Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: ý nghĩa của việc giao quyền sử dụng ruộng đất
lâu dài cho nông dân để phát triển nông
nghiệp hàng hóa
5
1.1. Quyền sử dụng đất và giao quyền sử dụng đất lâu dài cho
nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa
5
1.2. Giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân - một chủ
trơng chính sách lớn của Đảng ta
23
Chơng 2: thực trạng về giao quyền sử dụng ruộng đất
lâu dài cho nông dân ở tỉnh quảng bình
trong những năm qua (Khảo sát từ năm
1986 đến nay)
36
2.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội tác động đến việc giao
quyền sử dụng ruộng đất cho nông dân ở tỉnh Quảng Bình
36
2.2. Thực trạng về giao quyền sử dụng ruộng đất cho nông dân ở
Quảng Bình
45
Chơng 3: quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm
thực hiện giao quyền sử dụng ruộng đất
lâu dài cho nông dân để phát triển nông
nghiệp hàng hóa ở quảng bình
61
3.1. Những quan điểm cơ bản nhằm thực hiện giao quyền sử dụng
ruộng đất lâu dài cho nông dân để phát triển nông nghiệp
triển kinh tế hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống nhân
dân". Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
nông dân để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa đã có nhiều tiến bộ,
hầu hết ruộng đất đã có chủ sử dụng cụ thể, nên việc đầu t thâm canh và bảo
vệ đất có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại cần phải giải
quyết cả về lý luận và thực tiễn nh: Nâng cao hiệu quả sử dụng đất; vấn đề
3
tích tụ ruộng đất; giao đất giao rừng; vấn đề thu lợi ích từ việc sử dụng đất
đai Nhất là đối với một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, một số đất trống đồi
trọc cha đợc khai thác đúng tiềm năng của nó.
Với lý do trên tôi chọn đề tài: "Giao quyền sử dụng ruộng đất lâu
dài cho nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Quảng Bình" để
nghiên cứu nhằm góp một phần nhỏ bé tìm ra những giải pháp giúp cho việc
giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân trong thời kỳ tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Quảng Bình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi bàn về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân là
một vấn đề hết sức phức tạp. Do tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của nó
nên có rất nhiều công trình đã đợc thể hiện dới nhiều góc độ nghiên cứu
khác nhau. Trên các Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Tạp chí Lý luận và một số
sách đã xuất bản thì có nhiều tác giả đề cập đến các khía cạnh khác nhau của
vấn đề ruộng đất. Trong số tác giả này phải kể đến: PGS.TS Nguyễn Đình
Kháng - TS Vũ Văn Phúc, Một số vấn đề lý luận của Mác và Lênin về địa
tô, ruộng đất, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; GS.TS Đỗ Thế Tùng,
Quan điểm của Lênin về sở hữu t liệu sản xuất trong nông nghiệp, Tạp chí
Thông tin Nghiên cứu lý luận của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
tháng 3/1990; ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả: Nguyễn Sinh
Cúc; Trần Ngọc Hiên, Và gần đây nhất, vào tháng 5/2001 tại huyện Khoái
Châu - Hng Yên, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ơng đã phối hợp
với ủy ban nhân dân tỉnh Hng Yên tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề:
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian nghiên cứu: từ 1986 đến nay (2002).
+ Địa bàn nghiên cứu: chủ yếu là 7 huyện, thị xã ở tỉnh Quảng Bình.
5
+ Đề tài giới hạn việc nghiên cứu: giao đất, giao rừng (chủ yếu là
nông - lâm nghiệp; trồng trọt và chăn nuôi).
4. Phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc trình bày trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta.
- Tác giả dựa trên phơng pháp nghiên cứu kinh tế chính trị, phơng
pháp duy vật biện chứng, lịch sử, lôgíc, sử dụng phơng pháp điều tra.
5. ý nghĩa của luận văn
Tuy nghiên cứu trong một phạm vi về thời gian, không gian nhất
định, song luận văn có một ý nghĩa phản ánh thực tế tình hình vấn đề giao
quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân để phát triển nền nông nghiệp
hàng hóa ở địa phơng. Từ đó có những đề xuất cụ thể, những kiến nghị giải
pháp để giúp các cơ quan ban ngành trong tỉnh tham khảo hoạch định các
chính sách nhằm phát triển kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng kinh tế xã
hội ở địa phơng nói chung.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm: 3 chơng, 6 tiết.
6
Chơng 1
ý nghĩa của việc giao quyền
sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân
để phát triển nông nghiệp hàng hóa
1.1. Quyền sử dụng đất và giao quyền sử dụng đất lâu dài
cho nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa
1.1.1. Một số vấn đề lý luận của Mác và Lênin về ruộng đất
ngời tồn tại và phát triển. Điều này đã đợc C.Mác dẫn lời của nhà kinh tế học
cổ điển W.Petty nói: "Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải vật chất"
[29, tr. 68].
Ngoài ra, đất nông nghiệp còn tạo cơ sở cho sự ra đời và phát triển của
nhiều ngành kinh tế khác. Nh công nghiệp khai khoáng, vật liệu xây dựng,
công nghiệp chế biến từ những sản phẩm đợc tạo ra từ đất với sự tác động
của lao động con ngời.
Qua đó chúng ta có thể khẳng định rằng, đất đai là điều kiện cần thiết
để con ngời và các sinh vật sinh sống và phát triển. Đất chính là cơ sở tồn tại
của nhân loại, là cội nguồn của hệ thống cung cấp lơng thực, thực phẩm cho
con ngời, là nguồn tài nguyên tái sinh của sự sống của nhân loại, C. Mác đã
từng nói: Đất là điều kiện không thể thiếu đợc của sự tồn tại và tái sinh của
hàng loạt thế hệ loài ngời kế tiếp nhau.
ở mỗi quốc gia đất đai đều đợc sử dụng vào nhiều mục đích khác
nhau, riêng đất đai nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản giống nhau, đợc
hiểu cụ thể:
Thứ nhất: Đất đai nông nghiệp là t liệu sản xuất đặc biệt. Vì trong sản
xuất nông nghiệp đất đai vừa là t liệu lao động, vừa là đối tợng lao động. Đối
với các loại đất chuyên dùng khác thì đất chỉ là đối tợng lao động, con ngời
8
phải sử dụng t liệu lao động để tác động vào tạo ra sản phẩm trong khai
khoáng. Đối với đất đai nông nghiệp đợc coi là t liệu lao động, bởi vì con ng-
ời đã dùng nó làm vật dẫn truyền lao động của mình để tác động vào cây
trồng. Đồng thời nó lại thể hiện là đối tợng lao động khi con ngời dùng công
cụ, máy móc tác động vào ruộng đất làm thay đổi hình dạng và tính chất của
nó. Chính sự biểu hiện hai mặt của loại t liệu sản xuất này, nên đất đai nông
nghiệp đợc coi là một loại t liệu sản xuất đặc biệt. Mặt khác, đất đai đối với
nông nghiệp, nó là sức sản xuất quan trọng nhất, thiếu nó thì không thể có
quá trình sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai: Đất đai có vị trí cố định và diện tích giới hạn
thái nông nghiệp đợc xác định rộng hay hẹp phụ thuộc vào những điều kiện
đặc thù tơng đối giống nhau về khí hậu, lợng ma, độ ẩm, không khí, nhiệt
độ, thổ nhỡng v.v Ngoài công tác điều tra nghiên cứu cơ bản, phân tích các
yếu tố tự nhiên bằng những phơng pháp khoa học hiện đại, chính xác, ngời ta
còn giám sát các thảm thực vật, lấy đó làm tài liệu tham khảo trong việc xác
định vùng sinh thái nông nghiệp.
Khi nói đến việc sử dụng đất đai và giao quyền sử dụng đất đai một
cách hợp lý, cần chú ý tới sự thích ứng của cây trồng, vật nuôi đối với các
điều kiện tự nhiên và vùng sinh thái nông nghiệp. Trong đó điều kiện khí
hậu, đất đai - địa hình, địa chất, thổ nhỡng là những yếu tố quan trọng bậc
nhất trong các điều kiện tự nhiên ảnh hởng trực tiếp đến sức sản xuất của
chính bản thân đất đai và điều kiện sống của con ngời.
Thứ t: Chất lợng đất đai phụ thuộc vào sự tác động của con ngời và sự
tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Ruộng đất thờng không đồng nhất về chất lợng do sự khác nhau giữa
các yếu tố dinh dỡng vốn có của nó. Độ màu mỡ của đất nói lên khả năng có
thể cung cấp dinh dỡng cho cây trồng. Con ngời không những sử dụng độ
10
màu mỡ tự nhiên của đất, mà còn có khả năng sáng tạo thêm độ màu mỡ nếu
biết sử dụng nó một cách hợp lý. Ngợc lại, nếu sử dụng không hợp lý thì làm
giảm độ màu mỡ của tự nhiên. Thực tế này đã diễn ra một số vùng trung du
và miền núi nớc ta. ở những vùng này, trớc đây con ngời chỉ lợi dụng độ
màu mỡ tự nhiên vốn có của đất để canh tác, không chú ý bồi dỡng, cải tạo
nên đất bị bạc màu, một số diện tích vốn có độ màu mỡ cao, nay bị kiệt quệ
trở thành đồi trọc. Trong khi đó, ở một số nơi, khi giao quyền sử dụng ruộng
đất hộ nông dân đã biết khai thác và cải tạo, bồi dỡng cho nó làm cho độ
màu mỡ của đất không ngừng tăng lên, từ đó năng suất cây trồng cũng thờng
xuyên nâng cao. Từ đó có thể khẳng định cho thấy chất lợng đất đai luôn phụ
thuộc vào sự tác động của con ngời và tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Chính đất đai nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản khiến nó không
nhà t bản kinh doanh nông nghiệp và địa chủ.
Quá trình nghiên cứu của mình, C.Mác đã chỉ ra địa tô không phải là
một hình thái phân phối đơn thuần, quyền sở hữu ruộng đất tự bản thân nó
không đảm nhiệm một chức năng nào trong các quá trình sản xuất. Việc địa
chủ trở thành ngời cho thuê đất một cách thuần túy chính là do quan hệ sở hữu
ruộng đất đã bị "cải tạo" theo phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. ở đây có sự
tách rời giữa quyền sở hữu ruộng đất và quyền kinh doanh ruộng đất theo kiểu
t bản chủ nghĩa. Khi đánh giá về vai trò của chủ nghĩa t bản đối với sự phát
triển nền nông nghiệp hàng hóa: Một là, biến nghề nông "thành một sự ứng
dụng nông học một cách khoa học và tự giác" [33, tr. 244] và nhờ vào sự
"hợp lý hóa nông nghiệp, việc hợp lý hóa này lần đầu tiên đã tạo khả năng
kinh doanh nông nghiệp theo phơng thức xã hội" [33, tr. 245]. Hai là, tách
quyền sở hữu ruộng đất khỏi quyền kinh doanh trên ruộng đất, biến sở hữu
ruộng đất thành sở hữu "thuần túy" kinh tế. Và dới con mắt của nhà t bản đi
nữa thì cũng phải thấy đó là "một vật thừa vô dụng và phi lý". Theo phân tích
12
nh trên thì C.Mác đã đa ra định nghĩa một cách chung nhất về địa tô t bản
chủ nghĩa nh sau: "Địa tô là hình thái dới đó quyền sở hữu ruộng đất đợc
thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập" [33, tr. 246].
Dới chế độ xã hội t bản chủ nghĩa đất đai nói chung: trong đó cụ thể là
đất nông nghiệp nằm chủ yếu trong tay các địa chủ (chủ sở hữu ruộng đất -
đất đai thuộc sở hữu t nhân). Ngời thực sự canh tác ruộng đất là những ngời
lao động làm thuê, nhà t bản thuê đất của địa chủ để kinh doanh, coi nông
nghiệp là một lĩnh vực đầu t kinh doanh. Chính vì thế trong lĩnh vực này lao
động của những nông dân làm thuê cho nhà t bản cũng tạo ra giá trị thăng d,
tuy nhiên toàn bộ giá trị thăng d này không rơi vào nhà t bản, mà do tính đặc
thù của kinh doanh nông nghiệp là phải sử dụng một loại t liệu sản xuất đặc
biệt là đất đai, đất đai này thuộc sở hữu của địa chủ, vì vậy nhà t bản phải trả
cho chủ đất, kẻ sở hữu ruộng đất, theo hợp đồng một khoản tiền (gọi là địa tô
TBCN) để đợc sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định. "Địa tô t bản
Có thể kết luận rằng: Đất đai tự nhiên không có giá trị, nhng đợc đầu t
(lao động quá khứ và lao động sống) thì đất có giá trị và biểu hiện bằng tiền của
giá cả, giá đất về thực chất chính là địa tô mà đất đai mang lại trong một số
năm nhất định, chính vì thế đất đai là một dạng hàng hóa đặc biệt, thị trờng
đất đai cũng là một thị trờng đặc biệt (thị trờng bất động sản).
Nghiên cứu học thuyết về địa tô của C.Mác chúng ta thấy rằng: tính
không tái sản xuất đợc và không di chuyển đợc đất đai chỉ tạo ra địa tô cho
giai cấp giữ độc quyền ruộng đất chứ không hề ngăn cản đất đai trở thành
hàng hóa, không hề ngăn cản hình thành thị trờng đất vận động theo các qui
luật khách quan của thị trờng nói chung. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhng khi còn sản xuất hàng hóa thì
còn có thị trờng đất đai.
ở Việt Nam do những thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội nên quan
hệ đất đai cũng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trớc 1945 đất đai thuộc
14
sở hữu của địa chủ phong kiến và t bản thực dân, ngời nông dân sống trong
cảnh làm thuê, cuốc mớn và nộp tô cho địa chủ, cờng hào, quan lại và t bản
nớc ngoài.
Sau khi hòa bình lập lại 1954, miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng tiếp
tục sự nghiệp cách mạng của Đảng, toàn dân hào hứng tiến hành công cuộc
cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu ngời cày có ruộng, hơn hai triệu gia
đình nông dân đợc chia ruộng đất. Cầm tấm thẻ nhận ruộng, cắm trên mảnh
ruộng đợc chia ngời nông dân sung sớng trào ra nớc mắt. Đây là lần đầu tiên
trong đời họ, chế độ sở hữu ruộng đất của những ngời nông dân đợc xác lập.
Mơ ớc ngàn đời nay đã đợc thực hiện. Ngời nông dân thực sự trở thành ngời
chủ sở hữu chân chính ruộng đất của mình. Quyền sở hữu ruộng đất của ngời
nông dân đã đợc khẳng định trong cơng lĩnh ruộng đất của Đảng lao động
Việt Nam lúc bấy giờ là xóa bỏ chế độ phong kiến, chiếm hữu ruộng đất của
địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu của ngời nông dân. Trong sắc lệnh của Chủ
tịch nớc, cũng ghi: Ngời đợc chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó,
dụng mọi nguồn lực và thời gian cho lao động sản xuất. Đồng thời quan hệ
kinh tế mới trong sản xuất nông nghiệp ra đời và phát triển, nông thôn đã có
bớc chuyển mình, nông dân phấn khởi lao động sản xuất, quan hệ hàng hóa
tiền tệ phát triển kích thích ngời lao động hớng theo phát triển kinh tế nông
nghiệp hàng hóa, làm quen dần tiền tệ với thị trờng.
Khoán 100 ra đời, đi vào nông nghiệp đã phát huy nhiều mặt tích cực
khơi dậy sức sống cho nông nghiệp, nông dân. Song cũng còn bộc lộ những
hạn chế đòi hỏi phải khắc phục. Do đó chỉ thị khoán 100 đã đợc nghiên cứu
bổ sung và hoàn thiện bằng Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết
Trung ơng 6 của Trung ơng chủ trơng khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ; lấy
hộ gia đình nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh.
16
Với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 6 của Trung ơng, vai
trò kinh tế của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp lại có bớc chuyển đổi quan
trọng là ruộng đất thuộc sở hữu tập thể không còn thích hợp. Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VII đã chủ trơng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, tách
quyền sở hữu và quyền sử dụng để giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ
nông dân. Cùng với sự ra đời của Hiến pháp 1992 và luật đất đai 1993 qui
định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nhà nớc thống nhất quản lý theo qui
định chung, nhằm bảo đảm cho đất đai đợc sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân còn thể hiện bản chất của nhà nớc xã hội chủ
nghĩa. Bởi vì đất đai là tài sản của cả dân tộc. Mỗi tấc đất của chúng ta từ
biên cơng đến hải đảo đều thắm đợm mồ hôi, xơng máu của ông cha, của
bao thế hệ nhân dân đã tạo lập và gìn giữ. Đất đai là tài nguyên quốc gia, là
t liệu sản xuất đặc biệt của công nghiệp; là địa bàn phân bố dân c, là mặt
bằng xây dựng các cơ sở kinh tế - văn hóa, an ninh, quốc phòng là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trờng sống. Xuất phát từ lợi ích của dân
tộc, vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
Đối với nông nghiệp, tuy ruộng đất vẫn thuộc sở hữu toàn dân, nhng
mua bán, bán ruộng đất. Điều đó đúng với tinh thần Nghị quyết Đại hội lần
thứ VII của Đảng đã khẳng định: "Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân đợc Nhà
nớc giao cho hộ nông dân sử dụng lâu dài" [8. tr. 116].
1.1.2. Vấn đề giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để phát triển
nông nghiệp hàng hóa
Ruộng đất là sản phẩm tự nhiên, có trớc lao động, vì thế nó là tài sản
của quốc gia. Khi con ngời xuất hiện khai thác và sử dụng ruộng đất vào
cuộc sống, vào sản xuất những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình,lao
động của nhiều thế hệ đợc kết tinh vào ruộng đất và ruộng đất trở nên có chủ
sở hữu. Cùng với sự xuất hiện của chế độ t hữu, các chế độ sở hữu khác nhau
18
về ruộng đất cũng hình thành và phát triển. Lịch sử đã trải qua những hình
thái kinh tế xã hội khác nhau, với chế độ sở hữu ruộng đất khác nhau, nhng
theo C. Mác có ba loại sở hữu về ruộng đất.
- Sở hữu ruộng đất của nhà nớc.
- Sở hữu ruộng đất của địa chủ, quan lại, nhà t bản C.Mác gọi đây là
"chế độ đại sở hữu ruộng đất đợc trên phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa"
[33, tr. 532]
- Sở hữu ruộng đất của ngời nông dân tự do hay sở hữu ruộng đất của
ngời sản xuất nhỏ C. Mác gọi đây là chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ" [33, tr. 519].
Trong nền kinh tế thị trờng, tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau
về ruộng đất, trong đó sở hữu nhà nớc, sở hữu t nhân lớn và sở hữu t nhân
của ngời sản xuất nhỏ là các hình thức cơ bản. Quá trình phát triển của lực l-
ợng sản xuất ngày càng cao sản xuất ngày càng đa dạng hóa, xuất hiện nhiều
hình thức sở hữu khác nhau về ruộng đất.
Mặt khác, quyền sở hữu ruộng đất bao gồm hai nội dung: quyền
chiếm hữu và quyền sử dụng. Hai mặt này có thể gắn với nhau trong một chủ
thể sở hữu cũng có thể tách rời khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ
phát triển nhất định. Sự tách rời giữa quyền chiếm hữu và quyền sử dụng là
một quá trình. Lúc đầu khi nền kinh tế phát triển còn ở trình độ thấp, ngời
này. Cả con ngời với t cách là chủ thể sở hữu ngời lao động, cả đối tợng sản
xuất là cây con, cả công cụ lao động là con trâu con bò, và cả đất đai - t liệu
sản xuất đặc biệt là những thực thể sinh học, cơ thể sống, có quá trình sinh tr-
ởng và phát triển, suy thoái theo các qui luật sinh học. Đặc tính sinh học này
qui định sự tồn tại tất yếu của kinh tế hộ nông dân. ở đây luôn luôn chứa
đựng mâu thuẫn khách quan giữa tồn tại kinh tế hộ nông dân mang tính độc
lập tơng đối, bị qui định bởi tính sinh học với việc nâng cao hiệu quả sản xuất
nông nghiệp gắn với quá trình tích tụ, tập trung và chuyên môn hóa. Chính đặc
20
thù của sản xuất nông nghiệp đã qui định sự tồn tại lâu dài của kinh tế hộ
nông dân, kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nớc chỉ là sự bổ sung, định hớng, đa
dạng hóa hình thức sở hữu và tổ chức sản xuất mà thôi.
Thứ hai, sở hữu ruộng đất ở nớc ta là sở hữu toàn dân, Nhà nớc là chủ
sở hữu, có quyền chiếm hữu, nhng các chủ thể kinh tế, mà chủ yếu là kinh tế
hộ nông dân lại đợc giao quyền sử dụng. Đây là một đặc điểm quan trọng
của sở hữu ruộng đất, nó thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nớc và nông
dân, đồng thời cũng quy định vai trò quản lý nhà nớc đối với đất đai, nhng sự
can thiệp vào quan hệ đất đai có thể với những mức độ khác nhau đối với
từng loại đất; nhất là đối với đất nông nghiệp.
Thứ ba, ruộng đất là mối quan tâm hàng đầu của ngời nông dân, phát
triển nông nghiệp, nông thôn trớc hết phụ thuộc vào mối quan hệ của ngời
nông dân với ruộng đất và việc sử dụng có hiệu quả ruộng đất. Tách ngời
nông dân ra khỏi ruộng đất, làm cho họ không gắn bó với đất đai một thời
gian đã dẫn nông nghiệp - nông thôn nớc ta vào con đờng trì trệ, chậm phát
triển. Vì vậy, khi chính sách ruộng đất ra đời đã qui định trách nhiệm và
quyền lợi của những ngời đợc giao quyền sử dụng đất. Các chủ sử dụng đợc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai lâu dài, ổn định, có thể tự mình
sắp xếp, bố trí đất đai hợp lý để sản xuất ra những sản phẩm trong nông
nghiệp có hiệu quả kinh tế cao. Việc giao quyền sử dụng ruộng đất cho các
hộ nông dân và xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đã và đang
- Bảo đảm đợc quyền kiểm soát của nhà nớc, đặc biệt là nội dung quản
lý nhà nớc về đất đai, nghiêm trị những hành vi hủy hoại ruộng đất, qui định
chặt chẽ quyền sử dụng đối với đất đai khi xây dựng những công trình có
liên quan tới đất đai và ruộng đất canh tác.
- Tăng cờng vai trò quản lý nhà nớc về đất đai để cho ngời nông dân
họ yên tâm đầu t phát triển sản xuất, sử dụng ruộng đất có hiệu quả. Kiểm
22
soát nhà nớc về thừa kế và sử dụng ruộng đất về tài sản về chuyển nhợng sử
dụng đất sẽ hạn chế sự phân hóa và phân chia thành giai cấp đối kháng ở
nông thôn. Quan hệ sở hữu nói trên sẽ thúc đẩy sự hình thành hộ nông dân -
đơn vị kinh tế tự chủ kinh doanh hàng hóa và hình thức hiệp tác trong sản
xuất theo hình thức mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của vấn đề giao quyền sử
dụng ruộng đất lâu dài vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế: Đó là việc sử
dụng ruộng đất cha cao, qui mô ruộng đất của mỗi hộ nông dân quá nhỏ bé,
lại phân bổ không đồng đều giữa các hộ. Đất nông nghiệp của từng hộ quá
phân tán, manh mún, cản trở quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp - nông thôn. Bình quân mỗi hộ có từ 9-10 mảnh. Miền núi, trung du
phía Bắc bình quân 1 hộ có 15 -20 thửa, mỗi thửa có diện tích từ 150-300m
2
.
Đồng bằng Bắc Bộ bình quân một hộ có 7 thửa cá biệt đến 25 thửa, mỗi thửa
có diện tích từ 300 - 400 m
2
. Khu bốn cũ có từ 7 - 10 thửa, cá biệt có 30
thửa, diện tích từ 300 - 500 m
2
. Duyên hải miền Trung có từ 5-10 thửa, cá
biệt có 30 thửa, diện tích từ 300 - 1000 m
2
thêm hơn 1 triệu ngời, số ngời không có công ăn việc làm ở thành phố, cán
bộ công nhân viên chức về hu mất sức cũng đòi có ruộng đất trong khi đất
không còn để chia, dẫn đến tình trạng một bộ phận dân c ở nông thôn không
có đất hoặc thiếu đất canh tác.
Từ những phân tích trên cho thấy cần phải giao quyền sử dụng ruộng
đất cho nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Đây là một vấn đề đòi
hỏi rất lớn nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu xã hội và sản phẩm
nông nghiệp ngày càng tăng với quy mô ruộng đất trong nông nghiệp ngày
càng có hạn. Đồng thời giải quyết tốt việc kết hợp phát triển sản xuất nông
lâm nghiệp với việc giữ vững cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trờng, đáp
ứng với yêu cầu của cơ chế thị trờng, biến động đất đai thành hàng hóa đặc
biệt, hình thành thị trờng bất động sản. Do vậy, phải nâng cao năng lực hiệu
quả quản lý nhà nớc với t cách là chủ thể quản lý nhà nớc về kinh tế và là
chủ sở hữu đất đai, đại diện cho sở hữu toàn dân về ruộng đất trong quá trình
thực hiện việc cấp giấy chứng nhận và giao quyền sử dụng ruộng đất cho
nông dân khi triển khai thực hiện Nghị định 64/CP.
24
1.2. Giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân -
một chủ trơng chính sách lớn của Đảng ta
1.2.1. Một số chủ trơng của Đảng ta về giao quyền sử dụng đất
cho nông dân
Thực hiện công cuộc đổi mới, từ những năm cuối thập kỷ 80 đến nay,
nông nghiệp và nông thôn nớc ta đã đạt đợc những thành tựu nổi bật, góp
phần tạo ra những bớc chuyển biến quan trọng về kinh tế- xã hội, nhng cũng
đã xuất hiện nhiều thách thức mới về cục diện nông nghiệp và nông thôn.
Một trong những thành tựu nổi bật, khởi sắc mới của nông nghiệp nớc ta
trong thập kỷ vừa qua là sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn đã đợc
giải phóng. Từ một nền nông nghiệp công hữu với hai hình thức tổ chức sản
xuất chủ yếu là nông lâm trờng quốc doanh và hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp, với cơ chế quản lý đặc trng là kế hoạch tập trung quan liêu, mệnh