Luận văn thạc sĩ " Thành ngữ trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long " pot - Pdf 12


Luận văn thạc sĩ

Thành ngữ trong truyện ngắn đồng
bằng sông Cửu Long

Nguyễn Thuỵ Thuỳ
MỤC LỤC
o0o

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………….….…… 4
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài……………………………………….…………….5
3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………….… 7
4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….….….8
5. Đóng góp của luận văn…………………………………………………….….8
6. Bố cục của luận văn…………………………………………………… …….9

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÀNH NGỮ VÀ VĂN HỌC ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG… ……………………………… ……….…10
1.1. Khái quát về thành ngữ……………………………………………… … …10
1.1.1. Khái niệm thành ngữ………………………………………………….….… 10

1.1.1.1. Quan niệm của các nhà nghiên cứu văn học…………………….….10
1.1.1.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ…………………… 11
1.1.2. Giá trị biểu đạt của thành ngữ……………………………………….… 14
1.1.2.1. Giá trị biểu đạt của nội dung………………………………….… 14
1.1.2.2. Giá trị biểu đạt của hình thức………………………………… … 26

3.1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long
……………………………………………………… …….…… …….99
3.1.2.1. Nghĩa biểu trưng……………………………………………… … 99
3.1.2.2. Khuôn thành ngữ………………………………………… ….….103
3.2. Giá trị biểu đạt của thành ngữ trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long
…………………………………………………………………… 106
3.2.1. Miêu tả thiên nhiên, cảnh vật đồng bằng sông Cửu Long ……………… 106
3.2.1.1. Thiên nhiên hoang vu, vắng vẻ, heo hút………………… …… 107
3.2.1.2. Khung cảnh thời chiến tranh………………………….….…….….110
3.2.1.3. Thiên nhiên dân dã và hữu tình…………………………… …… 112
3.2.1.4. Thiên nhiên trù phú và tràn đầy sức sống……………….…………115
3.2.2. Phản ánh hiện thực xã hội đồng bằng sông Cửu Long ….……………… 118
3.2.2.1. Cuộc sống gian khổ, mất mát từ chiến tranh……………… ….…118
3.2.2.2. Cuộc sống gia đình không trọn vẹn……………………… …… 120
3.2.2.3. Cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn dù vất vả mưu sinh…… …… 122
3.2.2.4. Cuộc sống phức tạp với lối sống tiêu cực thời cơ chế thị trường….124
3.2.3. Xây dựng hình ảnh con người đồng bằng sông Cửu Long .……………… 127
3.2.3.1. Ngoại hình…………………………………………………….… 127
3.2.3.2. Cảnh ngộ, thân phận……………………………………….………129
3.2.3.3. Hành động……………………………………………………… 132
3.2.3.4. Tâm trạng, trạng thái…………………………….……………… 134
3.2.3.5. Tính cách………………………………………… …………… 137
3.3. Tiểu kết …………………………………… ……….………………… 140
KẾT LUẬN…………………………………………………………………….…141
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….…144
NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN ……………………………………………………… 149
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………150 3.1. Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ trong truyện ngắn

với vần của yếu tố đầu trong vế thứ hai. Trong những tuyển tập truyện ngắn
khảo sát, chúng tôi nhận thấy vần liền thường xuất hiện ở vị trí giữa hai vế
của thành ngữ.
Ví dụ: (a) “ Nhưng thông thường hễ xa mặt thì cách lòng, con Miên
cũng đâu phải hạng “chim sa cá lặn” gì. Mấy năm trời lén lút gặp gỡ, thằng
nọ cũng nản, đem lòng yêu một con hoa khôi trường Gia Long” [1; 348]
(Những người hiện đại- Lê Thị Thanh
Minh)
(b) “Trước lời hiềm khích, bới bèo ra bọt, có ít xích ra nhiều về một số
thiếu sót của chánh quyền địa phương phát ra từ cửa miệng những kẻ chuyên
lê gót đặt chân tới hết đám nhậu nhẹt này mang sang cuộc đờn ca lâm ly
khác, ông cũng ngơ đi.” [3; 87]
(Nghĩ kỹ đi, hiền huynh- Huỳnh
Tâm Chí)
(c) “Chẳng đứa nào dám đụng vào giỏ tôm. Bà Ngọ tự làm lấy đem lên
bàn thờ cúng ông Ngọ: “Ông ơi! Ông có linh thiêng hãy về đây chứng giám
cho lòng thành của đứa con tàn tật và phù hộ độ trì cho nó.” [4; 333]
(Lòng mẹ- Trần Hồng Long)
(d) “Họ có vẻ yêu mến ông thiệt tình. Bằng cớ là ông không còn chức
quyền đã mấy năm và với cái bệnh ngặt nghèo không có triển vọng quay về
với quan trường, vậy mà họ vẫn đến với ông, nhiều khi đông nghẹt. Không
như cái câu ưa thích của cha cô khi luận bàn về thế thái nhân tình: “Hết xôi
rồi việc”. [3; 184]
(Cõi người- Lâm Thị Thanh Hà)
b/ Vần cách:
Khác với vần liền, vần cách là sự láy lại phần vần của một âm tiết mà
giữa chúng có ít nhất một âm tiết chen vào. Nhìn chung, thành ngữ có chứa
vần cách trong những tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL chủ yếu là vần cách một
âm tiết và vần cách hai âm tiết trở lên
● Vần cách một âm tiết.

Huệ)
Tóm lại, vần là một yếu tố ngữ pháp quan trọng của thành ngữ trong
truyện ngắn ĐBSCL. Cách gieo vần trong những sáng tác này thật phong phú
và đa dạng. Nhưng dù được gieo như thế nào đi chăng nữa thì vần trong
thành ngữ cũng góp phần đáng kể trong việc cấu tạo phát ngôn và biểu nghĩa,
làm cho câu văn trở nên trôi chảy và mạch lạc, êm tai.
3.1.1.2. Nhịp
Cũng như vần, nhịp là yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng ngữ điệu
của thành ngữ cũng như đóng vai trò nổi bật trong việc cấu thành sắc thái ý
nghĩa, khiến cho thành ngữ vừa ổn định về mặt cấu trúc vừa giàu nhạc điệu.
Nhịp không chỉ góp phần đáng kể trong việc cấu tạo phát ngôn, hình thành
chức năng cú pháp và chức năng biểu nghĩa mà còn làm nên một hiệu ứng
thú vị là giúp cho thành ngữ trở nên ấn tượng, dễ đọc, dễ thuộc, êm tai và
khắc sâu vào trí nhớ người tiếp nhận.
Ngoài ra, cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ cũng chịu ảnh hưởng bởi
nhịp điệu. Nếu phân nhịp chính xác thì ta sẽ hiểu đầy đủ ý nghĩa nội dung của
thành ngữ. Ngược lại, nếu ngắt nhịp sai sẽ dẫn đến hiểu lệch lạc không đúng.
Khảo sát trong những tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL, có thể thấy thành
ngữ có hai kiểu ngắt nhịp: ngắt nhịp theo vần và ngắt nhịp theo cấu trúc đối
ứng .
+ Ngắt nhịp theo vần
Cách ngắt nhịp thành ngữ chỗ gieo vần sẽ đảm bảo cho ý nghĩa của
thành ngữ chính xác hơn (tuy không phải lúc nào cũng đúng).
Ví dụ: (a) “Ngẫm ra chồng tôi quả có lý. Chuyện mở rộng một con
đường, xây một khu chế xuất, phát triển một nơi giải trí vui chơi hiện đại có
gì là ảnh hưởng đến cuộc sống tay làm hàm nhai của họ” [1 ; 680]
(Xóm nghèo- Nguyễn Ngọc
Tuyết)
(b)“Cùng nhau hứa hẹn ngày nên vợ nên chồng, đẹp mặt mẹ cha. Rồi
dẫn nhau về Châu Đốc , thăm danh lam thắng cảnh quê chồng. Ngờ đâu, vào

đường cho dãn gân dãn cốt.” [3 ; 512] (Thầy
tôi- Viễn Phương)
(c) “Ngày đó, cô Út tôi hội đủ những điều kiện mà bất kỳ người con gái
nào cũng ao ước: nhan sắc, gia đình thế gia vọng tộc, chồng giàu có, tài hoa.
Nết ghen dữ dằn của cô đã phá nát gia đình êm ấm. Dượng Út không chịu
được nổi phải bỏ lên Tây Nguyên rồi chết nơi rừng thiêng nước độc” [3;
253]
(Giọt buồn ký ức- Nguyễn
Thị Kỳ)
Với những thành ngữ được sử dụng trong các ngữ cảnh trên, để hiểu
được chính xác ý nghĩa của từng thành ngữ cũng như những nội dung, thông
tin mà tác giả gởi gắm, chúng ta chỉ có thể ngắt nhịp thành ngữ theo cấu trúc
sóng đôi: giữ ý/ giữ tứ; chiều tà/ bóng xế, gió mát/ trăng thanh, thế gia/ vọng
tộc, rừng thiêng/ nước độc.
Có thể nói, vần và nhịp vừa hài hòa nhau trong thành ngữ, vừa đảm
nhận cả chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của cả phát ngôn. Cả hai yếu tố
này đã làm cho câu văn thêm mượt mà, uyển chuyển, nhịp nhàng và dễ đọc,
dễ nhớ.
3.1.1.3. Cấu trúc sóng đôi
Cùng với vần và nhịp, cấu trúc sóng đôi là thủ pháp quan trọng tạo nên
tính cân đối, nhịp nhàng của thành ngữ tiếng Việt nói chung cũng như thành
ngữ trong các sáng tác của các nhà văn ĐBSCL nói riêng. Cấu trúc sóng đôi
được nhận thấy dễ dàng qua cấu trúc hình thức của thành ngữ. Trong các
tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL, cấu trúc sóng đôi của thành ngữ thể hiện ở hai
dạng phổ biến: sóng đôi bộ phận và sóng đôi phát ngôn.
a/ Sóng đôi bộ phận:
Với hình thức sóng đôi lặp lại cú pháp, đồng thời nhấn mạnh về ý nghĩa
của các cụm từ sử dụng từ nối và cặp từ đối ứng kết hợp với láy từ và láy
vần, dạng cấu trúc sóng đôi bộ phận đã giúp cho nhịp điệu thành ngữ trở nên
cân đối, đồng thời tạo ra tính uyển chuyển cho câu văn.

tôi thì khó hòa nhập lại với đời thường lắm. Nghèo đói, thất nghiệp và định
kiến xã hội nào có buông tha chúng tôi. Rồi ma dẫn lối, quỷ đưa đường sẽ
dắt chúng tôi về đường cũ.” [3; 498]
(Nợ trần gian- Hoài Tường
Phong)
(b) “Trước khi về đây, tôi tưởng quê mình còn nghèo lắm, không ngờ
mới hơn mười năm mà thành phố mình đã thay da đổi thịt, đâu đâu cũng
rạng rỡ tiếng nói tiếng cười của trẻ thơ” [3; 533]
(Bèo giạt hoa trôi- Hoài
Phương)
(c) “ Một đêm như bao đêm khác, cô ngồi quạt cho cha và bất chợt
nhìn sang cậu sinh viên đang xanh xao mê mệt trong giấc ngủ giả để quên
đau, trong đầu cô bỗng bật ra ý nghĩ, rằng có lẽ hạnh phúc lớn nhứt của đời
người là được sống bình yên khỏe mạnh, còn lại những cái khác, những cái
thường làm cho người ta nhức đầu chóng mặt, đổ mồ hôi sôi nước mắt, rốt
cuộc chỉ là thứ yếu mà thôi.” [3; 186]
(Cõi người- Lâm Thị
Thanh Hà)
(d) “Kiếp này, hắn đã lỡ là một con quỷ dữ. Phải, hắn sẽ trở về với quỷ,
bất chấp luật pháp, bất chấp viễn cảnh núi đao sông kiếm sẽ banh xác hắn
dưới mười tầng địa ngục.” [4; 53]
(Chuyện đồng bằng- Nguyễn Kim
Châu)
Trong những ngữ cảnh trên, thủ pháp cấu trúc sóng đôi phát ngôn của
thành ngữ đã phát huy hết giá trị biểu đạt của mình.Bản thân mỗi thành ngữ
tuy bao gồm những hình ảnh, tình huống, hoạt động khác nhau “ma dẫn lối”-
“quỷ đưa đường”, “núi đao”- “sông kiếm”,” thay da”- “đổi thịt” nhưng khi
sóng đôi với nhau thì chúng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa khái quát hơn, sâu
sắc hơn.
Như vậy, mỗi thành ngữ với cấu trúc sóng đôi tuy chứa đựng những đối

● Hình ảnh biểu trưng là con người
Có thể kể đến những thành ngữ: gái một con, hình ảnh ông từ vào đền,
mẹ góa con côi, ông ăn chả, bà ăn nem, người dưng (nước lã), Từ Hải….
(a) “Để coi, lúc mẹ thằng Thanh ẳm nó về đây, nó mới lên hai chớ
mấy. Rồi mấy năm sau, mẹ nó rớt nước mắt gởi con lại cho ông, bước đi
bước nữa. Làm thế nào được. Mẹ góa con côi.” [5; 283]
(Chiếc độc bình cổ- Nguyễn Ngọc
Tuyết)
(b) “-Dám thưa ông Tộc trưởng, chúng tôi không phải là kẻ thâm nho,
tài hèn chỉ đáng làm môn đệ của ông, nhưng ông đã dạy, tôi xin mạn phép
vâng lời, nhờ ông không chấp cho chuyện trước cửa Lỗ Ban múa búa.” [3;
691]
(Trao thân con khỉ mốc- Phi Vân)
(c) “Trong xóm còn có cô Huệ bị chồng bỏ theo bồ nhí. Thôi thì “ông
ăn chả bà ăn nem”, cô đã lao vào con đường ăn chơi sa đọa, kiếm tiền bằng
“vốn tự có”” [3; 703]
(Ông Chín xóm tôi- Lê Xuân
Bột)
● Hình ảnh biểu trưng là động- thực vật
Có thể nói, đây là là những hình ảnh biểu trưng xuất hiện rất nhiều
trong các tuyển tập khảo sát.
+ Đó là những hình ảnh con vật như: con gà, vịt, mèo, chó, cóc, trâu,
chim, én, cá, rùa, chuột, cọp, hùm, mểnh, quạ, tu hú, tôm, rồng, khỉ, cò, cua,
ngựa, bò, sóc, voi, tằm, ong…
Một số ngữ cảnh như:
(a) “Cũng lạ, cái tác phong hung hăng con bọ xít, quậy quạt lung tung
ấy của tôi chẳng làm ai trong trường mếch lòng cả. Chắc họ đều hiểu tôi là
thằng phổi bò ruột ngựa, tôi múa may để cho hả cái thanh niên tính quá dư
thừa của mình chớ nào có ẩn ý chơi trội hơn các chú bác, anh em” [5; 324]
(Chuyện ghét chuyện thương- Lương Hiệu Vui)

(Nhà không có đàn ông- Dạ
Ngân)
(b) “…đặc sắc nhất, đáng đồng tiền bát gạo nhất chỉ có màn xiếc
phóng dao của cô gái câm lúc nào cũng mặc bộ võ phục màu trắng và gã
thanh niên có khuôn mặt điển trai nhưng đen đúa, lầm lì” [4; 46]
(Chuyện đồng bằng- Nguyễn Kim
Châu)
(c) “- Tiêu cực nhiều quá mà mầy làm báo cũng không dám đưa lên
nhựt trình cho dân coi, dân củng cố lại niềm tin với Đảng.
- Có chuyện nên đưa, có chuyện muốn đưa lên giấy trắng mực đen
phải cân nhắc, thận trọng chứ ba?” [4; 142] (Tiếng bước
chân- Anh Động)
● Hình ảnh biểu trưng là những hiện tượng tự nhiên, thiên nhiên: đất,
trời, , sấm, sét, núi, biển, nắng, mưa, sóng, chớp, gió, ngày, đêm, chiều,
Ví dụ:
(a) “Chú Tư Đẳng từng nghĩ: Ắt thấy là người khai sáng một thứ Đạo
gì đó, chẳng qua “Phong vân chưa gặp hội” nên còn ẩn tích mai danh, chưa
có mặt cứu đời. [1; 14]
(Tiếng gọi ngàn- Đoàn Giỏi)
(b) Kiếp này, hắn đã lỡ là một con quỷ dữ. Phải, hắn sẽ trở về với quỷ,
bất chấp luật pháp, bất chấp viễn cảnh núi đao sông kiếm sẽ banh xác hắn
dưới mười tầng địa ngục.” [4; 53]
(Chuyện đồng bằng- Nguyễn Kim
Châu)
(c) Hai giọt nước mắt chợt lăn dài trên đôi gò má đã ít nhiều nắng táp
mưa sa. “ Ta đã may mắn…”.[3;193]
● Hình ảnh biểu trưng là bộ phận cơ thể con người: phổi, ruột, tay,
chân, miệng, mắt, đầu gối, gan, lòng, bụng, mũi,…
Ví dụ: (a) “Nếu trị sớm mà nó chết thì tao bị vạ lây. Còn khi nó đã
nhắm mắt xuôi tay trước mặt mọi người mà tao cứu được, mầy nghĩ xem, cái

Qua khảo sát thành ngữ trong các tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL, chúng
ta thấy vốn thành ngữ này nằm trong hai khuôn hình: thành ngữ ẩn dụ và thành
ngữ so sánh.
a/ Thành ngữ ẩn dụ
Trong vốn thành ngữ ở các tuyển tập truyện ngắn ĐBSCL, loại thành
ngữ ẩn dụ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng
bằng cụm từ nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.
Tìm hiểu loại thành ngữ ẩn dụ trong vốn thành ngữ này, có thể thấy
hình ảnh, sự kiện, hiện tượng biểu trưng có thể là con người, là động vật-thực
vật, sự vật, các hiện tượng tự nhiên hay các bộ phận trên cơ thể con người
Chẳng hạn như các ngữ cảnh sau:
(a) “Vợ ông, một người đàn bà ghen nổi tiếng, không coi việc làm của
chồng là hành động vì tình thương và trách nhiệm mà là mưu mẹo của cọp
nuôi mểnh, bù cắc nuôi gà con. Sợ mang tiếng ác, bà không nói thẳng mà nói
rằng nuôi hát bội trong nhà xui xẻo lắm, như nuôi ong tay áo” [3; 239]
(Một nghệ sĩ- Trang Thế Hy)
(b) “Cả cái xóm Lộ Tẻ và khu vực doanh trại quân đội quanh đây ai
cũng đồn rằng anh trị bệnh heo bò rất “mát tay”. Tuy nhiên phải nhìn nhận
nghề nào cũng có mặt trái của nó. Dù tốt nhịn vợ, anh đôi lúc cũng đâm khó
chịu khi phải chiều chuộng một gã trai tơ say rượu hay một ông già trái tính
lẩm cẩm. Làm dâu trăm họ mà” [4; 123]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status