1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước bước sang
một giai đoạn lịch sử mới. Văn học cả nước nói chung, văn học đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng cũng có sự vận động và phát triển, kịp
thời phản ánh đời sống xã hội trước yêu cầu mới của thời đại.
1.2. Truyện ngắn ĐBSCL gắn liền với nhiều nhà văn được người đọc
mến mộ như: Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức,…và
gần đây là Nguyễn Ngọc Tư. Họ viết hết mình về vùng đất nơi họ sinh ra, lớn
lên và trải nghiệm suốt cả cuộc đời từ nhiều góc độ, phương diện cảm nhận
cũng như cách thể hiện.
Thật sự thì gần đây có nhiều tác giả truyện ngắn viết về ĐBSCL khá
thành công và có nhiều triển vọng sẽ đi xa hơn. Điều đó đã mở ra nhiều
hướng đi mới đầy triển vọng cho văn chương vùng ĐBSCL.
1.3. Văn học cũng đòi hỏi có sự tổng kết ở từng giai đoạn để tạo thế đi
lên. Mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác đều cần được khuyến khích
tìm tòi, thể nghiệm.
So với các thể loại văn học khác, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 phát
triển nhanh về số lượng và có những đóng góp đặc sắc về nội dung cũng như
nghệ thuật, nhất là việc thể hiện đời sống, tâm hồn, tính cách của người
ĐBSCL trong thời kỳ này.
Thế nhưng đến nay các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một số
tác giả như Sơn Nam, Trang Thế Hy, Phi Vân, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng
… và chủ yếu là những sáng tác của họ trước 1975, và gần đây là một số công
trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Ngoài ra, cũng có một vài công trình nghiên cứu truyện ngắn ở một số
địa phương, như truyện ngắn An Giang, Đồng Tháp,…mà chưa có công trình
2
nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện về truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến
nay.
- Ý kiến bàn về hạn chế của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.
2.1. Ý kiến bàn về những đóng góp của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975
đến nay
2.1.1. Những đóng góp về nội dung truyện ngắn ĐBSCL
Trong bài Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 đến nay -
Thành tựu và những điều trăn trở, Hoài Phương nhìn nhận:“Truyện ngắn đã
có những cách tân và đạt nhiều thành tựu đáng tự hào về nội dung lẫn hình
thức thể hiện”[123]. Còn trong bài Đi tìm ‘‘chân dung’’ truyện ngắn đồng
bằng sông Cửu Long, Võ Tấn Cường nhận xét: “Phác thảo chân dung truyện
ngắn ĐBSCL, tôi cảm nhận được tính cách con người, sắc màu văn hóa của
vùng đất này’’[24]. Trong bài Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long: một khu
vực văn xuôi có nhiều đặc sắc, Chiêm Thành cũng đề cập đến: “tính cách con
người Nam bộ trong thời hiện đại đa diện và rất phức tạp, chứ không phải đơn
giản là phóng khoáng, hào hiệp, giàu tình nghĩa như cái nhìn bất di bất dịch
của một số người”[135, tr.53]. Còn ở bài Cá tính và bản lĩnh văn xuôi Nam bộ,
Hồ Tĩnh Tâm đã chỉ ra những đóng góp của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến
nay về nội dung phản ánh: ‘‘Dựng nên bức chân dung về tâm linh, tình cảm
của con người Nam bộ trong cuộc sống. Đó là những vấn đề luôn tạo nên niềm
trăn trở, thao thức trong đời sống hôm nay như: nỗi đau sau khi chiến tranh
qua đi; thân phận con người bị rơi vào hoàn cảnh bất hạnh; khát vọng tình yêu
và hạnh phúc; tự vấn lương tâm trước những những gì đã và đang diễn ra
trong cuộc sống’’[147].
4
Với bài Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long - một chặng đường phát
triển, tác giả đánh giá cao một số tác phẩm có giá trị đích thực đáng được
quan tâm với hai mảng đề tài lớn trong sáng tác văn học sau 1975 là ‘‘chiến
tranh cách mạng và quá trình xây dựng, đổi mới của đất nước’’. Trong đó, vấn
đề tự vấn lương tâm diễn ra xuyên suốt ở hai mảng đề tài này “Thân phận
nhân vật trong các tác phẩm thường gởi một phần cuộc đời trong chiến tranh
bom đạn, một phần thao thức vươn tới cuộc sống mới. Trong kháng chiến, văn
pháp trầm tĩnh, chân tình, đôi khi còn có phần chân phương trong cách viết,
Nguyễn Thanh đưa chúng ta đến với những cuộc sống và thế giới tinh thần của
những con người bình thường ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Bằng những
chi tiết nhỏ tươi nguyên, trang viết của Nguyễn Thanh phản ánh cuộc sinh sôi
thầm lặng hay cuộn chảy ào ạt ở Cà Mau trong dịp xây dựng. Ở đó có những
con người làm việc không mệt mỏi với một ý thức lao động đẹp đẽ không hề
nhân danh cho những giá trị lớn lao. Ở đó đầy ắp tiếng cười con trẻ, tiếng
sóng biển, ánh lửa đốt đồng, tiếng vịt gọi bầy, tiếng xuồng lao trong đêm trên
kênh rạch thoảng mùi bùn nồng ấm’’[133].
Bàn về Thế giới truyện ngắn Bích Ngân, Huỳnh Phan Anh nhận định:
“Qua từng trang toát ra hơi thở và nhịp đập của vùng đất thân thương nơi tận
cùng của đất nước, tác giả đã đưa người đọc đến hoặc đến gần hơn, với
những mảnh đời và cảnh đời làm nên hồn đất lẫn hồn người, hiền hoà và
mãnh liệt, đã mở ra nhiều cánh cửa nhưng còn đó bao điều bí ẩn. Ngôn ngữ và
phong cách Bích Ngân in rõ những nét đặc trưng Nam bộ…Nhưng điều đáng
nói và cũng hiện rõ trong tài năng của cô là chất giọng Nam bộ vẫn in đậm
trên từng trang viết nhưng không nặng phần câu nệ hay cứng nhắc đến cường
điệu trong từng câu, từng chữ mà vẫn toát ra nét tinh tế và trữ tình riêng mở
6
toang mọi giới hạn…Truyện ngắn Bích Ngân thường dung dị, với những con
người và cuộc sống thật bình thường, gần gũi, dễ tìm tới nhất, dễ bắt gặp
nhất…”[7].
Đánh giá về nhà văn Trang Thế Hy, Chiêm Thành trong bài văn xuôi
ĐBSCL có nhiều đặc sắc đã nhận xét: ‘‘Ông đã ý thức được sức nặng của từng
con chữ - sức nặng ấy có được là nhờ sự chiêm nghiệm về cuộc đời mà trên
hết là nhờ nỗi đau đớn trong ý thức trả những món nợ nước mắt của thế
gian”[135].
Nhà văn Nguyên Ngọc cũng có nhận xét khá thú vị về Nguyễn Ngọc Tư,
ông ví: “Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng
đước Nam bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát
mang đậm đặc trưng của miền đất Nam bộ”[196, tr.11].
Trong bài giới thiệu truyện ngắn trên Website Văn nghệ sông Cửu Long
với tựa đề Một phong vị đồng bằng riêng biệt, Tường Vi viết: “Tập truyện đã
gợi lên cho người đọc hình ảnh sông nước, làng quê với cảm giác nhớ nhung,
khắc khoải về một vùng đất, đặc biệt là trầm buồn trong những ngày mưa lũ,…
cho người đọc những câu chuyện thú vị về một vùng đất hào sảng, nơi có
những tay “sát cá”, những buổi “ ăn ong”, những vùng nước cá tôm nhiều vô
kể’’[195].
Còn ở bài Thiên nhiên và con người Nam bộ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư, Tiền Văn Triệu nhận định: ‘‘Dòng sông và cánh đồng rộng là không
gian phù hợp để những câu hò, câu ca vọng cổ cất lên mỗi khi gặp nỗi buồn’’
Nguyễn Thanh lại có cái nhìn khái quát hơn về sự trù phú của thiên
ĐBSCL: “Vốn là một vùng châu thổ nhiệt đới, được tạo thành do phù sa Cửu
8
Long bồi tụ…đây là vùng đất trẻ, đất mới với điều kiện địa lý đặc thù thiên
nhiên ưu đãi”[134, tr.59].
Từ những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, mỗi công trình nghiên cứu có
cách tiếp cận khác nhau. Hướng tiếp cận chủ yếu của các công trình trên là
hướng tiếp cận nhân học và hướng tiếp cận văn hóa học (đương nhiên không
thể thiếu hướng tiếp cận ngữ văn học). Theo những hướng tiếp cận này, các
nhà nghiên cứu trên khai thác tập trung vào đặc trưng tính cách con người và
đặc trưng văn hóa mà các truyện ngắn ĐBSCL đã vẽ nên qua lăng kính đạo
đức - thẩm mỹ và cá tính của mỗi nhà văn. Nhìn chung, các công trình trên đã
đề cập đến những đóng góp nổi bật ở phương diện nội dung của truyện ngắn
ĐBSCL sau 1975.
2.1.2. Những đóng góp nổi bật về nghệ thuật
Trong tham luận hội thảo Bàn tròn văn xuôi ĐBSCL, lần I, Hồ Tĩnh Tâm
có nhận xét: “Một số cây bút văn xuôi ĐBSCL đã sử dụng thành thục các giá
trị đặc trưng ngôn ngữ Nam bộ, thậm chí còn nâng cao ngôn ngữ Nam bộ lên
tầm cao của ngôn ngữ nghệ thuật”[147]. Ông còn cho rằng truyện ngắn
nhiên, thoải mái,“viết như chơi”[184].
Trần Phỏng Diều bàn về Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư: “Có thể nói, thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
chính là hình tượng người nghệ sỹ, hình tượng người nông dân và hình tượng
con sông đưa mình uẩn khúc, chở nặng tình người”[31].
Còn ở bài Điểm nhìn và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Ông Thiềm
Thừ của Trần Kim Trắc, Đỗ Thị Hiền nhận định: Truyện ngắn này “gửi đến
chúng ta một thông điệp về nhân cách con người từ góc nhìn văn hoá”[69].
10
Trong bài Yếu tố giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam, Trần Phỏng
Diều nhận xét: “Điều dễ nhận thấy nhất trong giọng điệu truyện ngắn Sơn
Nam đó là giọng ngậm ngùi, giọng tâm tình, hoài niệm, giọng rề rà, chậm rãi.
Có thể nói giọng rề rà, chậm rãi là một đặc trưng trong truyện ngắn của
ông...”[30].
Bàn về phong cách Sơn Nam, có ý kiến cho rằng: ‘‘Văn Sơn Nam không
ồn ào như gió chướng, lại không trong veo như nước cất trong phòng thí
nghiệm, mà nó là thứ nước chất lỏng hồng hào có tên phù sa, chỉ cần vốc lên
đã thấy mỡ màu cả bàn tay... Những cảnh, những đời, những tâm sự của ông
dù với tính cách hảo hớn, hào hùng nhất, sảng khoái và chịu chơi nhất bao giờ
cũng pha một giọng kể trầm buồn, u hoài, xa vắng’’[58].
Ở bài Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đậm sâu một phong cách Nam Bộ,
Trần Vệ Giang đã viết: “Không phải kiểu Nam bộ quê rặt, địa phương tính,
văn chương của Nguyễn Quang Sáng có cái hơi thở đồng bằng, phù sa dòng
sông, cái khoáng đạt, giản đơn của con người miền sông nước. Và quan trọng
hơn hết là, ông thâu tóm vào tác phẩm cái hồn cốt Nam bộ”[187].
Ngoài các công trình đã đề cập trên đây, trong các trường đại học ở khu
vực và thành phố Hồ Chí Minh sinh viên, học viên cao học ngành ngữ văn đã
thực hiện luận văn với đề tài về truyện ngắn ĐBSCL sau 1975. Trong số đó
đáng chú ý là đề tài Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Đồng Tháp giai đoạn
1975 đến 2005 (Luận văn thạc sĩ - Nguyễn Anh Dân). Tác giả luận văn đã
Cũng trong bài Đi tìm ‘‘chân dung’’ truyện ngắn ĐBSCL, khi bàn về ngôn
ngữ truyện, Võ Tấn Cường có những nhận xét khá thẳng thắn: ‘‘Ngôn ngữ kể
chuyện trong nhiều truyện ngắn pha tạp nhiều khẩu ngữ, thiếu sự gọt giũa,
chắt lọc....’’[24, tr.14].
12
Bàn về phong cách diễn đạt của Nguyễn Ngọc Tư, Bùi Việt Thắng nhận
xét: “Văn viết Nguyễn Ngọc Tư gần với văn nói”[146].
Trong bài Bàn tròn văn xuôi ĐBSCL khi nhìn nhận về hạn chế của truyện
ngắn, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã dẫn ý kiến của Nguyên Tùng: ‘‘Thừa tả
thực mà thiếu tưởng tượng. Truyện ngắn của các tác giả ĐBSCL chúng ta dễ
gây cho người đọc cảm giác:‘‘Đó là câu chuyện có thật’’.‘‘Nguyên liệu thô’’
còn đan bện quá nhiều trong tác phẩm hư cấu. Chính điều này đã làm giảm sự
hứng thú cho người đọc...’’[147, tr.41].
Nhìn chung các nghiên cứu về truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 đều có
được những tìm tòi, khám phá đáng quý, đáng trân trọng. Lẽ dĩ nhiên công
trình của chúng tôi sẽ được thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu mà các nghiên
cứu trước đó đã gợi ra hoặc khẳng định. Trên cơ sở đó, chúng tôi có điều kiện
để đi sâu hơn, phát hiện thêm những điều mới mẻ về truyện ngắn ĐBSCL sau
năm 1975.
3. Mục đích nghiên cứu
Văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng cũng đòi hỏi có sự tổng
kết ở từng giai đoạn. Vì vậy, khi thực hiện đề tài Khảo sát đặc điểm truyện
ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay, chúng tôi có điều kiện tiếp
cận toàn diện vấn đề. Qua đó, luận án làm rõ quan niệm truyện ngắn về
ĐBSCL cũng như nhận diện diện mạo, sự vận động và những đặc điểm chủ
yếu của thể loại này.
4. Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ 1975, vì đây là năm đánh dấu
sự chuyển biến lớn lao của đất nước. Văn học nói chung, văn học ĐBSCL
cũng bắt đầu vận động theo qui luật đời thường.
và những vấn đề được các nhà văn phản ảnh trong tác phẩm; đồng thời,
người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp hệ thống
Nghiên cứu truyện ngắn ĐBSCL phải đặt trong sự vận động phát triển
của truyện ngắn Việt Nam sau 1975, và bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá của
vùng ĐBSCL.
5.2. Phương pháp loại hình
Với phương pháp này, luận án tìm hiểu đặc điểm của truyện ngắn
ĐBSCL từ 1975 đến nay dựa trên những đặc trưng của thể loại truyện ngắn.
5.3. Phương pháp miêu tả, so sánh
Để làm rõ diện mạo và đặc điểm riêng của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975
đến nay.
5.4. Phương pháp liên ngành
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài có sự liên quan chặt chẽ đến
vấn đề và lịch sử, xã hội, văn hoá và địa lý tự nhiên của vùng đất Nam bộ, vì
vậy sự kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa các lĩnh vực là sự
cần thiết.
6. Những đóng góp của luận án
6.1. Về giá trị khoa học
Đóng góp của luận án là làm rõ quan niệm về truyện ngắn ĐBSCL, cũng
như nhận diện diện mạo, sự vận động và đặc điểm chủ yếu của truyện ngắn
ĐBSCL từ 1975 đến nay.
6.2. Về giá trị thực tiễn
15
Chúng tôi hi vọng luận án phần nào sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích
đối với các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến truyện ngắn ĐBSCL
sau 1975.
Mặt khác, kết quả luận án đạt được có thể là cơ sở cho các nhà biên soạn
lựa chọn được những truyện ngắn ĐBSCL tiêu biểu để đưa vào sách giáo
khoa hoặc tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu môn văn
Thơ, với dân số trên 21 triệu người, nơi đây:
Ruộng đồng mặc sức chim bay
Biển bờ lai láng, cá bầy đua bơi
Nói đến ĐBSCL là nói đến một thực tại lịch sử - lịch sử khai phá vùng
đất đất Nam bộ nói chung và ĐBSCL nói riêng. Trước thế kỷ XVII, vùng đất
này ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch, với dân số bản địa ít ỏi và thưa thớt.
Sang thế kỷ XVII, dưới thời các Chúa Nguyễn cư dân người Việt ở miệt ngoài
di cư vào đây lập nghiệp khai phá. Và thực dân Pháp tiếp nối tiếp nối quá
trình đó trong chính sách khai thác thuộc địa.
17
ĐBSCL trong suốt tiến trình lịch sử của mình luôn trải qua những biến
cố liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc.
Điểm đặc trưng nhất khi nói đến ĐBSCL là người ta dễ dàng liên tưởng
đến một vùng sông nước. Ở đây những dòng sông xẻ ngang, xẻ dọc, những
con rạch chằng chịt ôm lấy những cánh đồng lúa bao la, ôm lấy xóm ấp tạo
nên một hình thái giao thông hết sức đa dạng. ĐBSCL được coi là vương
quốc của sông rạch. Chính vì vậy mà người dân miền Tây có thể ngồi trên ghe
đi khắp vùng đồng bằng, qua các thành phố, thị trấn, xóm ấp, miệt vườn... mà
không phải đặt chân lên bờ. Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của
người dân luôn gắn bó với mọi biến động của dòng nước, của con nước. Nếu
ngoài Bắc người dân bám lấy mặt đường để làm ăn buôn bán, ở ĐBSCL
người dân bám lấy mặt sông, mặt kênh mà sinh sống. Có chỗ một dãy dài vài
ba cây số, dân làm nhà chen chúc hai bờ sông, sàn nhà mấp mé mặt nước.
Nhà nào cũng hướng ra mặt sông, mở cửa là bước xuống xuồng. Sông rạch ở
đây còn đem phù xa nước ngọt bồi đắp, tưới mát cho những miệt vườn đầy ắp
trái cây, những cánh đồng lúa tươi tốt và cá tôm nhiều vô kể. Dường như con
người nơi đây đã gắn chặt cuộc đời mình với sông nước, nơi nào có sông,
rạch là có ghe, xuồng. Có chiếc ghe để làm ăn sinh sống là là nhu cầu và ước
vọng của người dân. Nhiều gia đình đời này qua đời khác lập nghiệp bằng
chiếc ghe, coi nó như ngôi nhà của mình. Nhiều ghe thuyền tụ lại tạo nên khu
văn hoá lịch sử và địa lý của một vùng và gọi tắt là vùng văn hoá.‘‘Vùng văn
hoá là một vùng lãnh thổ, có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư
sinh sống ở đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử có những tương
đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua các mối quan
hệ giao lưu, ảnh hưởng văn hoá qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành
19
những sắc thái văn hoá chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và
văn hoá tinh thần, có thể phân biệt với những vùng văn hoá khác’’[150, tr.64].
Trong mỗi vùng như vậy lại có những tiểu vùng và có những đặc trưng riêng
lẻ.‘‘Vùng văn hoá Nam bộ, xét trên cả phương diện địa lý và lịch sử, đều là
vùng thứ bảy và có ba tiểu vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ và tiểu vùng Sài
Gòn - Gia định’’[154, tr.17].
Điều kiện địa lý và lịch sử làm cho ĐBSCL có những nét đáng lưu ý về
mặt văn hoá. Đây là nơi cộng cư của nhiều tộc người như Việt, Hoa, Khmer,
Chăm trong đó người Việt đóng vai trò chính. Ngay người Việt cũng là dân
‘‘tứ chiếng’’ gồm nhiều lớp người với nhiều nguyên nhân từ Bắc và Trung bộ
hội nhập về đây. Cho nên, đây là nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hoá giữa
các tộc người, là vùng văn hoá với nhiều sắc thái đặc trưng. Những người Việt
đầu tiên đến định cư ở vùng đất mới đều từ miền Bắc và miền Trung. Họ đến
và mang theo vốn văn hóa gốc rễ của mình. Bốn nguồn văn hóa cộng lại
thành một nền văn hóa cộng cư đặc trưng của ĐBSCL trong nền văn hóa Việt
Nam. Đó là một nền văn hóa vô cùng phong phú và lạ lẫm. Nếu người Việt có
những làn điệu cải lương hay những câu hò, điệu lý thì người Khmer lại thể
hiện bản sắc của mình trong điệu múa roăm - vuông, hát đối đáp Aday hay
nhịp trống Chay - dăm. Nếu người Chăm có những hoạt động nghệ thuật sôi
động trong những ngày kết thúc tháng Ramada sinh nhật Muhamed hoặc các
dịp hôn nhân cưới hỏi thì người Hoa lại góp vào đời sống văn hóa Nam bộ
những câu hát Tiêu, hát Quảng...
Nhưng sức hấp dẫn mãnh liệt nhất của mảnh đất này vẫn là những trang
sử đấu tranh chói lọi thể hiện tinh thần bất khuất và ý chí quật cường của
ảnh chiếc xuồng ba lá là một biểu tượng văn hóa vùng sông nước. Nếu trang
21
phục truyền thống của người miền Bắc là áo tứ thân thì Nam bộ là áo bà ba.
Hình ảnh chiếc áo bà ba đã đi vào âm nhạc, văn chương, trở thành biểu tượng
của văn hóa mặc Nam bộ. Đối với vùng ĐBSCL, chợ nổi không đơn thuần là
nơi buôn bán trao đổi hàng hóa mà đã trở thành nét văn hóa riêng của vùng
sông nước.
Bàn tới văn hoá vùng đất này, chúng ta không thể không nói tới tính cách
Nam bộ. Sơn Nam, Trịnh Hoài Đức khi bàn về tính cách người khẩn khoang ở
vùng đất phương Nam hoang sơ và khắc nghiệt, đã dùng cụm từ ‘‘sĩ khí hiên
ngang’’ để chỉ những con người ‘‘kiến nghĩ bất vi vô dõng giả’’, chuộng công
bằng lẽ phải’’[104]. Trong cuốn Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt
Nam có nhận xét về con người Nam bộ ‘‘Họ cởi mở, chan hoà, dễ kết thân, dễ
hoà vào cộng đồng mới lạ, không sĩ diện kiểu kẻ sĩ, không coi trọng môn đăng
hậu đối’’[154, tr.50]. Dương Hoàng Lộc nhìn nhận con người Nam bộ ở tính
khoan dung: ‘‘Người Việt đến từ một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước lâu
đời,... tinh thần tương trợ, thương yêu, nhân ái và thấm đượm tính khoan dung
hết sức nhân bản của 4000 năm văn hoá dân tộc’’[92, tr.69].
Tính cách Nam bộ là một khía cạnh văn hoá ứng xử và để lại dấu ấn rõ
rệt trong mọi mặt đời sống văn hoá. Ở vùng đất mới, người dân phải trải qua
biết bao khó khăn gian khổ trong cuộc sống. Vì thế, ngay từ buổi đầu gặp gỡ,
họ đã biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Mối quan hệ
giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên trở nên gắn bó chặt chẽ
hơn. Mặt khác, sống trong điều kiện sông nước mênh mông, nhiều kênh rạch,
không bị giới hạn bởi sự ngăn cách từ đó hình thành nếp sống, cách cư xử, nét
sinh hoạt và một phần tính cách con người ĐBSCL. Lưu dân người Việt ở
vùng đất này đa số xuất thân từ những gia cảnh nghèo khó, ít chữ nghĩa. Hơn
nữa, khi vào vùng đất mới, họ cũng ít chịu ảnh hưởng của nho giáo, không
rành ngôn ngữ thánh hiền, không quen dùng văn chương hoa mỹ, thích nói
22
làm rõ diện mạo cũng như những đặc điểm nổi bật về cả hai phương diện nội
dung và hình thức của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.
1.2. Quan niệm về truyện ngắn và truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long
1.2.1. Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là gì? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời để có thể làm vừa lòng
tất cả mọi người. Khi xác định nội hàm khái niệm truyện ngắn, các nhà
nghiên cứu đã đặt truyện ngắn trong mối quan hệ với các thể loại tự sự khác.
Cách làm phổ biến là so sánh truyện ngắn với tiểu thuyết. Về cơ bản, truyện
ngắn và tiểu thuyết có những đặc điểm giống nhau. Phân tích 600 truyện ngắn
và 300 tiểu thuyết, Helmut Bonhein đã đưa ra kết luận: “Không có yếu tố đơn
lẻ nào trong nhiều định nghĩa truyện ngắn mà không thể tìm thấy trong tiểu
thuyết”[43, tr.420]. Đứng trên quan điểm này, Norman Friedman, một nhà lý
luận tầm cỡ về thể loại truyện ngắn cũng nhận định:“Quá trình quy nạp là thu
thập một mẫu đúng về những gì được coi là truyện ngắn để kiểm tra đặc điểm
của chúng trong mẫu đó và so sánh những đặc điểm này với những đặc điểm
lấy ra từ mẫu đúng của tiểu thuyết”[43, tr.420]. Và Friedman cũng cho
rằng :“Có thể không có sự khác biệt nào giữa truyện ngắn và tiểu thuyết (từ
những yếu tố bề ngoài về độ ngắn dài); hoặc có thể kết quả tốt hơn, đó là sự
khác biệt về cấp độ chứ không phải về chủng loại”[43, tr.421]. Hay nói khác
hơn, ông đã chỉ ra:“Truyện ngắn chỉ khác tiểu thuyết ở quy mô của hành động
và cách thể hiện hành động ở mức độ dài ngắn (tức là khác biệt về cấp độ) chứ
không có sự khác nhau về thể loại (vì cũng là hình thức tự sự hư cấu bằng văn
xuôi)”[43, tr.421]. Như vậy, theo quan niệm của Friedman, nếu so sánh truyện
ngắn với tiểu thuyết ta sẽ thấy một trong những sự khác biệt giữa cốt truyện
24
của truyện ngắn và cốt truyện của tiểu thuyết không phải là sự khác biệt về
tầm cỡ lớn nhỏ của các hành động mà là trong cái cách trình bày các hành
động đó: toàn bộ hay tóm tắt. Một truyện có thể ngắn không phải vì hành
động của nó vốn nhỏ mà chủ yếu quy mô được rút gọn, tóm tắt, trình bày một
cách cô đọng. Trong khi đó quy mô được mở rộng trong tiểu thuyết miêu tả
hoặc tưởng tượng hoặc phóng túng. Biến hoá về nội dung thay đổi vô cùng tận.
Muốn có chất liệu để kể, cần một cái gì đó xảy ra, dù đó là một thay đổi chút
xíu về sự cân bằng về các mối quan hệ. Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì
cũng thành biến cố. Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu
quả, vì nó làm cho sự chờ đợi bị hụt hẫng”[6, tr.79].
Nhà lí luận văn học N.A.Gulaiep quan niệm: “Truyện ngắn là hình thức
tự sự loại nhỏ, trong đó nó khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn tập
trung mô tả một sự kiện nào đó thường xảy ra trong đời của một nhân vật, hơn
nữa thường bộc lộ một nét nào đó của nhân vật”[110, tr.146].
Như vậy, qua quan niệm về truyện ngắn của một số nhà nghiên cứu
nước ngoài, cho thấy ưu thế lớn nhất của thể loại này là với dung lượng ít
nhưng có thể truyền tải được một nội dung tư tưởng lớn. Mỗi nhà nghiên cứu
đều có lý lẽ và cách lý giải khác nhau nhưng các quan niệm trên cũng có phần
giống nhau. Đại đa số đều cho rằng, truyện ngắn là một cách nhìn cuộc đời,
một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại. Khác với tiểu
thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn
của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phác họa
một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh trong đời sống tâm hồn con người.