PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở SƠN LA TRONG THỜI KÌ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - Pdf 28


1

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế của
nớc ta đã đạt đợc những thành tựu quan trọng: Đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân đã đợc nâng lên rõ rệt, kinh tế ở khu vực nông thôn đã
chuyển hớng sang phát triển sản xuất hàng hoá.
Sơn La là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Tây Bắc của tổ quốc, kinh tế
của tỉnh trong những năm sau đổi mới tuy có tốc độ tăng trởng khá cao so
với cả nớc, nhng cha vững chắc, chất lợng cha cao, hiệu quả và sức
cạnh tranh thấp. Đến nay, kinh tế của Sơn La về cơ bản vẫn trong tình trạng
sản xuất nhỏ, cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế còn đơn điệu, lạc hậu, năng
suất lao động thấp. Đặc biệt là vùng sâu, vùng xa nền kinh tế còn mang nặng
tính tự nhiên, tự cấp, tự túc hay nói cách khác thị trờng trống còn rất lớn.
Khoảng cách chênh lệch về mức sống, trình độ dân trí, trình độ văn hoá giữa
các vùng đô thị, vùng gần trục giao thông với vùng cao, vùng sâu, vùng xa
không những không thu hẹp mà ngày càng tăng lên.
Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề phát triển KTHH ở Sơn La - cơ sở để
mở rộng kinh nghiệm sang các tỉnh miền núi khác, đang là yêu cầu bức xúc cả
về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tác giả lựa chọn đề
tài: Phát triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá , làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Thúc đẩy kinh tế phát triển theo hớng sản xuất hàng hoá ở tỉnh Sơn La
là một vấn đề lớn, mang tính chiến lợc nên đợc Đảng và Nhà nớc ta hết sức
quan tâm. Sự quan tâm đó còn đợc thể hiện qua các chính sách kinh tế, các
công trình đã nghiên cứu thuộc đề tài cấp bộ, các luận án tiến sỹ. Các công
trình nghiên cứu đã đóng góp rất lớn cả về lý luận, cũng nh luận giải tình
hình thực tế, trên cơ sở đó đã đa ra các định hớng và giải pháp cho phát triển

gian qua để đề xuất phơng hớng và đa ra những giải pháp cơ bản để góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá ở tỉnh Sơn La trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH.
* ý nghĩa nghiên cứu của luận án: 1) Từ những mục tiêu nói trên,
luận án cung cấp một số luận cứ khoa học cho các cơ quan điều hành vĩ mô
xây dựng chính sách, luật pháp và xác định các công cụ, giải pháp để thúc đẩy
phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực miền núi nói chung. 2)
Luận án là một tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách của
tỉnh Sơn La nói riêng và các nhà nghiên cứu ở tầm vĩ mô.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu cả ở khía cạnh lý luận, thực tiễn, phơng hớng
và giải pháp đối với phát triển KTHH của tỉnh Sơn La. Về không gian: Đề tài
tập trung nghiên cứu tình hình phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La. Về thời gian:
Phân tích chủ yếu từ sau khi thực hiện đờng lối đổi mới của nớc ta đến nay và
triển vọng phát triển KTHH đến năm 2010. Nội dung: Vấn đề phát triển
KTHH là vấn đề rộng lớn, mỗi khía cạnh của vấn đề cũng có thể trở thành
một đề tài nghiên cứu. Nhng tác giả chủ yếu nghiên cứu thực trạng và đa
ra các giải pháp phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La.

3

5. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê
nin, T tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về vấn đề
phát triển kinh tế nói chung, phát triển sản xuất hàng hoá và kinh tế thị
trờng nói riêng.
Luận án sử dụng các phơng pháp truyền thống, cơ bản nh: duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, phơng pháp phân tích thống kê, phân tích so
sánh, mô hình hoá, phơng pháp nghiên cứu thực chứng, tổng hợp hoá và
khái quát hoá, phơng pháp đánh giá và phân tích theo mô hình SWOT là

Một số vấn đề lý luận về kinh tế hng hoá trong thời
kỳ đẩy mạnh CôNG NGHIệP hoá, hiện đại hoá
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế hàng hoá
1.1.1. Bản chất của kinh tế hàng hoá
KTTN là hình thức tổ chức kinh tế xã hội trong đó hình thái phổ biến
của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm cho chính bản thân ngời sản xuất, hay
trong nội bộ các tổ chức kinh tế. Nghiên cứu về nền KTTN, có thể rút ra
nhận xét kinh tế tự nhiên là nền kinh tế sinh tồn, nền sản xuất hầu nh
diễn ra theo quy luật của tái sản xuất giản đơn.
Cùng với quá trình phát triển của LLSX và sự thay đổi của QHSX, đã
tạo tiền đề cho sự chuyển nền KTTN sang KTHH, nó phản ánh tiến trình
phát triển từ thấp đến cao của trình độ xã hội hoá nền sản xuất.
KTHH là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà ở đó sản phẩm đợc sản
xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trờng. KTHH khác hẳn với nền
KTTN, trớc hết ở chỗ, trong nền KTHH sản phẩm sản xuất ra không phải
để tự tiêu dùng, mà mục đích của sản xuất là vì giá trị. Để đạt mục đích đó,
họ sản xuất ra giá trị sử dụng cho ngời khác, tức là sản xuất ra giá trị sử
dụng để trao đổi, để bán. Trong nền KTHH, ngời sản xuất và ngời tiêu
dùng là hai chủ thể khác nhau, đó là ngời bán và ngời mua.
Sản xuất hàng hoá ra đời là bớc ngoặc quan trọng trong lịch sử phát
triển của xã hội loài ngời, đa loài ngời thoát khỏi tình trạng mông
muội, góp phần phá vỡ bức tờng thành của nền kinh tế đóng cửa, khép kín,
đánh thức giấc ngủ triền miên của những vùng hàng nghìn năm sống dựa vào
nền sản xuất tự giới hạn ở việc thoả mãn nhu cầu trực tiếp những nhu cầu sơ
đẳng và giản đơn của con ngời.
KTHH là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội phát triển hơn so với KTTN,
tạo ra động lực thúc đẩy LLSX phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.1.2. Những tiền đề, điều kiện và các nhân tố thúc đẩy sự hình
thành và phát triển kinh tế hàng hoá
Trong lịch sử, mỗi bớc phát triển của KTTN cũng là một bớc tiến dần

Về mặt khái niệm, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về thị trờng.
Theo nghĩa ban đầu, nguời ta cho rằng thị trờng là nơi diễn ra quá trình trao
đổi, mua bán hàng hoá. Theo nghĩa đó, thị trờng có thể là một địa điểm cụ
thể nào đó, chẳng hạn nh một hội chợ hoặc các khu vực tiêu thụ hàng hoá.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lu thông hàng hoá, khái niệm về thị
trờng càng ngày càng đợc mở rộng.
Phần lớn các quan niệm cho rằng thị trờng là một khâu của quá trình
trao đổi, mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả
và sản lợng hàng hoá.
Để đảm bảo cho nền sản xuất hàng hoá phát triển, các thị trờng phải
đợc hình thành và phát triển một cách đồng bộ và thông qua các quy luật
vận động của nó để điều tiết hoạt động của nền kinh tế.

6

1.1.3.3. Cơ chế thị trờng
Cơ chế thị trờng chính là bộ máy điều tiết toàn bộ sự vận động của
kinh tế thị trờng, điều tiết quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá dới sự
tác động của các quy luật kinh tế của kinh tế thị trờng. Với cách hiểu đó,
theo chúng tôi, có thể đồng tình với ý kiến cho rằng: Cơ chế thị trờng là cơ
chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trờng do sự tác động của các quy luật
vốn có của nó. Nói một cách cụ thể hơn, cơ chế thị trờng là hệ thống hữu cơ
của sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết lẫn nhau của các yếu tố giá cả, cung
cầu, cạnh tranh ... trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trờng để điều tiết nền
kinh tế thị trờng.
Cơ chế thị trờng là bộ máy tinh vi để phối hợp một cách tự phát hoạt
động của ngời sản xuất và ngời tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trờng các quy luật của nó biểu thị sự hoạt động
của mình thông qua giá cả thị trờng (GCTT), trong đó quy luật giá trị đóng
vai trò quan trọng. Nhờ sự vận động của GCTT mà diễn ra một sự thích ứng

hiện chính sách phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân c. 7) Đảm bảo
phát triển kinh tế đối ngoại, gắn thị trờng trong nớc với thị trờng khu vực
và thế giới; tôn trọng những quy tắc và thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế.
1.1.5. Các tiêu chí phản ánh mức độ, trình độ phát triển của kinh tế
hàng hoá
Mức độ phát triển của KTHH trong các giai đoạn phát triển của nền
kinh tế không giống nhau. Do đó nhìn vào hiện trạng phát triển kinh tế xã
hội của một vùng lãnh thổ ta phải căn cứ vào những tiêu chí nhất định có thể
phản ánh trình độ phát triển KTHH. Với những cách tiếp cận khác nhau có
thể nhìn nhận nền KTHH khác nhau, trong khuôn khổ của luận án, khi xem
xét trình độ phát triển KTHH của một vùng lãnh thổ nào đó có thể nhận
dạng qua các tiêu thức nh:
- Sự dồi dào của hàng hoá trên thị trờng và tính đa dạng phong phú
của hàng hoá.
- Sự đa dạng của các thành phần, lực lợng sản xuất hàng hoá và
tham gia hoạt động trên thị trờng.
- Tỷ suất hàng hoá của sản phẩm đợc sản xuất ra, sự hiện diện và
quy mô của các loại hàng hoá.
- Mật độ và quy mô các chợ, cửa hàng kinh doanh thơng mại.
- Quy mô và các hình thức kinh doanh xuất - nhập khẩu.
- Mật độ phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng.
- Tỷ lệ chi tiêu so với thu nhập của dân c và tỷ trọng tiêu dùng hàng
hoá thông qua trao đổi.
1.2. Kinh nghiệm của một số nớc về phát triển sản
xuất hàng hoá
Trong khuôn khổ của một luận án, nội dung nghiên cứu chủ yếu tập
trung vào việc tìm hiểu kinh nghiệm về phát triển sản xuất hàng hoá ở khu
vực nông thôn và các vùng đặc biệt khó khăn của các nớc. Đây là khu vực
có nhiều điểm tơng đồng với Sơn La trong phát triển kinh tế hiện nay. Qua
nghiên cứu, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Bình; Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu; phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nớc
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Tỉnh Sơn La có đờng biên giới giáp Lào
250 km và giáp các tỉnh bạn là 628 km. Sơn La nằm trên trục đờng quốc lộ
6 nối Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La - Điện Biên, cách Hà Nội 320 km đờng
bộ. Dân số của Sơn La năm 2004 có 974.897 ngời, mật độ dân số bình quân
69 ngời/km
2
, với 12 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó các dân tộc
Thái chiếm 54%, Kinh chiếm18%, H
,
Mông chiếm12%, Mờng chiếm 8,4%,
Dao chiếm 2,5%, dân tộc khác chiếm 5,1%.
Điều kiện tự nhiên của Sơn La khá khắc nghiệt, địa hình cao, dốc, bị
chia cắt mạnh bởi các dãy núi xen kẽ với hệ thống sông suối dày đặc

9

1,8km/km
2
. Kết cấu hạ tầng còn kém phát triển, trình độ dân trí thấp ảnh
hởng không nhỏ tới việc phát triển sản xuất hàng hoá.
2.1.2. Thuận lợi, khó khăn và sự cần thiết phát triển kinh tế hàng
hoá ở tỉnh Sơn La
2.1.2.1 Thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi:1) Sơn La có lợi thế về tiềm năng thuỷ điện, đặc biệt
công trình thuỷ điện Sơn La lớn nhất cả nớc đã đợc khởi công xây dựng
vào cuối năm 2005. Đây là cơ hội rất tốt để Sơn La đẩy mạnh tốc độ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, sắp xếp lại dân c, tăng cờng đầu t kết cấu hạ tầng,
thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, tạo sự đột biến về tốc độ tăng
trởng. 2) Đất đai khai thác còn cha nhiều, độ phì tự nhiên khá, khí hậu ôn

động xã hội cho phù hợp với tính chất của nền kinh tế trong xu thế hội nhập.
4) góp phần bảo vệ môi trờng sinh thái của nớc ta. 5) gắn phát triển kinh
tế với vấn đề phát triển văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng.
2.2. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế ở Sơn La trớc
thời kỳ đổi mới
Bức tranh kinh tế của tỉnh trớc giai đoạn đổi mới có thể khái quát
nh sau: kinh tế Sơn La là một nền kinh tế sản xuất theo kiểu tự cấp, tự
túc, đang còn thiếu những điều kiện cơ bản của sản xuất hàng hoá; cơ chế
quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp với những chính sách không
phù hợp đã làm cho sản xuất hàng hoá không phát triển, thui chột tiềm
năng thế mạnh của tỉnh, sản xuất bị đình đốn, đời sống của nhân dân vô
cùng khó khăn.
2.3. Thực trạng phát triển kinh tế hng hoá của tỉnh Sơn La
trong thời kỳ đổi mới v đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.3.1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng tiền đề cho phát triển kinh tế hàng hoá
Nền kinh tế Sơn La còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nên
còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế nhà nớc vẫn giữ
vai trò chủ đạo, là lực lợng quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh,
nhng hoạt động với hiệu quả thấp. Kinh tế tập thể có vai trò nhỏ bé và mờ
nhạt đối với phát triển kinh tế. Kinh tế t nhân có tiềm lực kinh tế yếu ớt
(năm 2004 mới chiếm 4,04% GDP của tỉnh), cha có vai trò tích cực trong
phát triển kinh tế của tỉnh. Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vai trò quan
trọng, chiếm tỷ trọng cao trong GDP (năm 2004 chiếm 66,94%), đồng thời
đang phát triển nhanh chóng trong các lĩnh vực của nền kinh tế.
Bảng 2.2: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (theo giá hiện hành)
Đơn vị: %

Tổng
số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status