LUẬN VĂN: Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đồng bằng sông Cửu Long - Thực trạng và giải phá - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đồng bằng
sông Cửu Long - Thực trạng và giải phá
Mở đầu


- Phát triển nông nghiệp hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước - Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội 1999.
- Phát triển kinh tế hàng hóa ở tỉnh Ninh Thuận: Thực trạng và giải pháp -
Luận án thạc sĩ khoa học kinh tế, của Nguyễn Bá Ninh, Hà Nội 2000.
- Chính sách thị trường với phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chu Hữu
Quý và Nguyễn Kế Tuấn, Tạp chí cộng sản, (20) 10/1998.
- Đẩy mạnh phát triển một số hàng nông sản xuất khẩu có sức cạnh tranh trên
thị trường quốc tế của Lê Huy Ngọ, Tạp chí Kinh tế nông nghiệp, số 2/1998.
Và nhiều tác phẩm liên quan khác.
Nhưng những công trình này chỉ mới đề cập đến những định hướng và một số
chủ trương lớn hoặc cụ thể để phát triển kinh tế hàng hóa nói chung, nông nghiệp hàng
hóa nói riêng chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống việc phát triển nông
nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL. Như vậy trên thực tế chưa có công trình nào trùng với tên
đề tài nghiên cứu luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích: Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và
phương hướng, giải pháp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa góp phần phát
triển kinh tế - xã hội ĐBSCL nói riêng, cả nước nói chung.
b) Nhiệm vụ:
- Làm rõ sự cần thiết và vai trò việc phát triển nông nghiệp hàng hóa ở
ĐBSCL.
- Phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở
ĐBSCL, đồng thời xác định rõ những nguyên nhân của thực trạng.
- Trình bày những phương hướng và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long
12
1.3. Tiềm năng, điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đồng
bằng sông Cửu Long
17
Chương 2: thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở
đồng bằng sông cửu Long và những vấn đề đặt
ra cần giải quyết
30
2.1. Thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đồng bằng sông
Cửu Long
30
2.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 53
2.2.1. cơ cấu sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp còn mất cân đối 53
2.2.2. Chất lượng hàng hóa nông, lâm, thủy sản nhìn chung còn thấp
không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
54
2.2.3. Về thị trường nông thôn 55
2.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp hàng hóa và cơ sở hạ 58
tầng cho nông thôn

Chương 3:
Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ
yếu nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng
hóa ở đồng bằng sông cửu long
60
3.1. Những phương hướng chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển nông Chương 1
Nông nghiệp hàng hóa: Nội dung, vai trò
và những tiềm năng điều kiện phát triển nó
ở đồng bằng sông Cửu Long

1.1. Nông nghiệp hàng hóa: khái niệm, nội dung
1.1.1. Khái niệm
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa, là hai hình thức kinh tế - xã hội đã hình
thành và tồn tại trong quá trình lịch sử nhân loại. Hai hình thức này được hình thành
và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, trình độ phân công lao
động xã hội, trình độ phát triển và phạm vi của quan hệ trao đổi khác nhau.
Ai cũng biết rằng kiểu tổ chức kinh tế đầu tiên của loài người, là kinh tế tự
nhiên, với đặc trưng chủ yếu là tự cung, tự cấp - tức sản phẩm lao động được sản xuất
ra chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất hoặc chỉ trong nội bộ đơn vị kinh tế.
Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh tế thuần nhất hợp lại. Kinh tế nông dân kiểu
gia trưởng, công xã nông thôn nguyên thủy, các điền trang thái ấp của địa chủ. Và mỗi
đơn vị kinh tế ấy làm đủ các loại ngành nghề, sản xuất sản phẩm để tự tiêu dùng, sản
xuất chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng mang tính tự cung tự cấp.
Trong nền kinh tế tự nhiên, con người dựa chủ yếu vào tự nhiên và khai thác
tự nhiên, do đó có thể nói rằng trong nền kinh tế này, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ
yếu của người lao động và nông nghiệp là ngành sản xuất chính, kỹ thuật, công cụ lao
động, phương thức canh tác lạc hậu và thô sơ.
Xã hội loài người "chìm đắm" trong nền kinh tế tự nhiên hàng nghìn năm rồi
mới phát triển lên kinh tế hàng hóa.
Kinh tế hàng hóa là loại hình tổ chức kinh tế - xã hội cao hơn kinh tế tự nhiên.
Phân công xã hội là cơ sở chung của mọi nền kinh tế hàng hóa. Song, chỉ riêng phân

khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã xây dựng
xong" [19, 97].
Kinh tế hàng hóa, nếu xét theo phạm vi hoạt động và tính chất khu vực thì ở
mỗi quốc gia đều bao gồm các bộ phận hợp thành là kinh tế hàng hóa thành thị và kinh
tế hàng hóa nông thôn.
Kinh tế hàng hóa nông thôn bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất hàng hóa
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ diễn ra trên địa bàn nông thôn.
Nông nghiệp hàng hóa là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa nói chung, nó
sản xuất ra nông sản phẩm (nông, lâm, ngư nghiệp) không phải để tự tiêu dùng của
người sản xuất, mà là để trao đổi, để bán trên thị trường, nó là hình thức tổ chức kinh
tế - xã hội, trong đó có mối quan hệ kinh tế giữa người với người, giữa các chủ thể với
nhau được thể hiện thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường, quan hệ hàng hóa -
tiền tệ, quan hệ thị trường, quan hệ hạch toán là những quan hệ kinh tế chủ yếu của
loại hình này, chịu sự chi phối bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của quan
hệ sản xuất, thiết chế kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, văn hóa trong đó trực tiếp
và khách quan là sự tác động của các quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật
cạnh tranh.
Nền nông nghiệp hàng hóa ra đời đối lập với nền nông nghiệp tự cung tự cấp.
Nó có nhiều ưu thế so với nông nghiệp tự túc tự cấp. Vì vậy, trong lịch sử phát triển
kinh tế của xã hội loài người thì sự ra đời và phát triển của nông nghiệp hàng hóa được
coi là một bước tiến bộ của lịch sử, một nấc thang phát triển của nền văn minh nhân
loại.
1.1.2. Nội dung phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
1.1.2.1. Xây dựng cơ cấu sản phẩm, kinh tế nông nghiệp hàng hóa hợp lý
Nông nghiệp hàng hóa hiểu theo nghĩa rộng sản phẩm của nó đa dạng bao
gồm sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Mỗi ngành lại
chia thành những phân ngành nhỏ hơn, chẳng hạn như ngành nông nghiệp phân thành

Nông sản phẩm được tạo ra trong sản xuất của ngành nông nghiệp được mang
đi trao đổi trên thị trường với tư cách một hàng hóa thì thị trường nông phẩm cũng
xuất hiện. ở đây, các yếu tố, các điều kiện, các phương tiện và môi trường để thực
hiện giá trị hàng hóa nông phẩm cũng giống như các thị trường hàng hóa thông thường
khác. Cơ chế thị trường bắt buộc mọi người thực hiện ý chí của mình theo quy luật
kinh tế khách quan vốn có của nó.
Về mặt không gian vùng lãnh thổ, thì nông nghiệp hàng hóa bao gồm các vùng
khác nhau. Những vùng kinh tế hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trên
phạm vi nông thôn cả nước, chẳng hạn như vùng chuyên canh lúa, vùng cây công
nghiệp, vùng chuyên canh cây ăn quả, vùng chăn nuôi Sự chuyên môn hóa sản xuất
theo vùng nhằm bố trí các ngành sản xuất trên các vùng lãnh thổ sao cho thích hợp để
khai thác được mọi ưu thế về nguồn lực của mỗi vùng, căn cứ vào điều kiện kinh tế, kỹ
thuật và tự nhiên của từng vùng. Xu thế phát triển của kinh tế vùng là ngày càng
chuyên môn hóa và tập trung hóa, hình thành trên các vùng trọng điểm sản xuất hàng
hóa có hiệu quả kinh tế cao, để từ đó mở rộng ra các ngành khác. Còn trong mỗi vùng,
lại dựa vào ngành sản xuất chuyên môn hóa mà phát triển mạnh mẽ ngành chuyên môn
hóa, đồng thời khai thác một cách đầy đủ nguồn tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật và
lao động của từng vùng ở nông thôn.
Về mặt kinh tế xã hội, kinh tế hàng hóa nói chung và nông nghiệp hàng hóa
nói riêng ở nông thôn, tồn tại và phát triển được trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp
nhiều thành phần. Do trình độ phát triển và trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất
không đều nhau, nên quan hệ sản xuất (bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản
lý và quan hệ phân phối) cũng mang tính đa dạng, bên cạnh đó thì thích ứng với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có những quan hệ sản
xuất, thành phần kinh tế cũng như hình thức tổ chức kinh tế tương ứng.
Mặc dù mỗi thành phần kinh tế có bản chất, lợi ích và đặc trưng riêng. Song
chúng không biệt lập với nhau, mà ngược lại có mối quan hệ tác động với nhau, vì

trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất
nông nghiệp là con đường để nâng cao tỷ suất hàng hóa, chất lượng hàng hóa nông
sản.
1.1.2.3. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển dịch vụ hỗ
trợ nông nghiệp, nông thôn
Tạo ra được một kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và tổ chức tốt hệ thống dịch
vụ hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu đối với việc
chuyển đổi và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Đó
cũng là nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm hệ thống cơ sở vật chất phục vụ sản
xuất và đời sống ở nông thôn như: điện, nước sạch, các công trình thủy lợi, đường giao
thông nông thôn, trường học, các cơ sở y tế có thể nói gọn trong mấy từ "điện,
đường, trường, trạm".
Hệ thống dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp nông thôn nhằm hỗ trợ đầu vào, đầu ra
cho sản xuất nông nghiệp, nó bao gồm hệ thống chợ, các cửa hàng, hệ thống dịch vụ
kỹ thuật ở nông thôn, trong đó tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và công
tác khuyến nông đóng vai trò chủ lực, quan trọng.
Đặc biệt là phải phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản hàng nông lâm,
thủy sản. Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản làm tăng giá trị thương phẩm của
nông, lâm nghiệp, thủy sản đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Phát triển
công nghiệp chế biến và bảo quản hàng nông sản phẩm cho phép nâng cao số lượng và
chất lượng nông sản hàng hóa, tăng sức cạnh tranh trên thị trường và nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
1.1.2.4. Phát triển đa dạng các chủ thể sản xuất - kinh doanh nông nghiệp
Tham gia vào sản xuất kinh doanh nông nghiệp có nhiều chủ thể khác nhau
thuộc các thành phần kinh tế, với các hình thức tổ chức kinh tế đa dạng, như: doanh

ứng cho xã hội những sản phẩm lương thực, thực phẩm thỏa mãn những nhu cầu thiết
yếu nuôi sống con người, mà những nhu cầu này không gì có thể thay thế được. Trong
tương lai, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, tỷ trọng của cải
vật chất đóng góp cho xã hội của khu vực kinh tế nông thôn sẽ giảm dần, đây là xu
hướng tất yếu, nhưng khối lượng sản phẩm tuyệt đối của nó vẫn không ngừng tăng lên.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ở ĐBSCL
nói riêng, nông nghiệp hàng hóa vùng này đã đóng góp một vai trò không nhỏ:
Một là, cung cấp cho xã hội phần lớn những sản phẩm lương thực, thực phẩm
thỏa mãn nhu cầu thiết yếu nuôi sống con người, tăng dự trữ đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia và phát triển xuất khẩu.
Chỉ tính mặt hàng nông sản tiêu biểu là cây lương thực (lúa), thì ĐBSCL với
diện tích tự nhiên 3,9 triệu ha, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên cả nước, nhưng hàng
năm ĐBSCL đã đóng góp trên 50% sản lượng lúa toàn quốc, trên 90% sản lượng gạo
hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tương ứng khoảng 6-7 triệu tấn lúa,
quy ra 3 - 3,5 triệu tấn gạo, trong đó tham gia xuất khẩu trên dưới 2 triệu tấn gạo
(không kể xuất tiểu ngạch), góp phần vào 1999 nước ta đã vươn lên với tổng sản lượng
31,8 triệu tấn và có kim ngạch xuất khẩu gạo khoảng 4 triệu tấn đứng hàng thứ hai trên
thế giới trước Mỹ, ấn Độ và chỉ sau Thái Lan. Như vậy, phát triển sản xuất lúa - mặt hàng
nông phẩm chủ lực ở ĐBSCL không chỉ có ý nghĩa cho vùng mà còn có ý nghĩa chiến
lược về an toàn lương thực cho cả nước.
Do lương thực dồi dào nên chăn nuôi ở ĐBSCL cũng phát triển và có điều
kiện tác động đến các ngành khác phát triển theo, mở mang ngành nghề ở nông thôn,
tăng thu nhập và cải thiện đời sống dân cư trong vùng. Nhờ đó mà đời sống chính trị -
xã hội ở nông thôn được ổn định.
Có thể nói rằng thành công trong vấn đề lương thực là cơ sở tiền đề để giải
quyết các vấn đề khác trong nông nghiệp nông thôn.
Khi năng suất lao động ngành trồng cây lương thực tăng lên, thì có thể rút bớt

rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp. Nhưng nông nghiệp, nông thôn chỉ trở
thành thị trường rộng lớn cho công nghiệp thật sự khi dân cư ở đây có mức thu nhập
bằng tiền tương đối ổn định, tức sức mua bằng tiền phải nâng lên không ngừng, cũng
có nghĩa là sản xuất nông nghiệp phải thật sự được chuyển sang nền nông nghiệp hàng
hóa phát triển.
Ngoài ra, để phát triển công nghiệp và dịch vụ cần có vốn tích lũy, có cơ sở
vật chất kỹ thuật phát triển ở một mức nhất định. Vốn tích lũy cho công nghiệp được
huy động ở nhiều nguồn, trong đó có nông nghiệp. Nông nghiệp tích lũy cho công
nghiệp một phần vốn đáng kể thông qua các hình thức thuế đóng góp vào ngân sách và
qua việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, nhưng phần chủ yếu để đạt cả hai nhu
cầu trên thì phải chủ yếu thông qua việc xuất khẩu nông sản hàng hóa.
Hai là, phát triển nông nghiệp hàng hóa tạo biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế -
xã hội ở nông thôn. Phát triển nông nghiệp hàng hóa thúc đẩy quá trình chuyển biến
nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc với cơ cấu sản
xuất đơn điệu, chủ yếu là độc canh cây lúa thành một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, với cơ cấu sản xuất và kinh doanh đa dạng, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi,
gắn trồng trọt và chăn nuôi với công nghiệp chế biến. Nông nghiệp hàng hóa phát
triển, tất yếu thúc đẩy ngành dịch vụ và các ngành nghề phi nông nghiệp khác ở nông
thôn phát triển, giải quyết tích cực việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn. Là điều
kiện cơ bản để tiến hành phân công lao động ngày càng hợp lý, hình thành cơ cấu nông
- công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, cơ sở vững
chắc để giải quyết cơ bản vấn đề đời sống của đại bộ phận dân cư.
Trên cơ sở kinh tế nói chung và nông nghiệp hàng hóa ở nông thôn nói riêng
phát triển, làm cho bộ mặt xã hội ở nông thôn cũng thay đổi. Người nông dân có thêm
việc làm, tăng thêm thu nhập, đời sống được cải thiện và từng bước nâng cao. Đôi điều
minh họa:
* Lương thực quy thóc bình quân/người/năm ở ĐBSCL:

Tuy vậy, sự phát triển nông nghiệp hàng hóa cũng làm nảy sinh những vấn đề
kinh tế - xã hội bức bách cần giải quyết, như:
* Sự phân hóa giàu nghèo, sự khác nhau về mức thu nhập và mức sống giữa các
hộ nông dân. "Chênh lệch thu nhập của nhóm cao nhất so với nhóm thấp nhất ở ĐBSCL:
năm 1994 là: 6,1 lần; năm 1996 là: 6,4 lần [29, 44].
* Để phát triển nông nghiệp hàng hóa thì cần có sự tích tụ và tập trung ruộng
đất vào số hộ có khả năng kinh doanh nông nghiệp. Song sự tích tụ, tập trung ruộng
đất lại đưa đến hậu quả là số hộ nông dân không có đất hoặc quá ít đất nông nghiệp
tăng lên. ở ĐBSCL là 5,6% [41, 85].
Do đó vấn đề đặt ra là phải có chính sách vừa khuyến khích được mọi người
cùng làm giàu, tăng thu nhập chính đáng, đồng thời vừa có tác động đến xóa đói giảm
nghèo, tạo điều kiện cho người giàu và người nghèo ở nông thôn cùng phát triển làm
giàu nhằm tạo ra môi trường xã hội ổn định để phát triển nông nghiệp hàng hóa.
1.3. Tiềm năng, điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đồng bằng
sông cửu long
1.3.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
ĐBSCL là phần cuối của hạ lưu sông Mekong (một trong 9 con sông lớn nhất thế
giới), trong đó phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Phía Nam giáp biển
Đông, phía Tây giáp vịnh Thái Lan và phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh - một trung
tâm kinh tế năng động nhất nước.
ĐBSCL là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm của nước ta, có diện tích tự
nhiên hơn 3,9 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước, diện tích sử dụng cho phát triển
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản khoảng 3 triệu ha, cho lâm nghiệp 0,5 triệu ha, và
khả năng cho phép mở rộng đất nông nghiệp khoảng 0,2 triệu ha (chủ yếu ở các tiểu
vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau) (phụ lục1).
ĐBSCL với phạm vi hành chính gồm 12 tỉnh (phụ lục 2) các đơn vị trực thuộc

- Thời tiết khí hậu:
Do ảnh hưởng của chế độ gió mùa khiến cho thời tiết ở ĐBSCL chia thành hai
mùa rõ rệt. Mùa mưa với gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng (khô)
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trong mùa thường chiếm trên 80% tổng
lượng mưa cả năm. ĐBSCL là vùng ít chịu tác động của bão, tần suất thiên tai khác
thấp so với các vùng khác trong nước.
- Nguồn nước, sông rạch và thủy văn:
ĐBSCL có nguồn nước ngọt dồi dào được cung cấp bởi lượng nước mưa và
nước sông Mêkông đổ về, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Hệ thống sông rạch
ở ĐBSCL dày đặc, trải rộng khắp vùng (gồm 37 con sông chính và sông nhánh với
tổng chiều dài 1.708 km, 137 kênh rạch lớn với tổng chiều dài 2.780 km và kênh rạch
nhỏ thì nhiều không kể hết), rất thuận lợi cho việc dẫn thủy nhập điền tưới tiêu, xổ
phèn, rửa mặn và lưu thông hàng hóa.
Do nguồn nước dồi dào, hệ thống sông rạch dày đặc và vùng biển rộng,
ĐBSCL là vùng có tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản lớn nhất nước.
Tuy nhiên, ĐBSCL cũng có những hạn chế rất lớn như: thường vào đầu vụ 2,
mùa hạn kéo dài, mặn xâm nhập sâu (khoảng 1,7 triệu ha) việc tưới tiêu trở nên cấp
bách. Sang giữa vụ 2 phải đương đầu với nạn nhiễm phèn rộng trên 1,5 triệu ha và
cuối vụ 2 thường rơi vào mùa mưa, mưa thường kéo dài cộng với lũ lớn từ thượng
nguồn sông Mêkông đổ về, thường gây tình trạng ngập úng trên phạm vi rộng (khoảng
1,9 triệu ha) làm cho việc thu hoạch, phơi sấy chạy lũ cho vụ hè thu hết sức khó
khăn với hạn chế như thế, đã làm cho giá thành sản phẩm cao hơn các vùng khác,
gây tổn thất lớn và giảm chất lượng các loại hàng nông phẩm, đồng thời cũng ảnh
hưởng không ít đến đời sống của người nông dân.
Để khắc phục tốt những hạn chế từ điều kiện tự nhiên, phải có sự nghiên cứu
cơ bản có hệ thống, đầu tư đồng bộ, chủ động hệ thống tưới tiêu, thoát lũ, đồng thời
với phát triển công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp bảo quản sau thu hoạch

giá trị sản xuất, giá thực tế) nông nghiệp chiếm 67,24% GDP, công nghiệp 11,72%
GDP, dịch vụ 21,01% GDP, điều này nói lên cơ cấu kinh tế vùng này tuy có chuyển
biến nhưng vẫn phản ánh hiện trạng kinh tế với nông nghiệp là cơ bản, công nghiệp và
dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ, xu hướng tăng chậm. Nhiều vùng nông thôn sản xuất còn
mang nặng tính thuần nông, kinh tế tự cấp, tự túc còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền
kinh tế. Sản xuất ở nông thôn phân tán theo quy mô hộ gia đình, với lao động thủ công
là phổ biến. Do vậy phần lớn dân cư và lao động vẫn tập trung ở khu vực nông nghiệp,
nông thôn, giờ lao động trong ngày thấp, còn mang nặng tính mùa vụ. Lao động thừa ở
nông thôn tràn ra thành thị làm gay gắt thêm tình trạng thừa lao động ở thành thị.
Vấn đề đặt ra đối với ĐBSCL hiện nay là tỷ trọng lao động trong nông nghiệp
còn quá cao trên 75%. Do đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng,
hiệu quả sử dụng lao động nông nghiệp tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
ở nông thôn trong thời gian tới là hết sức cần thiết.
- Kinh tế kỹ thuật chủ yếu liên quan đến phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Một là, ĐBSCL có điều kiện tự nhiên ưu đãi, nguồn lao động dồi dào và đã
biết phát huy lợi thế so sánh của vùng (lao động, đất đai, nguồn nước, giao thông)
trong việc sản xuất ra những nông phẩm hàng hóa lớn cung cấp cho tiêu dùng tại chỗ,
cho thị trường trong nước và xuất khẩu như: lúa, dứa, dừa, mía, trái cây, cá, tôm, gia
súc, gia cầm trong đó cây lương thực (chủ yếu là cây lúa nước) có khối lượng hàng
hóa lớn nhất nước (90% kim ngạch xuất khẩu của ngành hàng), chiếm 94,8% đất trồng
cây hàng năm của vùng.
Đặc điểm này chỉ rõ, thu nhập chủ yếu của nông dân ĐBSCL từ cây lúa. Vì
vậy, giá lúa tăng, giảm đều ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, sức mua, tình hình sản
xuất và đời sống của nông dân trong vùng.
Hai là, tham gia sản xuất nông phẩm hàng hóa ở ĐBSCL hiện nay là một lực
lượng hùng hậu, đa thành phần bao gồm kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác và kinh tế
hộ gia đình nông dân.

bằng máy móc như: 90% khâu tưới tiêu và tách hạt, 80% khâu làm đất và vận
chuyển Còn các khâu khác của sản xuất nông nghiệp đến nay chủ yếu vẫn là công cụ
thủ công dựa vào sức người là chính.
1.3.3. Lưu thông (thị trường và giao thông)
Vấn đề thị trường. Cũng như sản xuất thành phần tham gia vào thị trường
nông sản cũng hết sức phong phú, đa thành phần kinh tế. Tham gia thị trường nông
phẩm ở ĐBSCL hiện nay có những chủ thể là người bán, người lưu thông và người
tiêu dùng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Người bán hầu hết là hộ nông dân thuộc thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và
một số ít thành phần kinh tế khác. Họ tham gia thị trường với tư cách là người bán sản
phẩm do mình làm ra như lúa, mía, trái cây, cá, tôm, gia súc, gia cầm
Người lưu thông bao gồm những người hàng xáo mua gom, những người bán
lẻ, chủ cơ sở xay xát, chế biến thuộc mọi thành phần kinh tế, mua đi bán lại nhỏ, lẻ
giữa các khu vực lân cận hầu hết là của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ; mua với
khối lượng lớn qua xử lý bảo quản, sơ chế, chế biến luân chuyển trong cả nước và xuất
khẩu thường là các doanh nghiệp có vốn lớn như là: Các công ty trách nhiệm hữu hạn
Hữu Tài - Thốt Nốt (Cần Thơ), Việt Thành - Sa Đéc (Đồng Tháp), Sơn Hùng - Long
Xuyên (An Giang), Mỹ Châu (Bạc Liêu ; doanh nghiệp liên doanh thuộc thành phần
kinh tế tư bản nhà nước Việt Mỹ (Cần Thơ), Hồng Kông - Tiền Giang, ấn Độ - Long
An; Các doanh nghiệp Nhà nước như: Tổng Công ty lương thực miền Nam với hơn 30
công ty thành viên hoạt động khắp các tỉnh thành phố từ Đà Nẵng đến Cà Mau làm
nhiệm vụ xuất khẩu lương thực và các nông sản khác và cùng tham gia với các đơn vị
kinh tế trên còn có các công ty, xí nghiệp kinh doanh lương thực của các nông trường
lớn và công ty lương thực của 12 tỉnh trong khu vực.
Thị trường tiêu thụ nông sản là thị trường đầu ra của sản phẩm nông nghiệp,
thị trường này mang tính chất thời vụ rõ rệt, khiến cho cung cầu, cạnh tranh và giá cả
về nông phẩm hàng hóa trên thị trường thường xuyên biến động. Khi đến vụ thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status