giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở quảng bình - Pdf 13

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, ở nớc ta đất đai là một trong những yếu tố
quan trọng nhất của quá trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời nó còn có vai
trò đặc biệt đối với các ngành công nghiệp, dịch vụ và các ngành phi nông
nghiệp khác. Do đó, giải quyết đúng đắn vấn đề ruộng đất trên cơ sở vận dụng
sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về địa tô, ruộng đất sẽ góp phần
quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Với ý nghĩa và vị trí quan trọng đặc biệt của đất đai, trải qua nhiều
giai đoạn lịch sử, "vấn đề đất đai" luôn luôn đợc Nhà nớc và nhân dân ta
quan tâm, coi trọng. Hiến pháp ta quy định "đất đai là tài sản quốc gia, thuộc
sở hữu toàn dân và do nhà nớc thống nhất quản lý".
Vấn đề giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân để phát
triển sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) ở nớc ta nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Do vai trò quan trọng của đất đai nông nghiệp đối với phát triển kinh
tế, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XIII (2000) đã nêu lên nhiệm
vụ trọng tâm đối với ngành nông nghiệp của toàn tỉnh trong những năm trớc
mắt là: "Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trớc hết tập trung vào khu
vực nông nghiệp và nông thôn, coi đó là định hớng chiến lợc lâu dài để phát
triển kinh tế hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống nhân
dân". Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
nông dân để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa đã có nhiều tiến bộ,
hầu hết ruộng đất đã có chủ sử dụng cụ thể, nên việc đầu t thâm canh và bảo
vệ đất có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại cần phải giải
quyết cả về lý luận và thực tiễn nh: Nâng cao hiệu quả sử dụng đất; vấn đề
1
tích tụ ruộng đất; giao đất giao rừng; vấn đề thu lợi ích từ việc sử dụng đất
đai Nhất là đối với một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, một số đất trống đồi
trọc cha đợc khai thác đúng tiềm năng của nó.
Với lý do trên tôi chọn đề tài: "Giao quyền sử dụng ruộng đất lâu

lâu dài cho nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Quảng Bình"
hy vọng góp một phần nhỏ của mình vào việc tìm ra giải pháp trong vấn đề
giao quyền sử dụng ruộng đất để thúc đẩy nông nghiệp Quảng Bình ngày
càng phát triển trên cơ sở phát huy nội lực của chính mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Xác định rõ cơ sở lý luận về đất đai, phân tích đánh giá những khả
năng, những điều kiện khách quan, chủ quan để vận dụng vào chủ trơng giao
đất giao rừng thúc đẩy nền nông nghiệp Quảng Bình phát triển theo cơ chế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Từ đó luận văn có mục đích xác định những
quan điểm và kiến nghị những giải pháp chủ yếu để thực hiện giải quyết giao
đất giao rừng để thúc đẩy nền nông nghiệp hàng hóa ở Quảng Bình.
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ ý nghĩa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các chủ tr-
ơng của Đảng ta đối với việc giao đất giao rừng cho ngời nông dân để phát
triển nông nghiệp hàng hóa theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
+ Khảo sát đánh giá việc thực hiện chủ trơng giao đất giao rừng cho
nông dân ở Quảng Bình, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp đối với việc
thực hiện chủ trơng này qua nghiên cứu thực tế ở tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian nghiên cứu: từ 1986 đến nay (2002).
+ Địa bàn nghiên cứu: chủ yếu là 7 huyện, thị xã ở tỉnh Quảng Bình.
3
+ Đề tài giới hạn việc nghiên cứu: giao đất, giao rừng (chủ yếu là
nông - lâm nghiệp; trồng trọt và chăn nuôi).
4. Phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc trình bày trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta.
- Tác giả dựa trên phơng pháp nghiên cứu kinh tế chính trị, phơng
pháp duy vật biện chứng, lịch sử, lôgíc, sử dụng phơng pháp điều tra.

xét về mặt giá trị sản xuất, C.Mác đã nói: "Đất là t liệu sản xuất cơ bản, phổ
biến và quí báu nhất của sản xuất nông nghiệp" [33, tr. 324]. Vì loài ngời sử
dụng đất trồng trọt tạo ra lơng thực, thực phẩm, tận dụng đất đồi núi để chăn
nuôi, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và khai thác lâm sản, sử dụng mặt
nớc để nuôi trồng thủy sản. Nh vậy đất nông nghiệp tạo ra những điều kiện
để con ngời sinh sống và phát triển.
Trong quan hệ với lao động, ruộng đất vừa là đối tợng lao động vừa là
t liệu lao động. Khi con ngời sử dụng công cụ sản xuất tác động vào đất đai
thay đổi hình dạng theo mục đích sử dụng của mình thì ruộng đất là đối tợng
5
của lao động. Chính vì vậy, để có thể sử dụng có hiệu quả hơn hoặc cải tạo
đất theo nhu cầu sản xuất, ngời ta phải khai thác hợp lý hoặc tác động vào
các điều kiện sinh thái đất, nh dựa vào yếu tố khí hậu thời tiết để tăng vụ,
yếu tố địa hình và chế độ nớc để qui hoạch hệ thống cây trồng, hoặc dùng
các loại cây trồng khác nhau để bảo vệ và cải tạo đất v.v Từ đó cho ta thấy
đất đai là một điều kiện hết sức cần thiết cho sản xuất, nhng tự nó không thể
tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà cần có những điều kiện khác, trong đó
có điều kiện quan trọng bậc nhất là lao động của con ngời. Đất đai cùng với
lao động là hai cơ sở tạo ra của cải vật chất để cho con ngời và xã hội loài
ngời tồn tại và phát triển. Điều này đã đợc C.Mác dẫn lời của nhà kinh tế học
cổ điển W.Petty nói: "Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải vật chất"
[29, tr. 68].
Ngoài ra, đất nông nghiệp còn tạo cơ sở cho sự ra đời và phát triển của
nhiều ngành kinh tế khác. Nh công nghiệp khai khoáng, vật liệu xây dựng,
công nghiệp chế biến từ những sản phẩm đợc tạo ra từ đất với sự tác động
của lao động con ngời.
Qua đó chúng ta có thể khẳng định rằng, đất đai là điều kiện cần thiết
để con ngời và các sinh vật sinh sống và phát triển. Đất chính là cơ sở tồn tại
của nhân loại, là cội nguồn của hệ thống cung cấp lơng thực, thực phẩm cho
con ngời, là nguồn tài nguyên tái sinh của sự sống của nhân loại, C. Mác đã

sâu, còn việc khai hoang mở rộng diện tích chỉ để khai thác số đất đai cha đ-
ợc sử dụng mà thôi.
Thứ ba: Đất đai nông nghiệp gắn với điều kiện thổ nhỡng, khí hậu,
thời tiết, thủy văn ở từng vùng nhất định và do đó mỗi vùng chỉ thích hợp với
từng loại cây, con nhất định.
Sản xuất nông nghiệp luôn luôn gắn chặt với môi trờng tự nhiên, đặc
biệt là khí hậu thời tiết, nguồn nớc, thổ nhỡng là những tài nguyên tác động
7
mạnh và thờng xuyên đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp ở từng quốc
gia. Ngay ở trong một nớc, ở các vùng có điều kiện khác nhau, có thể cho
năng suất tự nhiên khác nhau đối với mỗi loại cây trồng, vật nuôi nhất định.
Vì vậy, khi giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân để phát
triển nông nghiệp hàng hóa phải cần có quy hoạch đất đai, hớng dẫn đầu t
khoa học kỹ thuật để vận dụng trồng cây gì? nuôi con gì cho từng vùng thích
hợp. Mặt khác ở nớc ta, đã từ lâu ngời ta phải chia đất đai nông nghiệp thành
4 vùng lớn: Đó là đồng bằng, ven biển trung du và miền núi. Cách phân chia
này chủ yếu căn cứ vào yếu tố địa hình, cha thấy hết các yếu tố khác tác
động vào sản xuất nông nghiệp. Do đó cần phải xem xét một yếu tố quan
trọng khác đó là vùng sinh thái nông nghiệp. Về qui mô, phạm vi vùng sinh
thái nông nghiệp đợc xác định rộng hay hẹp phụ thuộc vào những điều kiện
đặc thù tơng đối giống nhau về khí hậu, lợng ma, độ ẩm, không khí, nhiệt
độ, thổ nhỡng v.v Ngoài công tác điều tra nghiên cứu cơ bản, phân tích các
yếu tố tự nhiên bằng những phơng pháp khoa học hiện đại, chính xác, ngời ta
còn giám sát các thảm thực vật, lấy đó làm tài liệu tham khảo trong việc xác
định vùng sinh thái nông nghiệp.
Khi nói đến việc sử dụng đất đai và giao quyền sử dụng đất đai một
cách hợp lý, cần chú ý tới sự thích ứng của cây trồng, vật nuôi đối với các
điều kiện tự nhiên và vùng sinh thái nông nghiệp. Trong đó điều kiện khí
hậu, đất đai - địa hình, địa chất, thổ nhỡng là những yếu tố quan trọng bậc
nhất trong các điều kiện tự nhiên ảnh hởng trực tiếp đến sức sản xuất của

của hàng hóa là lao động đợc vật hóa, nhng khi nghiên cứu lý luận của
C.Mác về địa tô, chúng ta thấy rằng về thực chất đất không có giá trị, vậy tại
sao vẫn hình thành thị trờng đất đai. Lý luận Mác-Lênin chỉ rõ: Giá cả ruộng
đất là biểu hiện quan hệ kinh tế phát sinh chứ không phải biểu hiện bằng tiền
của giá trị ruộng đất. Quan điểm này không hề mâu thuẫn với lý luận của
9
C.Mác về giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, giá cả là hình thức biểu
hiện bằng tiền của giá trị.
Vậy xét về mặt lý luận chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao đất lại "có giá".
Nếu đất có giá trị thì ai là ngời có quyền sở hữu đất (chủ sở hữu đợc quyền
định đoạt, tức là có quyền bán đất hoặc cho thuê đất), còn ngời phải trả tiền
tức là ngời sử dụng đất đó với t cách là một t liệu sản xuất.
Để làm rõ vấn đề nêu trên, cần sử dụng lý luận về quan hệ đất đai và
địa tô của C.Mác. Do đó, trớc hết chúng ta phải hiểu và thống nhất quan
điểm của C.Mác.
Thứ nhất: C.Mác nghiên cứu địa tô xuất hiện trong xã hội t bản chủ
nghĩa, khi mà trong xã hội đã có sự độc quyền kinh doanh về ruộng đất.
Thứ hai: Địa tô phản ánh mối quan hệ thống nhất đối lập giữa ba giai
cấp cấu thành cơ bản của xã hội t bản chủ nghĩa- Ngời công nhân làm thuê,
nhà t bản kinh doanh nông nghiệp và địa chủ.
Quá trình nghiên cứu của mình, C.Mác đã chỉ ra địa tô không phải là
một hình thái phân phối đơn thuần, quyền sở hữu ruộng đất tự bản thân nó
không đảm nhiệm một chức năng nào trong các quá trình sản xuất. Việc địa
chủ trở thành ngời cho thuê đất một cách thuần túy chính là do quan hệ sở hữu
ruộng đất đã bị "cải tạo" theo phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. ở đây có sự
tách rời giữa quyền sở hữu ruộng đất và quyền kinh doanh ruộng đất theo kiểu
t bản chủ nghĩa. Khi đánh giá về vai trò của chủ nghĩa t bản đối với sự phát
triển nền nông nghiệp hàng hóa: Một là, biến nghề nông "thành một sự ứng
dụng nông học một cách khoa học và tự giác" [33, tr. 244] và nhờ vào sự
"hợp lý hóa nông nghiệp, việc hợp lý hóa này lần đầu tiên đã tạo khả năng

địa tô khác nhau.
Nhìn một cách khái quát cho thấy: "Đặc trng của địa tô là ở chỗ, cùng
với những điều kiện khiến cho sản phẩm nông nghiệp phát triển thành những
giá trị (những hàng hóa) và cùng với những điều kiện thực hiện giá trị của
11
chúng, thì đồng thời quyền lực của quyền sở hữu ruộng đất là chiếm lấy một
phần càng ngày càng lớn những giá trị đó, những giá trị, đợc sáng tạo ra mà
không có sự tham gia đóng góp gì của nó cả, cũng càng phát triển, nghĩa là
một phần giá trị thăng d ngày càng lớn sẽ đợc chuyển hóa thành địa
tô [33, tr. 276-378].
Từ sự phân tích nguồn gốc và sự hình thành địa tô t bản chủ nghĩa,
chúng ta khẳng định C.Mác đã hoàn toàn đúng khi đã đa ra một hệ thống chỉ
dẫn khoa học khi nghiên cứu địa tô t bản chủ nghĩa. Kết luận của
C. Mác dù đã gần 2 thế kỷ nhng vẫn phù hợp với yêu cầu của các quy luật
kinh tế của chủ nghĩa t bản ngày nay. "Thác nớc, cũng nh đất đai nói chung,
cũng nh mọi lực lợng tự nhiên, không có giá trị nào cả, vì không có một lao
động nào đợc vật hóa ở trong đó, do đó nó cũng không có giá cả, vì theo lẽ
thờng, giá cả không phải cái gì khác hơn là biểu hiện tiền tệ của giá trị. Giá
cả đó chẳng qua là một địa tô t bản hóa" [33, tr. 291].
Có thể kết luận rằng: Đất đai tự nhiên không có giá trị, nhng đợc đầu t
(lao động quá khứ và lao động sống) thì đất có giá trị và biểu hiện bằng tiền của
giá cả, giá đất về thực chất chính là địa tô mà đất đai mang lại trong một số
năm nhất định, chính vì thế đất đai là một dạng hàng hóa đặc biệt, thị trờng
đất đai cũng là một thị trờng đặc biệt (thị trờng bất động sản).
Nghiên cứu học thuyết về địa tô của C.Mác chúng ta thấy rằng: tính
không tái sản xuất đợc và không di chuyển đợc đất đai chỉ tạo ra địa tô cho
giai cấp giữ độc quyền ruộng đất chứ không hề ngăn cản đất đai trở thành
hàng hóa, không hề ngăn cản hình thành thị trờng đất vận động theo các qui
luật khách quan của thị trờng nói chung. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhng khi còn sản xuất hàng hóa thì

doanh thuộc về tập thể và hợp tác xã. Đối với miền Nam lúc này sở hữu
ruộng đất tập trung vào tay giai cấp địa chủ phong kiến, t sản thực dân và
13
một số rất ít gia đình nông dân khi hình thành trang trại và sản xuất kinh
doanh theo phơng thức t bản chủ nghĩa.
Sau 1975 đất nớc ta đã hoàn toàn thống nhất, ruộng đất đợc điều cho
các gia đình nông dân một cách hợp lý. Công cuộc cải tạo nông nghiệp Miền
Nam cũng nhanh chóng đợc tiến hành đã biến toàn bộ đất đai ruộng vờn của
nông dân thành sở hữu tập thể của hợp tác xã và tập đoàn sản xuất. Sự
chuyển đổi hình thức sở hữu ruộng đất từ chỗ quyền sở hữu ruộng đất là của
gia đình nông dân, sang chỗ sở hữu ruộng đất là của tập thể hợp tác xã đã
bộc lộ dần những hạn chế, những cản trở làm cho sản xuất nông nghiệp ngày
càng chậm phát triển, kinh tế nông nghiệp nông thôn ngày càng đứng trớc
những khó khăn bế tắc đòi hỏi phải đợc tháo gỡ.
Đứng trớc tình hình đó, ngày 18-1-1981 Ban bí th Trung ơng đã đa ra
chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến ngời lao động. Chỉ thị khoán 100 đến với
ngời nông dân nh làn gió mới thổi vào nông nghiệp đáp ứng kịp thời những
yêu cầu đòi hỏi bức bách của sự phát triển nông nghiệp. Sức sản xuất trong
nông nghiệp đợc giải phóng, lao động nông nghiệp đợc phát huy cao độ, tận
dụng mọi nguồn lực và thời gian cho lao động sản xuất. Đồng thời quan hệ
kinh tế mới trong sản xuất nông nghiệp ra đời và phát triển, nông thôn đã có
bớc chuyển mình, nông dân phấn khởi lao động sản xuất, quan hệ hàng hóa
tiền tệ phát triển kích thích ngời lao động hớng theo phát triển kinh tế nông
nghiệp hàng hóa, làm quen dần tiền tệ với thị trờng.
Khoán 100 ra đời, đi vào nông nghiệp đã phát huy nhiều mặt tích cực
khơi dậy sức sống cho nông nghiệp, nông dân. Song cũng còn bộc lộ những
hạn chế đòi hỏi phải khắc phục. Do đó chỉ thị khoán 100 đã đợc nghiên cứu
bổ sung và hoàn thiện bằng Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết
Trung ơng 6 của Trung ơng chủ trơng khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ; lấy
hộ gia đình nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh.

15
cấp càng thêm nhanh chóng. Tuy nhiên không loại trừ việc cho phép chuyển
quyền sử dụng ruộng đất khi một ngời nào tìm kiếm đợc nghề khác hoặc
không có ngời thừa kế sử dụng ruộng đất. Ngời đợc quyền sử dụng ruộng đất
phải trả cho ngời chuyển nhợng một khoản bồi hoàn hoa màu và chi phí cải
tạo đất. Khoản bồi hoàn này không phải là giá cả ruộng đất mà thấp hơn giá
cả ruộng đất. Bởi vì, giá cả ruộng đất theo đúng nghĩa của nó là địa tô t bản
hóa, nó không ngừng tăng lên theo mức độ tăng của địa tô và khan hiếm của
ruộng đất.
Để khuyến khích nông dân đầu t thâm canh, ứng dụng công nghệ mới
nhằm thu địa tô chênh lệch II, cần giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và
qui định đợc quyền thừa kế. Tuy vậy, quyền thừa kế cũng làm nảy sinh mâu
thuẫn giữa việc bảo đảm đủ phần ruộng khoán cho tất thảy mọi hộ nông dân
với việc duy trì qui mô ruộng đất canh tác tối u, nhất là qui mô nông trại.
Trong điều kiện dân số tăng nhanh, bình quân ruộng đất tính theo nhân khẩu
rất thấp, quyền thừa kế tất yếu dẫn đến làm tăng sự phân tán manh mún
ruộng đất. Chỉ có thể khắc phục tình trạng ấy bằng khai hoang tăng vụ, thâm
canh và tổ chức dịch vụ, phát triển các ngành nghề khác để rút bớt lao động
ra khỏi trồng trọt, chứ không phải bằng cách t hữu hóa và cho phép tự do
mua bán, bán ruộng đất. Điều đó đúng với tinh thần Nghị quyết Đại hội lần
thứ VII của Đảng đã khẳng định: "Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân đợc Nhà
nớc giao cho hộ nông dân sử dụng lâu dài" [8. tr. 116].
1.1.2. Vấn đề giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để phát triển
nông nghiệp hàng hóa
Ruộng đất là sản phẩm tự nhiên, có trớc lao động, vì thế nó là tài sản
của quốc gia. Khi con ngời xuất hiện khai thác và sử dụng ruộng đất vào
cuộc sống, vào sản xuất những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình,lao
động của nhiều thế hệ đợc kết tinh vào ruộng đất và ruộng đất trở nên có chủ
sở hữu. Cùng với sự xuất hiện của chế độ t hữu, các chế độ sở hữu khác nhau
16

Đối với nớc ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, tức là về mặt chiếm hữu
đất đai thuộc sở hữu quốc gia, sở hữu của toàn dân tộc. Nhà nớc ta đã từng b-
ớc tách quyền chiếm hữu và quyền sử dụng đất. Nhà nớc giao đất cho ngời
sử dụng đất ổn định lâu dài hoặc có thời hạn, giao đất có thu tiền sử dụng đất
và giao đất không thu tiền sử dụng đất. Quan hệ đất đai đã dần dần ổn định,
theo qui định của luật, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/CP ngày 27-9-
1993 của Chính phủ quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và Nghị
định số 02/CP ngày 15-01-1994 của Chính phủ ban hành quy định lâu dài
vào mục đích lâm nghiệp. Điều này có nghĩa đất đai thuộc quyền chiếm hữu
toàn dân nhng quyền sử dụng lại đợc trao cho các chủ thể kinh doanh trong
nền kinh tế, trong đó chủ yếu là các hộ nông dân với t cách là đơn vị kinh tế
tự chủ. Các chủ thể sử dụng ruộng đất có các quyền thừa kế, thế chấp, chuyển
nhợng, cho thuê và chuyển đổi. Tuy nhiên do đất đai thuộc quyền sở hữu
toàn dân nên quản lý toàn bộ đất đai là chức năng của nhà nớc.
Nhng tại sao quyền sử dụng ruộng đất lại đợc giao chủ yếu cho các hộ
nông dân. Bởi vì: trớc hết là do đặc tính sinh học của sản xuất nông nghiệp.
Trong sản xuất nông nghiệp, do trình độ sản xuất hàng hóa cha phát triển ở
mức độ cao nh các lĩnh vực khác, hơn nữa do đặc thù của lĩnh vực sản xuất
này. Cả con ngời với t cách là chủ thể sở hữu ngời lao động, cả đối tợng sản
xuất là cây con, cả công cụ lao động là con trâu con bò, và cả đất đai - t liệu
sản xuất đặc biệt là những thực thể sinh học, cơ thể sống, có quá trình sinh tr-
ởng và phát triển, suy thoái theo các qui luật sinh học. Đặc tính sinh học này
qui định sự tồn tại tất yếu của kinh tế hộ nông dân. ở đây luôn luôn chứa
đựng mâu thuẫn khách quan giữa tồn tại kinh tế hộ nông dân mang tính độc
lập tơng đối, bị qui định bởi tính sinh học với việc nâng cao hiệu quả sản xuất
nông nghiệp gắn với quá trình tích tụ, tập trung và chuyên môn hóa. Chính đặc
18
thù của sản xuất nông nghiệp đã qui định sự tồn tại lâu dài của kinh tế hộ
nông dân, kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nớc chỉ là sự bổ sung, định hớng, đa

chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng mở rộng và tăng diện tích đất
trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, giá trị hàng hóa lớn, trên cơ sở phát
triển một nền nông nghiệp thâm canh và ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ
thuật, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu.
Thực hiện quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân cũng góp
phần quan trọng đối với việc chuyển đổi hình thức hợp tác xã hội kiểu cũ
chuyển sang phát triển kinh tế hộ, phù hợp đối với đất đai của sản xuất nông
nghiệp, từng bớc hình thành hợp tác xã dịch vụ đa dạng trên cơ sở yêu cầu và
tự nguyện của nông dân, tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới nội dung và
phơng thức hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc về nông, lâm nghiệp.
Với việc thực hiện giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân
nh đã phân tích ở trên, sẽ có nhiều tác dụng:
- Khuyến khích các hộ nông dân đầu t, thâm canh, làm tăng độ phì
của đất, khai thác mọi tiềm năng của ruộng đất và làm cho ngời nông dân
gắn bó thân thiết với ruộng đất.
- Kích thích phát triển sản xuất nông sản hàng hóa, thúc đẩy phân
công lao động ở nông thôn. Khi công nghiệp và dịch vụ phát triển, nông dân
dễ dàng chuyển sang làm nghề khác và tập trung ruộng đất vào những hộ
làm tốt việc nhà nông.
- Bảo đảm đợc quyền kiểm soát của nhà nớc, đặc biệt là nội dung quản
lý nhà nớc về đất đai, nghiêm trị những hành vi hủy hoại ruộng đất, qui định
chặt chẽ quyền sử dụng đối với đất đai khi xây dựng những công trình có
liên quan tới đất đai và ruộng đất canh tác.
- Tăng cờng vai trò quản lý nhà nớc về đất đai để cho ngời nông dân
họ yên tâm đầu t phát triển sản xuất, sử dụng ruộng đất có hiệu quả. Kiểm
20
soát nhà nớc về thừa kế và sử dụng ruộng đất về tài sản về chuyển nhợng sử
dụng đất sẽ hạn chế sự phân hóa và phân chia thành giai cấp đối kháng ở
nông thôn. Quan hệ sở hữu nói trên sẽ thúc đẩy sự hình thành hộ nông dân -
đơn vị kinh tế tự chủ kinh doanh hàng hóa và hình thức hiệp tác trong sản

1997, mỗi năm còn mất tới 20.000ha, chiếm tỷ lệ 0,5%. Đối với đất rừng,
mỗi năm mất đi 445.000ha, chiếm tỷ lệ:4,8%. Những năm gần đây, khi thực
hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 (nay là 163/CP) về giao đất lâm nghiệp
cho tổ chức, các hộ gia đình, các nhà sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp. Mặc dù diện tích rừng đã đợc bổ sung khá nhiều nhng diện tích
rừng vẫn suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do lấy đất nông
21
lâm nghiệp làm giao thông, thủy lợi, mở rộng đô thị, khu công nghiệp không
có quy hoạch, hoặc không theo qui hoạch. Hơn nữa trong quá trình chuyển
đổi kinh tế, dới tác động của nhiều yếu tố đã dẫn đến một số nông dân không
có đất và thiếu đất, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nguyên nhân là do
các hợp tác xã giải thể, một số hộ nông dân phải trả đất; nhiều hộ vì nhu cầu
bức xúc hoặc hoàn cảnh khó khăn nên phải sang nhợng cho ngời khác.
Không ít hộ do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất nên làm ăn thất bát
phải bán ruộng đi làm thuê. Có những ngời do lời lao động cờ bạc, rợu chè
nên phải bán ruộng. ở Miền Bắc, thực hiện Nghị định 64/CP, đất đai đợc
chia hết một lần cho những ngời trực tiếp sản xuất nông nghiệp có mặt tại
thời điểm chia, khi chết không rút ra, không chia thêm cho những trờng hợp
mới sinh, chỉ để lại 5% đất công ích. Trong khi đó dân số mỗi năm tăng
thêm hơn 1 triệu ngời, số ngời không có công ăn việc làm ở thành phố, cán
bộ công nhân viên chức về hu mất sức cũng đòi có ruộng đất trong khi đất
không còn để chia, dẫn đến tình trạng một bộ phận dân c ở nông thôn không
có đất hoặc thiếu đất canh tác.
Từ những phân tích trên cho thấy cần phải giao quyền sử dụng ruộng
đất cho nông dân để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Đây là một vấn đề đòi
hỏi rất lớn nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu xã hội và sản phẩm
nông nghiệp ngày càng tăng với quy mô ruộng đất trong nông nghiệp ngày
càng có hạn. Đồng thời giải quyết tốt việc kết hợp phát triển sản xuất nông
lâm nghiệp với việc giữ vững cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trờng, đáp
ứng với yêu cầu của cơ chế thị trờng, biến động đất đai thành hàng hóa đặc

nhân dân. Sự phát triển nông nghiệp - nông thôn trớc hết phụ thuộc vào mối
quan hệ của ngời nông dân với ruộng đất và việc sử dụng có hiệu quả ruộng
đất. Tách ngời nông dân ra khỏi ruộng đất, làm cho họ không gắn bó với đất
đai đã dẫn đến nông nghiệp - nông thôn nớc ta vào con đờng trì trệ, chậm
phát triển.
23
Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nớc
ta đã tổ chức triển khai trên thực tế mục tiêu cơng lĩnh "Dân cày có ruộng".
Năm 1955-1956, cải cách ruộng đất đã mang lại quyền và lợi ích cơ bản cho
nông dân nói riêng, nhân dân lao động nói chung, tạo ra động lực to lớn góp
phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ
quốc. Công cuộc hợp tác hóa và những đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp - nông thôn những năm gần đây, bằng những chính sách đổi mới của
Đảng trên mặt trận nông nghiệp, bắt đầu chỉ thị 100 của Ban Bí th Trung ơng
về khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động, đến Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị, Nghị quyết TƯ 5 (khóa VII) đã tạo ra động lực cho nông nghiệp -
nông thôn phát triển.
Năm 1993, Chủ tịch nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký
lệnh công bố Luật đất đai -đạo luật quan trọng quy định chế độ quản lý và sử
dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ ngời sử dụng đất. Đồng thời cũng ra đời sau
đó là các văn bản dới luật có liên quan là cơ sở pháp lý, bớc đầu tạo điều
kiện tiền đề cho việc xác lập ruộng đất là một yếu tố quan trọng vận động
theo quá trình phát triển sản xuất hàng hóa, đồng thời là cơ sở quan trọng
cho việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một trong những chủ trơng chính sách lớn điểm
Đảng ta là: Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về ban hành bản
quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân ổn định sử
dụng lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và một số quy định ban
hành theo Nghị định 64/CP.
- Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ ban hành quy định

kế, thế chấp, cho thuê và góp vốn ruộng đất mà mình đợc giao. Thực chất nội
dung của những quyền này là nằm ngay trong nội dung của quyền sử dụng
ruộng đất lâu dài ổn định của ngời nông dân. Bởi vì những quyền này không
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status