Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở cao bằng - Pdf 10

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để
phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Cao Bằng Đào Xuân Kiên Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đào Ngọc Minh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu lý luận về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông
nghiệp. Khảo sát thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông
nghiệp ở tỉnh Cao Bằng. Đề xuất một số phương hướng và giải pháp đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp của tỉnh thời gian tới.

Keywords. Nông nghiệp; Cơ cấu cây trồng; Vật nuôi; Cao Bằng

Content

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp giữ một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc
biệt với Việt Nam, từ lâu nông nghiệp đã trở thành một thế mạnh và là chỗ dựa vững chắc để
đất nước có thể vượt qua những khó khăn, thử thách để xây dựng đất nước ngày càng giàu
mạnh.
Trong những năm đổi mới vừa qua, sản xuất nông nghiệp trong nước đã đạt được
những thành tựu to lớn. Không những cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho con người,
đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công

hàng hóa nông nghiệp nói riêng là chủ đề được Đảng, Nhà nước và nhiều người quan tâm
nghiên cứu và đã có rất nhiều công trình được công bố, xuất bản như:
- Lê Quốc Sử (Chủ biên) - “Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế
nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ
XXI”, NXB Thống Kê - 2001.
- Luận án Tiến sĩ - Nguyễn Đăng Bằng - “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc
Trung Bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh - 2001.
- Luận án tiến sĩ - Phạm Ngọc Dũng - “Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp ở vùng lãnh thổ đồng bằng Sông Hồng - thực trạng và giải pháp”, Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh - 2002.
- Luận văn thạc sỹ - Hà Tiến Thăng “ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát
triển nông nghiệp hàng hóa ở Thái Bình”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - 2006.
- Nguyễn Sinh Cúc - “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn sau 2 năm
thực hiện nghị quyết TW5”, Con số và sự kiện số tháng 6 - 2004.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ những đặc điểm, vai trò, thực
trạng và giải pháp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Nhưng cho đến nay,
vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Cao Bằng. Vì vậy, trên cơ sở
kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, luận văn này góp phần làm sáng
tỏ hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở
Cao Bằng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về sự biến đổi cơ cấu kinh tế ngành trong nông nghiệp
hàng hóa và khảo sát thực trạng biến đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của tỉnh Cao Bằng, luận
văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi nhằm phát triển nông nghiệp hàng hóa của tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu lý luận về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp.


Chƣơng 1
NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG,
VẬT NUÔI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
1.1. Nông nghiệp hàng hóa - Đặc điểm và tính ƣu việt
1.1.1. Đặc điểm của nông nghiệp hàng hóa
Thứ nhất, hình thành những đơn vị kinh tế không thuần nhất, số lượng những
đơn vị kinh tế thực hiện một chức năng kinh tế giống nhau giảm xuống, số lượng những
ngành kinh tế riêng biệt tăng lên.
Công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, sản xuất và trao đổi hàng hóa trở thành phổ
biến, các ngành kinh tế mới trong nội bộ nông nghiệp mới có điều kiện phát triển mạnh, thị
trường từng bước được mở rộng đưa đến chỗ ngày càng tăng thêm những ngành công nghiệp
riêng biệt tách khỏi nông nghiệp. Xu hướng phát triển này không những biến việc sản xuất
mang tính chuyên biệt tạo ra từng sản phẩm riêng mà còn sản xuất bộ phận riêng của sản
phẩm, thậm chí cả từng thao tác trong việc chế biến sản phẩm thành một ngành công nghiệp
hoặc dịch vụ riêng. Quá trình này cũng diễn ra trong nội bộ ngành nông nghiệp làm nảy sinh
những khu vực nông nghiệp chuyên môn hóa, dẫn đến sự trao đổi sản phẩm nông nghiệp lấy
sản phẩm công nghiệp, giữa sản phẩm nông nghiệp với nhau.
Thứ hai, sự phân công xã hội ngày càng phát triển dẫn đến sự ra đời của thương
nghiệp. Lúc đầu thương nghiệp chỉ đón những sản phẩm thừa ra, về sau nó tác động vào nền
sản xuất, hướng sản xuất vốn nhằm vào nhu cầu tiêu dùng trực tiếp chuyển sang sản xuất
nhằm vào thị trường và từng bước sát nhập lưu thông thành một khâu của quá trình tái sản
xuất và thị trường ngày càng mở rộng. Sự phát triển của sản xuất hàng hóa sẽ chấm dứt tình
trạng phân tán của những đơn vị kinh tế nhỏ (trong kinh tế tự nhiên) và sẽ tập hợp các thị
trường nhỏ địa phương thành một thị trường lớn trong toàn quốc và sau đó trên toàn thế giới.
Theo tiến độ đó xu hướng phát triển tất yếu của sản xuất xã hội là kinh tế tự nhiên sẽ
chuyển thành kinh tế hàng hóa, các ngành kinh tế chuyên môn hóa gắn bó mật thiết với nhau
hơn.
Kinh tế hàng hóa phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn
vị kinh tế; tạo điều kiện cho sự phát triển tự do, toàn diện của cá nhân; tạo ra cơ chế phân bổ

Phân công lao động ở nông thôn diễn ra theo hướng giảm lao động trồng lúa chuyển
sang trồng các cây khác và phát triển chăn nuôi, mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ, với việc mở rộng lao động ra thành thị phục vụ cho nhu cầu phát triển công nghiệp,
thương nghiệp và các dịch vụ khác.
Thứ hai, tỷ trọng giá trị sản phẩm trồng trọt giảm xuống và tỷ trọng giá trị sản phẩm
chăn nuôi tăng lên.
Việc hình thành một cơ cấu ngành nông nghiệp hợp lý cho phép khai thác tốt nhất các
nguồn lực tạo ra sức bật mới trong nông thôn. Xu hướng chung là phải phát triển cả nông
nghiệp (theo nghĩa hẹp), lâm nghiệp, ngư nghiệp; phải phát triển cả trồng trọt và chăn nuôi,
đưa chăn nuôi trở thành một ngành sản xuất chính.
Thứ ba, tỷ trọng giá trị sản lượng lương thực giảm (nhưng sản lượng tuyệt đối thì
tăng lên do năng suất lao động cây trồng tăng cao); tỷ trọng các loại cây công nghiệp và rau
quả tăng lên.
Xu hướng chung ở nước ta hiện nay là giảm tỷ trọng cây lương thực tăng giá trị cây
thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp; giảm tỷ trọng và giá trị sản phẩm thô, tăng tỷ trọng
giá trị sản phẩm chế biến… trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp. Điều đó cho phép khai
thác tiềm năng và lợi thế các vùng khác nhau, kết hợp hợp lý nông - lâm - ngư nghiệp đem lại
hiệu quả kinh tế cao hơn.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp
Một là, năng suất lao động trong nông nghiệp, nhất là năng suất lao động trong trồng
cây lương thực
Hai là, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu
Ba là, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nhất là giao thông vận tải
Bốn là, sự phát triển công nghiệp chế biến nông sản
1.2.4. Một vài kinh nghiệm của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng sản xuất hàng hóa ở nước ta
Một là, quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở các tỉnh mặc dù điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội còn có những điểm khác nhau, nhưng cái chung nhất là dựa trên
tiềm năng, thế mạnh của mình, phát triển theo cơ chế thị trường, mỗi tỉnh từng bước xác định
cho mình một cơ cấu kinh tế hợp lý.

Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội 286 km theo Quốc lộ 3) và không nằm trong vùng ảnh hưởng
của hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội; điều kiện cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ
thống giao thông, chỉ có một loại hình giao thông duy nhất là đường bộ còn rất yếu kém, vì
vậy giao thương giữa Cao Bằng với ngoài nước (Trung Quốc), với thủ đô Hà Nội cùng các
tỉnh, thành trong cả nước và ngay trong nội bộ tỉnh còn rất khó khăn, nhất là ở nông thôn,
vùng cao còn khó khăn, đặc biệt là giao thông nông thôn (ô tô chưa đi được bốn mùa) nên
ảnh hưởng nhiều đến việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mức độ phát triển chỉ trong một
chừng mực nhất định.
2.1.2. Chất lượng đất để canh tác ở Cao Bằng không đồng đều
Tài nguyên đất ở Cao Bằng nhìn chung đa dạng, phức tạp. Đất đai ở Cao Bằng được
chia ra làm 3 nhóm đất chính với 24 loại đất khác nhau: Nhóm đất núi; Nhóm đất đồi (đất đỏ
vàng); Nhóm đất bằng - thung lũng.
2.1.3. Nguồn nước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Cao Bằng có nguồn nước tương đối dồi dào, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất
nông nghiệp, dịch vụ và đời sống sinh hoạt của nhân dân. Mạng lưới sông suối và hồ của Cao
Bằng phong phú và đa dạng. Sông, suối Cao Bằng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho việc
tưới các cây nông nghiệp và phát triển thủy điện cỡ nhỏ và trung bình.
2.1.4. Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp cao nhưng phần lớn là lao động
giản đơn
Năm 2010 dân số tỉnh Cao Bằng là 513.108 người, trong đó dân số lao động trong độ
tuổi là 324.028 người chiếm 63,15% tổng dân số trong toàn tỉnh. Lực lượng lao động của tỉnh
chủ yếu là hoạt động trong các ngành nông nghiệp, cơ cấu lao động ngành nông - lâm nghiệp
năm 2010 chiếm tới 80,4% trong tổng cơ cấu lao động của tỉnh, trong khi đó nhóm ngành
công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 6,6%, dịch vụ chiếm 13%. Trình độ học vấn và số lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo thấp.
2.1.5. Đường bộ nội tỉnh phát triển chậm, không có đường sắt và cảng biển nên
gặp nhiều khó khăn về vận tải ra ngoài tỉnh
So với các tỉnh khác trong cả nước, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng
còn thiếu và yếu, nhất là giao thông. Chất lượng đường bộ nội tỉnh Cao Bằng còn rất thấp,
đường cấp phối, đường đá dăm chiếm 24,6%, đường nhựa chỉ chiếm 9,3%, còn lại là đường

Cây
ăn
quả
Thủy sản
ha
%
ha
%
ha
%
ha
%
ha
%
20
01
7629
3
29
18
1
38,
2
32
96
1
43,
2
1211
8

,
7
294
0,38
20
03
7800
6
29
00
4
37,
2
33
92
2
43,
5
1256
2
16,
1
20
92
2
,
7
426
0,54
20

4
37,
3
35
68
1
44,
2
1226
1
15,
2
23
11
2
,
9
346
0,4
20
06
8096
9
30
59
5
37,
8
35
79

14,
8
24
45
2
,
9
362
0,4
20
08
8549
0
29
89
2
35,
0
38
88
9
45,
5
1363
2
15,
9
25
15
2

10
8787
1
29
76
5
33,
9
40
25
0
45,
8

4555
16,
6
27
25
3
,
1
576
0,65
20
11
9318
5
29
42


m
Trâu

Lợn
Gia cầm
Số
lƣợn
g
(con
)
Chỉ số
phát
triển
(%)
Số
lƣợn
g
(con
)
Chỉ số
phát
triển
(%)
Số
lƣợn
g
(con
)
Chỉ số

1074
93
101,23
1114
10
101,21
2695
89
102,5
5
1590
201
105,4
1
200
3
1088
11
101,23
1145
67
102,83
2841
35
105,4
0
1845
235
116,0
4

103,0
2
200
6
1147
39
101,90
1242
63
99,88
3021
58
97,85
2157
819
109,6
8
200
7
1173
36
102,26
1294
80
104,20
3107
71
102,8
5
2088

906
106,4
9
201
0
1072
88
99,49
1761
02
113,69
3407
99
102,7
9
2388
240
111,8
6

Trong chăn nuôi, do ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân như bệnh lở mồm long móng,
bệnh cúm gia cầm nên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng của ngành chăn
nuôi. Nhưng nhờ triển khai các biện pháp phòng, chống có hiệu quả nên tổng đàn bò, lợn và
gia cầm khá ổn định. Riêng đàn trâu là có xu hướng giảm do ảnh hưởng bởi thời tiết khắc
nghiệt rét đậm rét hại và đặc biệt là do quá trình chọn lọc ngược (giữ con xấu bán con tốt)
nên ngày càng thoái hóa.

2.2.3. Sản lượng và giá trị sản lượng của trồng trọt tăng, chăn nuôi lúc tăng lúc
giảm
Bảng 2.5: Sản lƣợng và giá trị sản lƣợng trồng trọt và chăn nuôi [8, tr. 103 - 115]

Chỉ số
phát
triển
(%)
2003
570184
354769
448974
62,22
102,05
215415
236462
37,73
110,25
2004
593681
370101
463626
62,34
103,26
223580
255585
37,65
108,09
2005
508768
369264
487659
72,58
105,18

215362
159527
30,71
90,36
2009
666644
442252
545286
66,34
98,12
224392
182025
33,65
114,10
2010
709387
484086
600760
68,24
110,17
225301
191675
31,75
105,30

Sản lượng và giá trị của trồng trọt diễn ra theo xu hướng ngày càng tăng. Thực hiện
chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển dịch thời vụ, xây dựng cánh đồng 30 - 50 triệu
đồng/ha/năm, toàn tỉnh đã tiến hành nâng cao hệ số sử dụng đất. Nhờ đó, hiệu quả kinh tế trên một
đơn vị diện tích đã tăng lên, góp phần tăng thu nhập, sản xuất hàng hóa có giá trị cao.
Chăn nuôi ở Cao Bằng giữ một tỷ trọng thấp trong cơ cấu nông nghiệp và có tốc độ

Thứ nhất, từ 2006 đến nay, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh đã có những
chuyển biến hết sức quan trọng, tốc độ tăng trưởng ngành nông - lâm nghiệp đạt 2,8%, giá trị
sản xuất nông nghiệp đạt 20 triệu đồng/ha, tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt
trên 240 nghìn tấn, tăng 10,15% so với năm 2005, không những đủ lương thực cho người mà
còn dành cho phát triển chăn nuôi. Thứ hai, cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã có chuyển biến tích
cực từ sản xuất tự túc, tự cấp chuyển sang hình thành và phát triển sản xuất hàng hóa.
Thứ ba, các sản phẩm hàng hóa, vùng sản xuất hàng hóa đã cơ bản giải quyết những
vấn đề quan trọng trong sản xuất nông nghiệp là giúp nông dân giảm nghèo, nâng cao và ổn
định thu nhập của người sản xuất và cho người nông dân kiến thức sản xuất gắn với thị
trường.
* Khó khăn:
Thứ nhất, trong cơ cấu nông nghiệp, trồng trọt vẫn giữ vai trò chính, chăn nuôi, dịch
vụ chưa phát triển tương xứng, giá trị cơ cấu của lâm sản và thủy sản còn rất nhỏ. Chuyển đổi
cây trồng, vật nuôi ở một số vùng chưa rõ nét, sản xuất ở nhiều vùng còn mang tính tự cung
tự cấp.
Thứ hai, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết,
khí hậu, điều kiện đất đai thổ nhưỡng.
Thứ ba, trình độ công nghệ trong nhiều lĩnh vực lạc hậu, một số sản phẩm chất lượng
kém, mẫu mã và quy cách chưa thu hút thị hiếu người tiêu dùng. Khả năng cạnh tranh hàng
hóa thấp, sản phẩm tiêu thụ ngoài tỉnh và xuất khẩu ít.
Thứ tư, ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc chưa phát triển tương xứng với
tiềm năng. Dịch vụ nuôi trồng thủy sản chưa phát triển, vì vậy việc mở rộng diện tích nuôi
trồng thủy sản còn nhiều khó khăn.
Thứ năm, cán bộ cơ sở và nông dân nhận thức về chuyển đổi kinh tế nông thôn và áp
dụng kỹ thuật trong sản phẩm nông nghiệp hàng hóa còn hạn chế,
Thứ sáu, tập quán sản xuất của bà con vẫn còn manh mún, còn mang tư tưởng sản
xuất nhỏ, thủ công.
Thứ bảy, các chính sách hỗ trợ của nhà nước về đất đai, tín dụng còn có những bất
cập.
Chƣơng 3

sản, khai thác tốt diện tích mặt nước có để phát triển nuôi trồng thủy sản.
3.1.4. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng lâm nghiệp, mở rộng diện tích vùng nguyên
liệu cung cấp cho các cơ sở chế biến
Tỉnh đã xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng và chế biến lâm sản giai đoạn
2010 - 2020 với mục tiêu đến 2015 trồng mới trên 50.000 ha rừng sản xuất. Đến năm 2020,
dự kiến Cao Bằng sẽ đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 60%, nâng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt
507,3 tỷ đồng, chiếm 27% giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản.
Trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu xây dựng lâm phần, đảm bảo cân đối giữa diện tích,
chất lượng của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Chuyển dịch mạnh cơ cấu sang phát triển
diện tích rừng sản xuất để chế biến ra các loại sản phẩm chủ lực như chiếu trúc, đồ mộc gia
dụng, ván nhân tạo, giấy các loại và các loại hoạt động dịch vụ lâm nghiệp khác, đưa giá trị
khai thác lâm sản lên 460,0 tỷ đồng.
3.1.5. Xây dựng và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung
Trong định hướng phát triển ngành nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 - 2015,
Cao Bằng vẫn chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn
theo hướng sản xuất hàng hóa. Tiếp tục hình thành và phát triển các vùng chuyên canh sản
xuất hàng hóa gắn với chế biến và thị trường. Định hướng này được khẳng định trong chương
trình “Phát triển sản xuất hàng hóa nông - lâm - nghiệp giai đoạn 2011 - 2015”.
3.2. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để
phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Cao Bằng
3.2.1. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nghiên cứu giống cây trồng, vật
nuôi tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả cao
Khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ cho sản xuất xuất. Coi
đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi.
3.2.2. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản
Mở rộng thị trường là một trong những điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ việc tiêu thụ
nông sản cho bà con nông dân. Vì vậy, trong hệ thống giải pháp đồng bộ để chuyển đổi cơ
cấu cây trồng vật nuôi không thể thiếu giải pháp này.

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Để làm được như
vậy cần có chính sách thỏa đáng để bồi dưỡng, đào tạo lại và hỗ trợ sử dụng thật tốt nguồn
nhân lực hiện có, tổ chức đào tạo lại cho cán bộ kỹ thuật trung tuổi bằng các hình thức bồi
dưỡng ngắn hạn, tập huấn theo chuyên ngành ở các trường đại học, các viện nghiên cứu, cập
nhật các thông tin khoa học. Đồng thời, phấn đấu đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn cho
lao động nông nghiệp bằng nhiều hình thức.

KẾT LUẬN
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng sản xuất hàng hóa nói riêng là một trong những nội dung và định hướng chủ yếu của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong những năm đầu của thế kỷ 21.
Là một trong những tỉnh nghèo nhất trong cả nước, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu,
xuất phát điểm đi lên của kinh tế Cao Bằng rất thấp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn lạc hậu,
chưa chuyển dịch kịp thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh
cũng như quốc tế. Sản xuất hàng hóa phát triển chưa mạnh, chất lượng thấp, giá thành sản
phẩm còn cao, khối lượng hàng hóa nhỏ bé, sức cạnh tranh trên thị trường còn kém. Vì thế,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp một cách hợp lý phù hợp với nhu cầu thị trường
để xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và làm giàu cho các hộ nông dân trong tỉnh là mối quan
tâm hàng đầu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh. Đó cũng là yêu cầu khách
quan cần phải được giải quyết để mở đường cho sự phát triển lâu dài và bền vững cho nền
kinh tế tỉnh nhà, hòa vào nhịp độ phát triển chung của cả nước trong sự nghiệp công nghiệp,
hiện đại hóa đất nước.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, trong những năm qua Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp để đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, vật nuôi nhờ đó đã đạt được những thành công nhất định trên mặt trận sản xuất
nông nghiệp: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Cao Bằng đã có sự chuyển dịch mạnh theo
hướng giảm tỷ lệ trồng trọt tăng tỷ lệ chăn nuôi, năng suất và sản lượng lúa tăng, việc bố trí,
sấp xếp, thay đổi cơ cấu diện tích cây trồng, mùa vụ hợp lý, nuôi trồng và khai thác thủy sản
cũng có những bước phát triển; Cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu lao động theo ngành kinh
tế của tỉnh cũng chuyển dịch theo hướng tiến bộ; Sản phẩm nông nghiệp hàng hóa đã tạo

phẩm còn yếu, thiếu lực lượng và trang thiết bị kỹ thuật. Hoạt động khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư còn ít, tập huấn kỹ thuật chưa nhiều, chưa chú ý đến huấn luyện kỹ năng
quản lý kinh doanh cho các hộ và các chủ trang trại.
Từ kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi những năm qua cho thấy, để đạt được
mục tiêu của các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong thời gian tới, đặc
biệt là chương trình “Phát triển sản xuất hàng hóa nông lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015” -
một trong sáu chương trình trọng tâm của tỉnh ủy theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Cao Bằng
khóa XVII đòi hỏi Cao Bằng cần tập trung chủ yếu vào những giải pháp như: đẩy mạnh ứng
dụng khoa học công nghệ, nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi tăng năng suất, chất lượng,
hiệu quả cao; mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản; thực hiện dồn điền, đổi thửa, hợp tác sản
xuất, phát triển kinh tế trang trại; xây dựng chính sách thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp;
xây dựng hệ thống bảo quản, chế biến, đảm bảo sự đồng bộ giữa các nhà máy, vùng nguyên
liệu để tiết kiệm chi phí vận chuyển, giảm tỷ lệ hao hụt; xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và
kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp; đẩy mạnh việc đào tạo nghề, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực.
Những giải pháp quan trọng trên vừa có ý nghĩa thực tiễn trước mắt, vừa có ý nghĩa
chiến lược lâu dài nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, nâng cao giá trị
kinh tế, từng bước xóa được đói, giảm được nghèo nâng cao đời sống của nhân dân; xây dựng
Cao Bằng trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển nhanh và bền vũng, cùng cả nước thực hiện
mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. References

1. Nguyễn Thị Song An (1997), Tổng quan về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế.
2. Nguyễn Đăng Bằng (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo
hướng công nghiệp, hiện đại hóa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1998), Khái quát về thực trạng nông nghiệp
nông thôn sau 10 năm đổi mới và biện pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển nông nghiệp

Lịch sử Đảng.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Cao Bằng
lần thứ XVI.
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện hội nghị lần thứ 7, BCHTW (khóa X),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Cao Bằng
lần thứ VXII.
23. Lê Mạnh Hùng - Nguyễn Sinh Cúc (1998), Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Thống Kê, Hà Nội.
24. Nguyễn Xuân Kiên - Ninh Văn Hiệp (2004), Hỏi đáp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nxb
Thanh Niên.
25. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.
26. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 3, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.
27. “Lạng Sơn qua 20 năm chuyển dịch cơ cấu kinh tế”( 2005), số 11 - Tạp chí Lịch sử
Đảng.
28. Hồ Chí Minh (1990), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. C.Mác (1964), Góp phần phê phán kinh tế chính trị học, Nxb Sự Thật, Hà Nội.
30. C.Mác - Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 24, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
31. C.Mác - Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 25, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
32. Nghị quyết Bộ Chính trị (1998), Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
33. Nghị quyết Bộ chính trị (1998), Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
34. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển ngành mũi
nhọn ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

hiện nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng khóa XV về phát triển
kinh tế trang trại giai đoạn 2002 - 2006, phương hướng 2007 - 2010.
50. Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo tình hình thực hiện chương trình
mục tiêu quốc gia về nông thôn mới và sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết trung ương
7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
51. Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo kết quả tổ chức thực hiện Chiến lược
phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.
52. Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng - Sở NN và PTNT (2010), Báo cáo tổng kết thực hiện
nghị quyết 09 - NQ/TU về phát triển kinh tế trang trại giai đoạn 2002 - 2010.
53. Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2011), Báo cáo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi năm 2010 và nhiệm vụ năm 2011.
54. Ủy Ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2011), Báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp và
phát triển nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 và mục tiêu kế hoạch đến năm 2015.
55. Ủy Ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2011), Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Cao
Bằng thời kỳ 2011 - 2020.
56. http://www.caobang.gov.vn
57. http:// www.nhandan.org.vn
58. http:// www.baomoi.com.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status