Sự cần thiết và các giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A - đặt vấn đề.
Phát triển kinh tế là một hoạt động kinh tế cơ bản, là một bộ phận đánh
giá hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế
là vấn đề hết sức quan trọng trong đờng lối phát triển kinh tế của mỗi quốc gia,
đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển, nó chính là công cụ đánh giá giúp
các nớc đang phát triển rút ngắn khoảng cách tuyệt đối và tơng đối với các nớc
phát triển trên thế giới.
Việc phát triển kinh tế nh thế giới nh thế nào? Giải pháp nào để phát triển
kinh tế? Và hàng loạt các vấn đề cần phải quan tâm và đợc tính đến trong chính
sách đầu t của mỗi quốc gia.
Sản xuất lơng thực thực phẩm (hay sản xuất nông nghiệp) là một đặc trng
cơ bản của nền sản xuất nớc ta. Nó gắn liền với chiều dài lịch sử, văn hoá của
dân tộc.
Kinh tế phát triển nông thôn là vấn đề phức tạp rộng lớn, nông thôn có
vai trò vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Đối với các nớc đang phát triển nông thôn lại càng có ý nghĩa to lớn, đó là cơ sở
đầu tiên để tổ chức sản xuất và đáp ứng yêu cầu cơ bản của nhân dân. Đất đai,
lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật là những nguồn lực quan trọng nhất của mỗi n-
ớc ngay từ những bớc đi ban đầu phát triển kinh tế.
Ngày nay, với sự phát triển nh vũ bão về kinh tế của các nớc trong khu
vực và trên thế giới. Với xu hớng chuyển từ đối đầu sang đối thoại các quan hệ
song phơng và đa phơng. Một vấn đề đặt ra là để hòa nhập vào sự phát triển
chung đó thì chúng ta cần phải tự khẳng định mình, đặc biệt là về kinh tế. Nh đã
nói trên, nớc ta là một nớc nông nghiệp, với gần 80% dân số hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp. Thu nhập của ngời dân nông thôn phụ thuộc chủ yếu vào
sản xuất nông nghiệp. Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, giá trị sản xuất do nông
nghiệp tạo ra vẫn giữ vị trí khá lớn trong nền kinh tế.
Tuy đã đạt đợc một số thành tựu bớc đầu từ khi đổi mới xong nông
nghiệp nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn, vớng mắc do nhiều nhân tố chủ quan
và khách quan.

các quan hệ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân.
Hiện nay Kinh tế Nông thôn còn dựa chủ yếu trên cơ sở nông nghiệp để
phát triển nhng là một sự phát triển tổng hợp, đa ngành nghề, với nhữnh biến
đổi quan trọng trong phân công lao động xã hội ngay tại khu vực Nông thôn, do
đó tạo ra những lực lợng sản xuất mới mà nền nông nghiệp truyền thống trớc
đây cha hề biết đến.
Kinh tế Nông thôn trớc hết có Nông- Lâm- Ng nghiệp bảo đảm nhu cầu
về lơng thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản
xuất ra các sản phẩm cho thị trờng trong nớc và ngoài nớc.
Kinh tế Nông thôn nhất thiết phải có công nghiệp gắn với nông nghiệp, lâm
nghiệp, ng nghiệp. Trớc hết là ngành công nghiệp chế biến cùng với sự phát
triển của Kinh tế nông nghiệp, công nghiệp ở Nông thôn không chỉ dừng lại ở
công nghiệp chế biến mà còn có thể phát triển những ngành công nghiệp phục
vụ cho đầu vào của sản xuất nông nghiệp nh: Công nghiệp cơ khí sửa chữa máy
móc nông nghiệp, thuỷ lợi... công nghiệp ở Nông thôn còn bao gồm 1 bộ phận
tiểu thủ công nghiệp với các trình độ công nghiệp khác nhau, sản xuất các hàng
hoá không có nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp cho tiêu dùng trong nớc và
xuất khẩu, nh vậy công nghiệp ở Nông thôn làm cho nông nghiệp và công
nghiệp kết hợp với nhau ngay tại chỗ thành cơ cấu ngành nghề.
Kinh tế Nông thôn ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nnghiệp còn có
các loại hình dịch vụ thơng nghiệp, tín dụng, kế hoạch và dịch vụ t vấn, các loại
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hình dịch vụ này cùng với các cơ sở hạ tầng ở Nông thôn sẽ là những bộ phận
hợp thànhcủa Kinh tế Nông thôn, sự phát triển mạnh mẽ và hợp lý của chúng là
biểu hiện trình độ phát triển của Kinh tế Nông thôn.
Kinh tế Nông thôn là một cơ cấu Kinh tế nhiều thành phần, nền Kinh tế quốc
dân có bao nhiêu thành phần thì ngành Kinh tế Nông thôn có bấy nhiêu, tuy
nhiên các thành phần Kinh tế đó trong Kinh tế Nông thôn sẽ có những hình thức

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nông thôn chiếm 80% dân số cả nớc. Đó là thị trờng rộng lớn tiêu thụ sản
phẩm công nghiệp và dịch vụ, nông thôn phát triển cho phép nâng cao đời sống
và thu nhập của dân c, nông dân tao ra điều kiện mở rộng thị trờng để phát triển
sản xuất trong cả nớc.
ở nông thôn có 52 dân tộc khác nhau sinh sống bao gồm nhiều thành phần,
nhiều tầng lớp có các tôn giáo và tín ngỡng khác nhau là nền tảng quan trọng để
đảm bảo ổn định tình hình kinh tế xã hội của đất nớc, để tăng cờng sự đoàn kết
của cộng đồng các dân tộc
Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn của đất nớc có điều kiện tự nhiên kinh
tế xã hội khác nhau. Đó là tiềm lực to lớn về tài nguyên đất đai, khoáng sản để
phát triển bền vững đất nớc .
3- Sự cần thiết phải phát triển kinh tế nông thôn
Xuất phát từ vai trò và tác dụng của kinh tế nông thôn là nền tảng cho quá
trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá. Vậy để cho quá trình thực hiện
công nghiệp hoá hiện đại hoá diễn ra đạt đợc mục tiêu nh dự định chúng ta phải
có sự đầu t phát triển nông nghiệp nông thôn, hơn nửa nớc ta lại là nớc nông
nghiệp lạc hậu trình độ dân trí trong khu vực nông thôn lại thấp do vậy nó sẻ
làm cho quá trình công nghiệp hoá sẻ gặp khó khăn. Nhà nớc cần có chính sách
và biên pháp để phát triển kinh tế nông thôn nh: Mở rộng đờng xá, phát triển
giáo dục, quan tâm khu vực vùng núi, vùng sâu và vùng xa để tạo ra sự phát
triển đồng đều dữa các khu vực tránh tình trạng phân hóa giàu nghèo dẫn tới
nhiều tệ nạn xã hội ...
Kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng nó tạo điều kiện cho quá độ lên chủ
nghĩa xã hội nớc ta. Trong khu vực nông thôn với một địa bàn rộng lớn và dân
số đông thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ công
nghiệp nhỏ vì vậy vai trò của phát triển nông thôn cực kì quan trọng nó sẽ đảm
bảo cho nhu cầu lơng thực nớc nhà, kinh tế nông thôn phát tiển sẽ tao ra nhiều
công ăn việc làm cho ngời lao động giúp đời sống cuả ngời lao động trong khu
vực nông thôn đợc nâng cao. Hiện nay trong khu vực nông thôn đã có nhiều có

1- Nông nghiệp Việt Nam vào đầu thế kỷ.
Nông nghiệp Việt Nam vào đầu thế kỉ chủ yếu là nền nông nghiệp cổ
truyền, dựa trên nền kinh tế gia đình nông dân và cộng đồng làng xã. Dân số
trong nửa đầu thế kỉ chỉ tăng khoảng 1% năm. Dân số bắt đầu tăng nhanh
hơn từ sau 1920 1,5% ở Bắc bộ và 1,2 - 1,3% ở Nam Bộ .
ở Miền Bắc và Miền Trung đã có một nghề trồng lúa nớc chủ yếu đầu t lao
động. Ngoài cải tiến về thuỷ lợi cha dùng phân hoá học. Năng suất khoảng 12
tạ/ha so với 15 tạ ở Java (Indonexia) 18 tạ Thái Lan và 34 tạ ở Nhật Bản Miền
Bắc và Miền Trung sản xuất đủ ăn một cách khó khăn, năm bình thòng Miền
Bắc xuất 200.000 tấn gạo và 130.000 tấn ngô. Sự phát triển của nông nghiệp
chủ yếu đợc thực hiện bằng cách khai phá thêm đất đai ở Bắc Kỳ từ năm 1925
đến 1926 đã có 35 lần vỡ đê, do đấy công tác thuỷ lợi ở Miền bắc phải tập trung
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vào việc củng cố đê điều. Chính quyền Pháp xây dựng một số công trình tới tự
chảy ở Bắc Giang, Vĩnh Yên, Thanh Hoá, Nghệ An.
Sau khi đánh chiếm Nam Kỳ thực dân Pháp bắt đầu khai thác Đồng bằng Sông
Cửu Long (ĐBSCL) chủ yếu phát triển bằng nghề trồng lúa. Cách khai thác dựa
chủ yếu vào phơng thức canh tác cổ truyền từ thế kỷ 17 chỉ thay đổi một phần ở
khâu thu mua chế biến và xuất khẩu gạo.
Việc đào kênh bắt đầu từ thế kỷ 19 đợc tiếp tục vào 1866 bằng sức dân đến
1893 việc dùng xăng đọc bắt đầu đã đẩy nhanh tốc độ. Nhờ vậy mà diên tích
trồng lúa tăng nhanh. Năm 1930, nứơc ta là nớc xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế
giới sau Miến Điện, cung cấp chủ yếu cho Trung Quốc (30 đến 40% lợng
nhập).
Sự phân phối ruộng đất không đồng đều ở Miền Bắc và Miền Trung chủ yếu là
chế độ địa chủ nhỏ còn ở Miền Nam là chế độ địa chủ lớn. Một số lớn ruộng đất
bị thực dân Pháp chiếm đoạt chế độ cộng đồng làng xã ở Miền Bắc và Miền
Trung tơng đối khép kín và chặt chẽ hơn ở Miền Nam.
2- Sự phát triển của nông nghiệp sau năm 1930.

ĐBSH đến 3,3 lần và sản lợng lơng thực cao hơn 2,4 lần.
ở Miền núi phía Bắc dân số tăng (do có di c đến), diện tích đất và sản lợng l-
ơng thực vẫn còn dới mức đủ ăn và cái giá phải trả là đã phá hoại mất hơn 9
triệu ha rừng (gần 50% rừng của nớc ta) để lại một hậu quả khó bù lại cho sự
phát triển bền vững trong tơng lai. Hiện nay các hệ thống nông nghiệp ở miền
núi trừ các vùng trồng nhiều cây lâu năm đang ở trong một tình trạng khủng
hoảng, cha tìm đợc lối ra vì cách làm ăn cũ: phá rừng đốt rẫy, canh tác nơng, du
canh, bỏ hoá cho rừng phục hồi không còn làm đợc nữa vì các rừng có thể phá
đã bị phá gần hết. Tất cả các phơng hớng phát triển mới nh làm nơng định canh,
trồng theo đờng đồng mức trên đất dốc, làm bậc thang, trồng cây công nghiệp
lâu năm, cây ăn quả, trồng cỏ và chăn nuôi đều đòi hỏi phải có thị tr ờng, vốn,
lao động và kiến thức là các thứ mà ở miền núi thiếu hơn bất cứ nơi nào.
Sự phát triển ấy chủ yếu là do trong thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai
nhiều cuộc cải thể chế ruộng đất hoặc mang tính cải cách hoặc mang tính cách
mạng đã xoá bỏ dần chế độ địa chủ, chia ruộng cho dân cày, làm tăng đáng kể
sự công bằng xã hội và mức sống của nông dân. Tuy vậy sự cải tiến này chỉ đợc
thực hiện rõ ràng nhất sau thời kỳ đổi mới.
ở ĐBSH trong thời gian này thu nhập thuần của nông dân tăng 2,6 lần; cao
hơn ĐBSCL, nhng giá trị tuyệt đối chỉ bằng 77%.
Về mặt kỹ thuật nông nghiệp: ở Miền Bắc, ngay từ sau hiệp định Geneve
(1954), một phong trào làm thuỷ lợi đại quy mô vừa do nhà nớc vừa do dân
cùng làm đã tăng nhanh diện tích nớc tới và tiêu tạo tiền đề cho việc tăng vụ,
thâm canh lúa và cây trồng khác, làm thay đổi hệ thống cây trồng và thúc đẩy
việc dùng các giống lúa năng suất cao, phân bón và thuốc trừ sâu.
Trong một thời gian ngắn sự thay đổi này (bắt đầu từ trớc và trong chiến tranh
đã đợc đẩy mạnh sau khi chiến tranh chấm dứt ở Miền Bắc và nhất là sau năm
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1975) đã tạo điều kiện cho sự bột phát lúc thể chế kinh tế hộ nông dân và kinh
tế thị trờng đợc áp dụng.

Mặc dù vậy với một thời gian quá ngắn nông nghiệp Việt Nam còn cha giải
quyết đợc hết khó khăn do sự phát triển đất nớc. Nền nông nghiệp hàng hoá chỉ
mới đợc phát triển trên một số vùng nh Nam Bộ và Tây Nguyên. Các vùng khó
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khăn nh Miền Trung và miền núi phía Bắc, hay ngay cả ĐBSH vẫn còn đang
tìm hớng phát triển.
3- Những thành tựu đạt đợc của nông nghiệp trớc thềm thế kỷ 21.
Bớc sang thế kỷ 21, ngành nông nghiệp Việt Nam rất tự hào đạt đợc những
thành tựu quan trọng khi kết thúc thế kỷ 20. Tốc độ tăng trởng nông nghiệp
bình quân 15 năm cuối thế kỷ đạt 4,5%, cao hơn thời kỳ trớc đó 3,4%, riêng
năm 1999 đạt trên 5,5%. Thành công đó đảm bảo vững chắc an toàn lơng thực
thực phẩm trong nớc và có sản phẩm d thừa để xuất khẩu với khối lợng lớn.
Nguồn ngoại tệ thu đợc từ các sản phẩm nông nghiệp nhng năm qua đạt đến
47% tổng giá trị xuất khẩu cả nớc. Chính sự ổn định vững chắc của lơng thực
thực phẩm trong 15 năm qua đã góp phần quan trọng hạn chế tiêu cực của
khủng hoảng kinh tế và tiền tệ khu vực và thế giới đối với kinh tế nớc ta.
Năm 2000 mặc dù bị lũ lụt lớn, nhất là ở ĐBSCL, gây thiệt hại nặng nề nhng
trên phạm vi cả nớc, nông nghiệp vẫn đợc mùa toàn diện. Theo đánh giá bớc
đầu nhiều chỉ tiêu quan trọng nh sản lợng lơng thực, cà phê, cao su, hạt điều,
thịt hơi xuất chuồng, sản lợng thuỷ sản đều đạt mức cao nhất từ tr ớc tới nay.
Tốc độ tăng trởng toàn ngành vợt kế hoạch đề ra cho kế hoạch 1996-2000.
Sản lợng lơng thực quy thóc đạt 35,7 triệu tấn, tăng 1,5 triệu tấn so với năm
1999 và là mức cao nhất từ trớc đến nay, chủ yếu là tăng sản lợng lúa. Sản lợng
lơng thực năm 2000 tăng cả sản lợng lúa và ngô, tăng nhanh cả diện tích, năng
suất và sản lợng.
Sản lợng lúa cả năm đạt khoảng 32,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với năm
1999. Năng suất bình quân cả năm đạt 42,62 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với năm
1999; Miền Bắc đạt 46,5 tạ/ha tăng 2,2 tạ/ha; Miền Nam đạt 40,65 tạ/ha tăng
1,29 tạ/ha. Tăng năng suất lúa do cơ cấu giống lúa ở các tỉnh Miền Bắc thay đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status