
,
u
ca của
Nguy
ễ
n
đ
ứ
c
Can
đăng
trên “
Ngữ
học
trẻ
2001” đã phân tích
rất
tỉ mỉ
về hiệu
qu
ả
sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
thơ
ca của Phan Bội Châu. Sau khi
sáng
tạo
nên
những
câu
thơ mềm mại với
một ý
thơ
có
nội hàm cao
hơn.
Ngoài ra tác
giả
còn phát
hiện thấy rằng,
Phan Bội Châu đã sáng
t
ạ
o
ra
những
câu nói mang tính thành
ngữ,
tục
ngữ
mà “Ngay lúc
xuất hiện
và
cả
ngày nay
đã
đưa
ra
kết luận:
“đây
là một
bằng
ch
ứ
ng
chứng
minh cho
sức
sống,
sức mạnh mẽ
của kho tàng ngôn
ngữ
dân tộc
(ở
đây là kho
tàng thành
ngữ,
tục
ngữ
). Vì
thế
nó
được
trân trọng và phát huy” [2;348].
đ
c
Can, sau khi
khảo
sát 39 bài
thơ
trong
tập
“
Thơ
Hồ Xuân
Hương”
tác
giả
đã
nhận thấy rằng:
Hồ Xuân
Hương
khi
đưa
thành
ngữ,
tục
ngữ
vào trong sáng tác
thơ thường
chủ
yếu
thông qua hai
phương thức
chính đó là
trong
thơ
Nôm của Hồ
Xuân
H
ươ
ng.
Vấn đề
nghiên
cứu việc sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong tác
phẩm văn
ch
ươ
ng
cũng
được
khai thác trong bài
luận văn
tốt
nghi
ệ
p
trong
trường đại
học.
ữ
trong
những
sáng tác của
Nguy
ễ
n
Minh Châu”;....
Hầu hết
trong
những luận văn
này,
các tác
giả
đã khái quát
được
thành
ngữ,
tục
ngữ
là gì và
đưa
ra một số quan
đ
i
ể
m
khác nhau của các nhà nghiên
cứu văn
học cũng
cứu
hiệu quả sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong các tác
phẩm văn chương
của
Nguy
ễ
n
Khải,
Bình Nguyên Lộc,
Nguy
ễ
n
Minh Châu,...
Không chỉ
được vận
dụng trong sáng tác
văn chương,
thành
ngữ,
tục
ngữ
còn
được sử
dụng khá phổ
biến
báo:
đ
ạ
i
đòan
kết; Thể
thao –
Văn
hóa, Sài Gòn
giải
phóng; Hà Nội
mới,
tác
giả
đã
nhận
ra
được
ba
cách
để tạo
thành
ngữ mới
trên báo chí:
Cải biến
các thành
ngữ
quen thuộc
nh
ư
ngữ mới
góp
phần
làm cho
tiếng Việt
ngày
càng phong phú, giàu
đẹp”
[25;11].
đây
là một bài
viết
có vị trí vai trò
đặc biệt
quan
trọng trong
việc
nghiên
cứu
ngôn
ngữ
báo chí.
Không chỉ tìm
hiểu việc sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
văn
được
giá trị
sử
dụng của tục
ngữ
trên
cả
hai lĩnh
vực văn chương
và báo chí .
Tác
giả
đã chỉ ra, có hai hình
thức vận
dụng tục
ngữ
trên báo chí và trên tác
phẩm
v
ă
n
chương:
nguyên
dạng
và
cải biến,
mô phỏng,
triển
khai khuôn hình tục
ngữ. Hơn
báo chí cũng
như
trong tác
phẩm văn chương từ trước đến giờ
cũng đã có khá
nhiều
công trình nghiên
cứu
khác nhau. Tuy nhiên,
vấn đề
nghiên
cứu về
thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
trong
những
sáng tác của
Nguy
ễ
n
Huy
Thiệp
thì
vẫn chưa
có công trình
nghiên
i
tìm
Nguy
ễ
n
Huy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu
Thi
ệ
p”
(
Phạm
Xuân Nguyên
(sưu tầm
và biên sọan), NXB
Văn
hóa thông tin Hà Nội,
2001).
Cả
ba cuốn sách này
đều
chủ
yếu
đi vào phân tích, bình
luận,
… nội dung của
tác
phẩm; Về nghệ thuật
của tác
ề
u
hết sức cần
thi
ế
t.
3.Mục đích yêu
c
ầ
u
:
Vấn đề
tìm
hiểu
vốn thành
ngữ,
tục
ngữ
của dân tộc là một
điều
vô cùng bổ ích.
Thực hiện đề
tài này
nhằm
giúp cho
người
đọc và
bản
thân
người viết
nghĩa
biểu đạt
của thành
ngữ,
tục
ngữ
trong sáng tác
văn chương.
Và
đặc biệt
quan
trọng
hơn
giúp
người viết
khám phá ra
được
nét
đặc sắc
của
việc sử
dụng thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Huy
Thiệp
sáng tác trên
rất nhiều thể loại: Tiểu
thuy
ế
t,
truyện
ng
ắ
n,
tạp văn, tiểu luận,
phê bình,
giới thiệu
và kịch. Tuy nhiên, do
hạn chế về thời
gian nên
người viết
chỉ
đề cập đến việc sử
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
sát và tìm
hiểu
v
ề
thành
ngữ,
tục
ngữ
trong
truyện ngắn
của
Nguy
ễ
n
Huy
Thi
ệ
p.
5.Phương pháp nghiên
c
ứ
u
:
đ
ể
thực hiện đề
tài này,
bước cần thiết đầu
tiên đối
m.
Tiếp đến, để
làm nổi
bật
cái hay, cái độc đáo trong cách
vận
dụng thành
ng
ữ
,
tục
ngữ
của tác
giả, người viết
dùng
phương
pháp
chứng
minh,
giải
thích, phân tích và
bình
lu
ậ
n.
Ngoài ra,
để đề
tài
được
phong phú
tục
ngữ
là đối
tượng
thu hút
rất nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ
và các nhà nghiên
cứu văn chương.
đã
có
rất nhiều
cuộc tranh
luận nhiều
ý
kiến
xoay xung quanh
vấn đề
xác định khái
niệm
thành
ngữ,
tục
ngữ, nhưng
rút cục
v
ẫ
giới thiệu
một số quan
niệm
khác nhau
về
thành
ngữ,
tục
ngữ
.
1.1.1 Thành ngữ, tục ngữ theo quan
n
i
ệ
m
của các nhà nghiên cứu văn học
Xét trong lĩnh
vực văn
học,
giữa
thành
ngữ
và tục
ngữ
thì chỉ tục
ngữ được
coi là
một
thể loại
của
ngữ. Mặc
dù
giữa
các
thế hệ những
nhà nghiên
cứu
luôn luôn tìm cách
kế thừa,
chọn lọc,
bổ sung,
sửa
đổi, sáng
tạo kiến giải
của mình một cách hoàn chỉnh
hơn. Nhưng
d
ườ
ng
như
càng tìm tòi nghiên
cứu
thì các tác
giả lại
càng
thấy xuất hiện
thêm
nhiều vấn đề
nan
Tru
C
ái
ầ
ni
n
ệ
m
T
t
h
hà
ơ
nh
@
ng
ữ
T
,
t
à
ụ
i
c
l
n
iệ
g
ng
Hàm là
người đầu
tiên
đưa
ra tiêu chí
để
xác định và phân
loại
thành
ngữ,
tục
ngữ Việt
Nam.
Trong cuốn:
“Việt
Nam
văn
học
sử yếu”
tác
giả viết:
“Tục
ngữ
là
những
câu nói
gọn
ghẽ
và có ý nghĩa
hoặc viết văn”
[8;9].
Từ việc
xác định định nghĩa thành
ngữ,
tục
ngữ,
tác
giả
đã đi
đến
phân
loại
thành
ngữ,
tục
ngữ dựa
trên tiêu chí nội dung: “… một câu tục
ngữ tự
nó
phải
có một ý nghĩa
đầy đủ hoặc
khuyên
răn hoặc
chỉ
bảo điều
gì; còn thành
ngữ
loại giữa
chúng
chưa thật đầy
đủ,
thậm
chí còn đánh đồng nội dung
gi
ữ
a
chúng
nhưng thật sự
đây
lại
là một công trình có vai trò quan trọng trong
việc
định
h
ướ
ng
nghiên
cứu
thành
ngữ,
tục
ngữ
sau này.
1.1.1.2
Tiếp
tục
đưa
xem xét thành
ngữ,
tục
ngữ như
một
hiện tượng
ý
thức
xã hội và thành
ng
ữ
chủ
yếu như
một
hiện tượng
ngôn
ngữ.
Trong đó “Nội dung của thành
ngữ
là nội dung
của
những
khái
ni
ệ
m”[4;41],
còn “Nội dung của tục
ngữ
là nội dung của phán
đoán”[4;41].
nhận
của tác
giả Dương
Qu
ả
ng
Hàm
về
thành
ngữ,
tục
ngữ:
“định
nghĩa
như vậy
không
được
rõ, vì
nếu thế
tác dụng của thành
ngữ
cũng không khác gì tác dụng của tục
ngữ”
[38;38]. Và
từ
đó ông xác định: “Tục
ngữ
là một câu
tự
nó
vẹn”
[38;39].
Kiến giải
của Vũ Ngọc Phan có
vẻ nhận được sự
đồng tình của
nhiều người.
Tuy
nhiên khái
niệm về
thành
ngữ,
tục
ngữ
không chỉ
dừng ở
đó.
1.1.1.4 Tác
giả
Phan Thị
đào
trong cuốn “Tìm
hiểu
thi pháp tục
ngữ Việt
Nam” đã
Tru
đ
n
ư
C
à
ầ
m
n
ột
T
hi
h
ện
ơ
tư
@
ợng
T
ý
à
th
i
ứ
li
c
ệ
x
u
ã h
h
ộ
ọ
i
u
và lối sống của nhân dân
trải
qua bao
thời đại…
là
sự
đúc
kết
trí
tuệ
và tâm hồn của nhân
dân lao động…”[6;23]. Và qua đó tác
giả
đã
dựa
vào 3 tiêu chí: hình
thức,
nội dung và
chức năng để
phân
biệt
thành
ngữ
và tục
ng
ữ
.
“Về
hình
thông
báo”[6;27]
1.1.1.5 Tác
giả
Hoàng
Tiến Tựu
trong cuốn
“Văn
học dân gian
Việt
Nam” cũng
đưa
ra một số
nhận
định
về
thành
ngữ,
tục
ngữ như
sau: “Tục
ngữ
là một
thể loại văn
học
dân gian có
chức năng
chủ
yếu
là đúc
ngữ
và tục
ngữ
đó là tiêu chí
chức năng ngữ
pháp và nội dung ý nghĩa: “Mỗi câu tục
ngữ đều diễn
trọn một ý (một
phán đoán) còn thành
ngữ
(…) chỉ
diễn đạt
một khái niêm
tương đương với
một
từ,
ho
ặ
c
một cụm
từ”.
[44;130]
1.1.1.6 Cũng nói
về
thành
ngữ,
tục
ngữ
các tác
giả
hay
ngữ
cố
đ
ị
nh,b
ề
n
vững,
có tính nguyên khối
về ngữ
nghĩa không
nhằm
di
ễ
n
trọn một ý, một
nhận
xét
như
tục
ngữ
mà
nhằm thể hiện
một quan
niệm dưới
một
hi
ệ
câu nói
ngắn
ngọn, xúc tích, giàu
vần điệu,
hình
ảnh dễ nhớ,
d
ễ
truyền
c
ả
m…”[10;377].
Nhìn chung,
vấn đề
khái
niệm về
thành
ngữ,
tục
ngữ vẫn chưa
có
sự
thống
nh
ấ
t
giữa
các tác
giả
nghiên
đóng
góp của các nhà nghiên
cứu
trong
việc
tìm tòi khám phá
chiều
sâu giá trị của thành
ng
ữ
,
tục
ngữ.
Nó đóng vai trò quan trọng,
tạo cơ sở tiền để
cho
việc
nghiên
cứu
thành
ngữ,
tục
ngữ
sau này.
1.2 Thành ngữ, tục ngữ theo quan
đi
ể
m
của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ.
Trung t
ầ
g
n
hiê
T
n
h
c
ơ
ứu
@
của
T
cá
à
c
i
tá
li
c
ệ
g
u
i
ả
h
v
ă
ọ
ứ
c
u
òn
làm tốn
biết
bao
giấy mực
của các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ.
Cũng giống các nhà nghiên
cứu văn
học, khi nhìn
nhận về
thành
ngữ,
tục
ngữ
thì
giữa
các nhà ngôn
ngữ
học cũng có
rất nhiều
ý
kiến
đánh giá khác nhau xoay xung quanh khái
niệm về
ngữ,
tục
ngữ
thì các nhà nghiên
cứu
ngôn
ngữ
học
lại
chủ
yếu dựa
vào tiêu chí
hình
thức
hay tiêu chí
kết cấu ngữ
pháp
để
xác định ranh
giới
thành
ngữ,
tục
ngữ
và sau
đó
đưa
ra khái
niệm bước đầu về
thành
của
từ vựng
học có
chức năng
định danh, là tên gọi của
những
khái
niệm.
Và qua
đó tác
giả
đã
đưa
ra
những điểm
chung của thành
ngữ
và tục
ngữ: đều
là
những đơn
vị
s
ẵ
n
có trong
tiếng
nói chúng
được
sáng
định
về
s
ự
vật
khách quan.
1.2.2 Trên
tạp
chí ngôn
ngữ
số 4 / 1980, tác
giả
Hoàng
Văn
Hành trong bài
vi
ế
t
“Tục
ngữ
trong cách nhìn của
ngữ
nghĩa học” đã
đưa
ra cách nhìn
nhận
của mình
về
tục
ngữ như
về
nội dung miêu
tả hiện thực (chức năng
định
danh) cũng
như
dụng ý thông báo
(chức năng
thông tin). Và bên
cạnh cấu
trúc
ngữ
pháp,
cấu
trúc
ngữ
nghĩa thì Hoàng
Văn
Hành còn xác định tục
ngữ
có thêm
cấu
trúc
văn
học
(bao gồm
những yếu
tố
như thực tại
mà tục
viết “Ngữ
nghĩa thành
ngữ
và tục
ngữ
-
Sự vận
dụng” trên
tạp
chí ngôn
ngữ
số 3/1986 cũng
đưa
ra quan
điểm về
khái
niệm
thành
ngữ,
tục
ngữ như
sau: Thành
ngữ,
tục
ngữ
là
những đơn
vị ngôn
ngữ
ổn định
về
các
hiện tượng,
các quy
luật tự
nhiên và xã hội”[3;1]
1.2.4. Sau khi
đưa
ra khái
niệm về
thành
ngữ:
“Là một
loại đơn
vị ngôn
ngữ
có
sẵn.
Chúng là
những ngữ
có
kết cấu chặt chẽ
và ổn định, mang một ý nghĩa
nhất
định, có
Tru
c
n
h
g
c
t
ầ
hự
n
c
T
hi
h
ệ
n
ơ
tr
@
ong
T
gi
à
ao
i
l
t
i
ế
ệ
”[
u
27
n
c
M
ứ
ệ
u
nh
trong bài
viết
“Vài suy nghĩ góp
phần
xác định khái
niệm
thành
ngữ Tiếng Việt”
trên
t
ạ
p
chí ngôn
ngữ
số 3/1986 cũng
đưa
ra ba tiêu chí
để
xác định ranh
giới giữa
thành
ngữ
ấ
u
trúc
những ngữ
còn
tất cả
tục
ngữ
có
cấu
trúc
ngữ
pháp của
đơn
vị câu;
về mặt chức
n
ă
ng
thành
ngữ
làm
nhiệm
vụ định danh, còn tục
ngữ giữ chức năng
thông báo.
1.2.5. Trong cuốn “Tục
ngữ Việt
Nam
cấu
tại như
một
đơn
vị ngôn
ngữ,
có
thể
nghiên
cứu ở
các
cấp
độ và các chuyên ngành khác
nhau: cụm
từ, ngữ
cú
(từ vựng
học,
ngữ vựng
học), câu cố định, phát ngôn làm
sẵn
(ng
ữ
pháp học) và
văn bản
-
thể loại văn
học
(văn
học dân gian – thi pháp học), có
cơ cấu
cuốn
“Kể
chuy
ệ
n
thành
ngữ,
tục
ngữ”
cũng
đưa
ra một số
nhận
định sau. Theo tác
giả
thì
“…thành
ngữ
là một
loại
tổ
hợp từ
cố định,
bền vững về
hình thái -
cấu
trúc, hoàn
ch
ỉ
nh,
a
thành
ngữ
và tục
ngữ,
Hoàng
Văn
Hành đã đóng góp một
phần
không nhỏ trong
việc
định
nghĩa và phân
biệt
thành
ngữ,
tục
ng
ữ
.
Nhìn chung, các tác
giả đều
đã cố
gắng đưa
ra
những
ý
kiến để
lí
giải
kiến
chủ quan của mỗi
người chưa
có
s
ự
đồng
tình thống
nhất giữa
các nhà nghiên
cứu với
nhau. Vì
vậy
đã gây không ít khó
kh
ă
n
cho
người
đọc trong
việc tiếp nhận. Nhưng
bên
cạnh sự
khó
khăn
đó, nó cũng góp
ph
ầ
n
định
h
ọ
n
c
g
ữ
l
,
iệ
t
ụ
u
c
Đ
ng
H
ữ
l
C
à
n
ầ
h
n
ữ
n
T
g
hìn
v
h
à
th
n
à
g
nh
hi
v
ê
à
n
s
ử
c
d
ứ
ụ
u
ng
rộng rãi,
tự
nhiên
trong
đời
sống xã hội. Giống
như
các
sự
đô hộ một
ngàn
năm
của Trung Quốc cho nên
ở
một
thời
kì nào đó
văn
hóa
phương Bắc
đã chi phối
và
ảnh hưởng đến văn
hóa
nước
ta trên các
tất cả
các lĩnh
vực từ đời
sống,
tư
duy
vật
ch
ấ
t,
ngôn
ngữ
Tiếng Việt
có
thể được giữ
nguyên hình thái
ngữ
nghĩa, dịch
từng chữ,
dịch nghĩa chung của thành
ngữ,
tục
ng
ữ
.
* Thành ngữ, tục ngữ giữ nguyên hình thái cấu
trúc
ngữ nghĩa: Theo thống kê
trong tổng số 354 thành
ngữ,
tục
ngữ mượn từ tiếng
Hán trong
Tiếng Việt,
có 71 thành
ngữ,
tục
ngữ
nguyên
vẹn chiếm
kho
ả
gốc Hán
mượn
nguyên
vẹn
chủ
yếu
dùng trong
văn viết
và
mang tính sách
vở
rõ
rệt.
Chúng ta có
thể
tìm
thấy
các thành
ngữ,
tục
ngữ
này trong các
tác
phẩm văn
học cổ, trong
văn
chính
luận trước
và nay.
* Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán dịch một bộ phận
bàn
thạch”
dịch là
“vững như
bàn
th
ạ
ch”
* Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán
được
dùng
trong
hình thức dịch toàn
b
ộ
các
yếu
tố ra
Tiếng Việt
và
giữ
nguyên
cấu
trúc.
đó
là
những
thành
ngữ,
tục
dịch
từ
câu tục
ng
ữ
“Nhất tự
vi
sư,
bán
tự
vi
s
ư
”
* Thành ngữ, tục ngữ mượn từ gốc Hán được dùng
trong
hình thức
d
ị
c
h
nghĩa chung của thành
ngữ,
tục
ngữ
ra
Tiếng
Vi
ệ
t
c
à
h
i
“
l
T
iệ
ùy
u
c
h
ơ
ọ
ứ
n
c
g
t
b
ậ
i
ế
p
n”
và
nghiên
cứu
nảy
lộc” và phát
triển
thêm
nhiều
thành
ngữ,
tục
ngữ mới
làm giàu thêm vốn ngôn
ngữ
của dân tộc.
Qua
sự kiểm
nghi
ệ
m
của
thời
gian, có
rất nhiều
thành
ngữ,
tục
ngữ được
hình
thành
từ văn chương
cổ
như:
tích con mối”); “Áo
vải cờ
đào” (
bắt
nguồn
từ
bài
thơ
khóc chồng của Ngọc Hân công
chúa, bài “Ai
tư
vãn”) :
“ Mà nay áo
vải cờ
đ
ào
Giúp dân
dựng nước kiến
bao công
trình”
đồng
thời
thành
ngữ,
tục
ngữ
cũng
được
hình thành qua con
đường
n
Kiều”,
Nguy
ễ
n
Du đã
sử
dụng
những
câu
thơ
mà ngày nay đã
tr
ở
thành
những
câu nói
hằng
ngày của nhân dân:
“Chữ
tài
liền với chữ
tai một
v
ầ
n”
“Chữ tại chữ mệnh
khéo là ghét nhau”
“Chữ
những
sáng tác của Hồ Chí Minh :
“đoàn
kết
đoàn
kết đại
đoàn
k
ế
t
Thành công thành công
đại
thành
công”
“ Không có
việc
gì
khó
Chỉ
sợ
lòng không
b
ề
n
đào
núi và
lấp
bi
ể
n
c
thà
li
n
ệ
h
u
ng
Đ
ữ
,
H
t
ụ
c
C
n
ầ
g
ữ
n
đ
T
ề
u
h
h
ơ
ình
g
g
n
h
gà
iê
y
n
của
c
n
ứ
h
u
ân dân,
xuất
phát
từ
những
nhu
cầu
của cuộc sống sinh
hoạt,
làm
ăn,
tình
cảm
và trao đổi
kinh
nghi
lặp lại nhiều lần trở
thành thói quen và
truyền lại từ đời
này sang
đời
khác.
Theo thống kê thì có trên ¾ thành
ngữ,
tục
ngữ
hình thành qua
lời ăn tiếng
nói của nhân
dân.
Câu tục
ngữ:
“Muốn nói ngoa làm quan mà nói”
xuất
phát
từ thực tế
cuộc sống
hàng ngày
dưới chế
độ phong
kiến người
dân luôn bị
ức hiếp, người
có
quyền thế,
địa
về tầng lớp
quan
lại như:
“Của vào quan như than vào lò”; “Quan cả vạ
t
o”.
Từ
trong cuộc sống giao
tiếp hằng
ngày mà có câu tục
ngữ:
“Chim khôn
t
i
ế
c
lô
n
g,
người khôn
t
i
ế
c
lời”. Câu tục
ngữ đề cập đến vấn đề giữa
con
người với
nhau. Trong
có hai
lớp
nghĩa:
nếu hiểu
trên
bề mặt
câu
chữ
thì câu tục
ngữ
ý nói
ăn
không
nhiều nhưng
no
lâu;
nhưng nếu hiểu
theo nghĩa bóng thì ý của câu tục
ngữ
khuyên con
người đừng
nên
quá tham lam món
lợi
tuy nhỏ
nhưng được bền hơn
ham
lợi lớn
thì
sẽ
ệ
m
của
người
dân
về thời tiết đối với
cây trồng, đó là
trời nắng rất
thích
hợp
cho
d
ư
a,
nắng
càng
nhiều
thì
dưa
càng tốt, còn đối
với
cây lúa thì
trời mưa
là
điều kiện để
nó phát
tri
ể
n.
Nhìn chung, thành
đủ tâm
tư
nguy
ệ
n
vọng của nhân dân.
1.2.1.2 Tính
b
i
ể
u
t
r
ư
n
g
Thành
ngữ,
tục
ngữ
hình thành
từ thực tế
cuộc sống
được
nhân dân sáng
tạo
nên
đ
ó
ọ
t
c
ính
liệ
bi
u
ể
u
Đ
tr
H
ư
ng
C
r
ầ
ấ
t
n
ca
T
o
h
.
T
ơ
ín
@
h
à
,
t
ụ
n
c
g
n
h
g
i
ữ
ên
đ
ư
c
ợ
c
ứ
t
u
h
ể
hiện
rõ trên câu
chữ,
hình
ả
nh.
Vậy
cháy nhà
tức
là làm cho
mất
cái vỏ che
đậy
đi,
mất nơi ẩn nấp
cuối cùng theo đó cái che
đậy
bị lộ rõ. Nội dung ý nghĩa thành
ngữ
này là
khi có
sự biến hoặc điều kiện bắt
buộc nào đó thì
tất yếu những điều xấu, những
cái
y
ế
u
kém
phải
bộc lộ.
Thành
ngữ
“Chọc gậy bánh xe”
được hiểu
là khi công
vật
cụ
thể
mà là gây
cản trở
cho
sự
phát
triển
tốt
đẹp
của
người
khác. Ý nghĩa đó
được
hình thành trên
cơ sở
tính
biểu trưng
của
bánh xe. “Bánh xe” dùng
để biểu trưng
cho
sự
chuy
ể
n
động, tiến
bộ lên phía
cá
khả năng biểu trưng. Từ
quan sát cụ
thể
đi
tới
hình
ảnh, từ
hình
ảnh
cụ
thể đơn giản
nâng lên thành hình
ảnh
khái quát và
từ
hình
ảnh vận
dụng vào các
hi
ệ
n
tượng
cuộc sống. Ở thành
ngữ,
tục
ngữ
cái cụ
thể thường kết hợp
hài hòa
ngữ vượt
ra khỏi
ph
ạ
m
vi
khái
niệm về
một
sự vật hiện tượng
ban
đầu
mang ý nghĩa rộng
hơn. Chẳng hạn
“
M
ư
a
dầm hóa lụt”; “Không có lửa làm sao có khói” là
những
quan sát cụ
thể. Nhưng
nh
ữ
ng
hình
ảnh,
khái
niệm
cụ
rất
phổ
biến. Hầu như
thành
ngữ,
tục
ngữ
nào cũng có tính
biểu trưng nhất
định.
T
ừ
những
hình
ảnh
thiên nhiên, động
vật, sự vật hiện tượng được
dùng làm tín
hiệu
bi
ể
u
trưng đến những hiện tượng
có tính
chất trừu tượng
khái quát
hơn
cũng
được
nhân dân
1.2.1.3 Cấu
trúc
hình
t
h
ứ
c
:
đa
số thành
ngữ
và tục
ngữ đều
có
cấu tạo
giống nhau
về mặt
hình
th
ứ
c:
Trung
-
t
â
V
m
ầ
n
Học
bật
quan
hệ lập luận
–
logic
giữa
các
về,
làm nổi
bật từ
và nghĩa trung tâm, gia
tăng sự
thống
nhất
nội
tại
gi
ữ
a
các yêu tố và
sự diễn cảm nghệ thuật.
Nhịp và
vần
còn làm cho thành
ngữ,
tục
ngữ
d
ễ
nhớ, dễ
dễ
đi vào lòng
người
đọc
hơn. Vần thực hiện chức năng giữ
nhịp cho câu tục
ngữ
, thành
ngữ
góp
phần
làm nổi rõ
những từ
có ý nghĩa quan trọng. Tuy có vai trò
thiết yếu
trong
thành
ngữ,
tục
ngữ nhưng vần
không
xuất hiện
trong
hầu hết
các thành
ngữ,
tục
ng
ữ
,
đặc trưng
“ngo
ạ
i
hình” của tục
ngữ
và thành
ngữ
so
v
ớ
i
các phát ngôn làm
sẵn
khác. Vị trí của
vần
hoàn toàn không ổn định và
rất
phong phú có
thể
là
vần liền, vần
cách.
+ Vần
liền:Vần liền
là
vần xuất hiện
nối
tiếp
nhau,
n
cách là
loại vần giữa
hai khuôn
vần
cách ít
nhất
một âm
tiết
phân cách,
số âm
tiết
trung gian cách nhau một
ti
ế
ng.
Vần
cách 1 âm
ti
ế
t:
Tục
ngữ
“Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa”
“Tốt danh
hơn
lành áo”
Thành
ngữ
“Bán tín bán nghi”
ữn
ọ
g
c
trư
li
ờ
ệ
n
u
g
h
Đ
ợ
p
H
v
ầ
C
n
ầ
cá
n
ch
T
2
h
,
3
ơ
v
s
à
ự
t
n
ư
g
ơ
n
h
g
iê
đồ
n
ng
c
.
ứu
b.
N
h
ị
p
Bên
cạnh vần,
nhịp là
yếu
nhịp trong
thành
ngữ,
tục
ngữ
khá đa
dạng
và linh
ho
ạ
t.
* Nhịp 2 - 2
Tục
ngữ
“Uống
nước/ nhớ
nguồn”
“Ao sâu / tốt cá”
Thành
ngữ:
“Nhà dột / cột xiêu”
“Bán
vợ
/
đợ
con”
Có
thể
nói, nhịp 2 – 2
xuất hiện
ng
tiền
/
liền
khúc ruột”
Thành
ngữ: “Xấu đều
/
hơn
tốt lỏi”
* Nhịp 2 - 4
“Có
tiếng
/ không có
mi
ế
ng”
Tục
ngữ: “Chết
trong / còn
hơn
sống đục”
“Không
thầy
/
đố
mày làm nên”
Thành
ngữ: “Cả
thể
nói khi xét
đến
thành
ngữ,
tục
ngữ
ngoài
việc
nghiên
cứu về vần,
nh
ị
p
chúng ta cũng không nên bỏ qua
việc
tìm
hiểu kiến
trúc sóng đôi của nó.
đây
được
xem là
một trong
những điểm đặc biệt
của thành
ngữ,
tục
ngữ Việt
Nam. Theo các nhà nghiên
cứu
m
câu
H
th
ọ
à
c
nh
li
n
ệ
g
u
ữ
,
Đ
t
ụ
H
c
ng
C
ữ
ầ
c
n
ó
n
T
th
p
ườ
v
n
à
g
n
có
g
h
h
a
i
i
ê
lo
n
ạ
i
c
:
ứ
só
u
ng
đôi bộ
phận
và sóng đôi phát ngôn.
m
ván / bán
thuy
ề
n”
“Dăm bữa
/
nửa
tháng”
* Sóng đôi phát ngôn: còn
được hiểu
là
sự
liên
kết giữa
hai hay
nhiều
phát ngôn
kết
thành một phát ngôn
phức hợp
có cùng chủ
đề. Dạng
này chỉ tồn
tại ở
tục
ngữ
v
ớ
i
ngữ,
tục
ngữ vẫn
có một số nét
tương đồng như về vần,
nhịp,
ki
ế
n
trúc sóng đôi. Chính
những
nét
tương
đồng này đã
tạo
cho thành
ngữ,
tục
ngữ
có
nh
ữ
ng
đặc điểm
riêng không
thể lẫn
lộn
với
các
thể loại
tồn
tại
và luôn có một chỗ
đứng vững chắc
cho
đến
ngày
nay.
1.2.2 Một số nét dị
b
i
ệ
t
1.2.2.1.
K
ế
t
cấu ngữ
ph
á
p
Về kết cấu ngữ
pháp thì: “Thành
ngữ
chỉ là một nhóm
từ trơn
tru, quen thuộc
đ
ượ
c
khả năng tự tạo
nghĩa.
Nếu đứng
riêng
lẻ
thì thành
ngữ
không
thể diễn đạt
một ý trọn
v
ẹ
n.
Ví dụ :
“đáng
giá nghìn
vàng”
“đen
như
cột nhà
cháy”
“Dây
mơ rễ
má”
Còn tục
ngữ
dù
ngắn đến
đâu cũng là một câu hoàn chỉnh. Nó có
khả năng tự
t
t
h
â
ấy
m
nh
H
ữn
ọ
g
c
ng
li
ư
ệ
ờ
u
i m
Đ
ặ
H
c
áo
C
r
ầ
ác
n
h
t
h
ậ
ĩ
p
r
ằ
n
v
g
à
đ
ó
n
l
g
à
h
nh
iê
ữ
n
ng
c
n
ứ
g
ư
vẹn
là một
người
nào đó khi
được người
khác giúp
đỡ
thoát khỏi khó
khăn, hoạn nạn
sau đó
lại
quên
ơn,
bội nghĩa,
thậm
chí làm
những điều
không tốt
với người
mình chịu
ơ
n.
đây
được
xem
như
là một trong
những
nét khác
biệt cơ bản giữa
ngữ
có
chức
n
ă
ng
định danh có nghĩa là có
thể
dùng thành
ngữ để
gọi tên
sự vật,
tính
chất,
hành động.
Ví dụ: “Cứng như
r
ễ
tre”:
chỉ một
sự vật rất cứng
giống
như
tre.
“Dầm mưa dãi nắng”: chỉ
sự cực
nhọc, khó
kh
ă
Ví dụ: “Một câu nhịn chín câu lành”: Thông báo một
nhận
định là mọi
chuy
ệ
n
không nên làm quá
phải biết nhường
nhịn thì mọi
điều sẽ
tốt
đẹp sẽ
đ
ế
n.
“Làm phúc quá tay ăn mày không kịp”: thông báo một
nhận
định là
ở đời
làm
điều thiện
là một
việc
tốt
nhưng
cũng
giới hạn phải biết
nghĩ
đến
mình
ngữ,
tục
ng
ữ
.
1.2.2.3
Về
nội dung ý
nghĩa
Về
hình
thức
bên ngoài thì tục
ngữ
có
cấu tạo rất
nhỏ. Tuy hình
thức bề
ngoài nhỏ
nhưng
ý nghĩa và nội dung
tư tưởng rất lớn, lời
ít ý
nhiều.
Nội dung của tục
ngữ
là
nh
ữ
ng
cắn gà nhà”: đây là hành động
được
xem là không tốt của một
người
chuyên làm
những việc hại người nhiều
khi là
người
thân của mình.
“Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”: Chỉ ra một
nhận
định, một
sự việc
dù có
đ
ượ
c
Tru
c
n
h
g
e
đ
t
ậ
â
y
m
kín
@
ị
vạc
T
h
à
tr
i
ầ
l
n
iệ
,
p
u
h
ơ
h
i
ọ
b
c
ày
t
r
ậ
a
p
án
v
khác hay
hơn,
giỏi
hơn
trị
l
ạ
i.
Ngoài ra, còn có
rất nhiều
câu tục
ngữ
mang một nội dung ý nghĩa
rất lớn
và hay
như
“Gieo nhân nào gặp quả ấy”;
“
đ
ờ
i
cha ăn mặn đời con khát nước” hay
“
đ
ô
n
g
sao thì nắng, vắng sao thì
m
ư
để
phê phán hành vi
chờ đợi cầu
may
một cách ngốc
ngh
ế
ch,
vô ích.
“đứt
đuôi con nòng nọc”: dùng
để biểu
thị tính
chất
rõ ràng,
dứt
khoát của một
hành
động
hay là
sự biến
chuy
ể
n
của
sự vật hiện
t
ượ
ng.
Trên đây là một số
ngữ
và tục
ng
ữ
:
Thành
ngữ,
tục
ngữ
không
những được sử
dụng trong
lời ăn tiếng
nói hàng
ngày c
ủ
a
nhân dân mà nó còn
xuất hiện
trong sáng tác
văn chương
và trên các
ấn phẩm
báo chí.
Sở
dĩ
thành
ngữ,
tục
3.1.Tính hàm
s
ú
c
:
Nói
đến
tính hàm súc của thành
ngữ,
tục
ngữ
là chúng ta nói
đến đặc điểm
nổi
b
ậ
t
của chúng:
lời
ít, ý
nhiều
và
tiết kiệm
ngôn
từ đến mức
tối đa.Xét
về mặt
hình
thức
thì số
làm cho
lời
nói
trở
nên
ngắn
gọn, súc tích
h
ơ
n
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu
nhưng đồng thời vẫn
chuy
ể
n
tải được đầy đủ
nội dung
cần
thông báo
đến
cho
người
nghe.
Ví dụ: Khi muốn
cảnh
báo ai
về hậu quả
khôn
nói và
người
nghe: ai mê
cờ bạc ắt
có ngày
trở
nên nghèo
hèn. Hay khi muốn can
ngăn
cuộc cãi vã của hai
vợ
chồng nào đó,
người
ta chỉ
cần
nói
“Xấu chàng hổ ai”, dùng thành
ngữ
này
vừa
tránh cách nói sỗ sàng, huỵch
toẹt
“chồng
xấu vợ
mang
tiếng
lây” [24;829]
chứ
có hay ho gì;
đồng thời
ngữ
là một
đặc điểm rất cần thiết đối với
ngôn
ngữ văn chuơng.
Nó
trở
thành vũ
khí s
ắ
c
bén
để
tác
giả
làm nên thành công cho tác
phẩm
của mình.
Ví dụ:
Như
thành
ngữ:
“ Cố đấm ăn xôi” dùng
để
chỉ
sự “nhẫn
ngục, chịu
đựng để
kiếm được
cái gì đó” [24;186]
ngữ thơ
ca
đồng thời
mang
đến
giá trị
biểu đạt rất
cao.
đ
òi
hỏi
người đọc phải
tìm tòi, khám phá
mới cảm nhận hết được
thái
độ
chua xót mỉa mai
của Hồ Xuân
Hương đối với
số
phận
của
người
phụ
nữ
trong
thời
phong
ki
ế
ngắn
gọn, cô
đọng nhưng
không
trừu tượng,
khô khan và khó
hi
ể
u.
Hình
tuợng
trong thành
ngữ,
tục
ngữ
nói chung là hình
tượng
ngôn
ngữ chứ
không
phải
hình
tượng nghệ thuật,
có hình
ảnh rất
phong phú và đa
dạng được tạo
nên
từ
nhi
Đ
ác
H
nh
C
au
ầ
(
n
so
T
sá
h
n
ơ
h,
@
ẩn
d
T
ụ,
à
p
i
hó
li
n
ệ
g
như: Gầy như
ống
s
ậ
y
đ
ể
nh
đoảng như
canh
cần nấu
suông
Người
sống
hơn đống
vàng
đ
i
guốc trong bụng
Cái
nết
đánh
chết
cái
đ
ẹ
p
Lắm
sãi không ai đóng
dụng thành
ngữ,
tục
ngữ
có
sức gợi
hình cao,
gợi
lên
ở đối tượng tiếp
nh
ậ
n
sự
hình dung,
tưởng tượng ở
hình thái, tính
chất
của
vấn đề
đang
được
nói
tới
một cách
d
ễ
dàng.
Ví dụ: Thành
ngữ
khiu thông qua hình
ảnh
“ống
sậy”:
“ Cây thân cỏ cùng loại
với
lúa, thân cao,
lá
dài” [24;335].
Thành
ngữ,
tục
ngữ
không chỉ đem
lại
hình
ảnh
sinh
động
mà
đằng
sau
hững
hình
ảnh
đó
chứa đựng
nghĩa
biểu trưng
vô cùng thâm thúy. Chính
nội dung thông
báo của mình
đến đối tượng tiếp nhận.
Ví dụ: Khi nói
tới
thái
độ tắc
trách, ỷ
lại
của
nhi
ề
u
người đối với
công
việc
chung thì
người
ta đã dùng câu tục
ngữ:
“ Lắm sãi không
a
i đó
n
g
cửa chùa”,
từ việc
nêu lên một
sự việc
ủ
a
Đ
th
H
ành
C
n
ầ
g
ữ
n
,
t
T
ụ
c
h
n
ơ
g
ữ
@
đ
ượ
T
c
à
th
i
n
ê
h
n
bi
c
ể
u
ứu
trưng hết sức gần
gũi thân quen
với
phong tục
tập
quán của
người
dân
Việt
Nam và
c
ấ
u
trúc sóng đôi cân
đối,
âm
điệu
hoài hòa có
vần
có nhịp
“vỏ
dừa”,
“rồng”, “tiên”, …là
những
hình
ảnh biểu trưng hết sức gần
gũi thân thuộc trong
đời
sống của mỗi
người
dân
Việt
Nam.
Nhắc đến
chúng là
người
ta có
thể
liên
hệ, tưởng tượng,
hình dung ra
liền.
đ
ặ
c
biệt
khi
đưa
vào
sử
đối với
tác
phẩm văn chương
một cách
dễ
dàng
hơn.
Không
những thế, kiến
trúc sóng đôi
và
vần
nhịp hoài hòa, cân
đối
của thành
ngữ,
tục
ngữ
còn làm cho
độc giả khắc
sâu
nh
ớ
lâu
hơn vấn đề được đề cập
trong tác
ph
ẩ
m.
thức tới người
bình dân,
kể
c
ả
những người
không
biết đọc,
không
biết viết
cũng có
thể
ngâm
được
vài câu
Kiều.
Cách
giải
thích
đơn giản
là
Nguy
ễ
n
Du đã
biết sử
dụng vốn ngôn
ngữ
dân tộc vào trong sáng
tác của mình, đó chính là thành
ơ
t
h
ă
@
m
v
T
á
à
n
i
b
l
á
i
n
ệu
t
hu
h
y
ọ
ề
n
c
b
t
i
ngữ được thể hiện ở
chỗ,
bất cứ vấn đề
gì
được đề cập đến
trong thành
ngữ,
tục
ngữ đều
có tính khái quát cao
bằng
hình
ảnh
th
ự
c
tế
chứ
không
phải
lí
luận
suông. Theo
sự kiểm chứng
của
thời
gian, đa số các
sự vật
hi
ệ
người
nông
dân: nuôi
lợn
thì nhàn nhã còn nuôi
tằm
thì
vất vả, cực
nhọc
hơn,
nhân dân ta đã đúc rút
ra kinh
nghi
ệ
m
“ Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” .
Hay
với
câu tục
ngữ
“
đ
ấ
t
có
lề
quê có thói” cũng
được xuất
phát
từ nhận