mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: nông nghiệp hàng hóa: nội dung, vai trò
và những tiềm năng điều kiện phát triển
nó ở đồng bằng sông cửu long
4
1.1. Nông nghiệp hàng hóa: khái niệm và nội dung 4
1.1.1. Khái niệm 4
1.1.2. Nội dung phát triển nền nông nghiệp hàng hóa 6
1.2. Vai trò của nông nghiệp hàng hóa đối với phát triển kinh
tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long
12
1.3. Tiềm năng, điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hóa ở
đồng bằng sông Cửu Long
17
Chơng 2: thực trạng phát triển nông nghiệp hàng
hóa ở đồng bằng sông cửu Long và những
vấn đề đặt ra cần giải quyết
30
2.1. Thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đồng bằng
sông Cửu Long
30
2.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 53
2.2.1. cơ cấu sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp còn mất cân đối 53
2.2.2. Chất lợng hàng hóa nông, lâm, thủy sản nhìn chung còn
thấp không đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
54
2.2.3. Về thị trờng nông thôn 55
2.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp hàng hóa và cơ sở
hạ tầng cho nông thôn
lực lợng lao động xã hội và sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu là
độc canh cây lúa, thuần nông, năng suất lao động thấp do đó đời sống
nông dân nói chung còn thấp. Chỉ có phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
có hiệu quả, đạt năng suất cao, chất lợng tốt, chủng loại hàng hóa nông sản
phong phú thì mới cải thiện đợc đời sống dân c ở nông thôn.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong hai vựa lúa lớn
của cả nớc. Đây là vùng có điều kiện thâm canh phát triển nông nghiệp, đặc
biệt là lúa gạo để xuất khẩu, chăn nuôi Nhng sự phát triển của nền nông
nghiệp hàng hóa còn bộc lộ nhiều yếu kém và khiếm khuyết. Cơ cấu kinh tế
mang nặng tính chất thuần nông. Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn,
song nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn và lạc hậu, tỷ lệ nghèo đói
vẫn còn khá cao (khoảng 20%). Vấn đề cơ bản và cấp bách hiện nay là để
đa nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu
thì phải đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa, một yêu cầu bức xúc
cần đợc luận giải trên cả lý luận và thực tiễn. Do đó " Phỏt trin nụng
nghip hng húa ng bng sụng Cu Long - Thc trng v gii phỏ"
đợc chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án này.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Phát triển kinh tế hàng hóa nói chung, nền nông nghiệp hàng hóa
nói riêng, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, nhằm thực hiện mục
tiêu "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh" là một trong những
nội dung cơ bản trong đờng lối kinh tế của Đảng và Nhà nớc ta.
3
Vì thế đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhiều công trình đã
công bố, nh:
- Phát triển nông nghiệp hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc - Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội 1999.
- Phát triển kinh tế hàng hóa ở tỉnh Ninh Thuận: Thực trạng và giải
pháp - Luận án thạc sĩ khoa học kinh tế, của Nguyễn Bá Ninh, Hà Nội 2000.
- Chính sách thị trờng với phát triển nông nghiệp, nông thôn của
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Phân tích làm rõ những tiềm năng và những yếu tố chi phối sự phát
triển nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL.
- Phân tích những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận án kết cấu gồm 3 chơng 7 tiết.
5
Chơng 1
Nông nghiệp hàng hóa: Nội dung, vai trò
và những tiềm năng điều kiện phát triển nó
ở đồng bằng sông Cửu Long
1.1. Nông nghiệp hàng hóa: khái niệm, nội dung
1.1.1. Khái niệm
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa, là hai hình thức kinh tế - xã
hội đã hình thành và tồn tại trong quá trình lịch sử nhân loại. Hai hình thức
này đợc hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lợng sản xuất
xã hội, trình độ phân công lao động xã hội, trình độ phát triển và phạm vi
của quan hệ trao đổi khác nhau.
Ai cũng biết rằng kiểu tổ chức kinh tế đầu tiên của loài ngời, là kinh
tế tự nhiên, với đặc trng chủ yếu là tự cung, tự cấp - tức sản phẩm lao động
đợc sản xuất ra chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của ngời sản xuất hoặc chỉ
trong nội bộ đơn vị kinh tế. Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh tế
thuần nhất hợp lại. Kinh tế nông dân kiểu gia trởng, công xã nông thôn
nguyên thủy, các điền trang thái ấp của địa chủ. Và mỗi đơn vị kinh tế ấy
làm đủ các loại ngành nghề, sản xuất sản phẩm để tự tiêu dùng, sản xuất
chủ yếu hớng vào giá trị sử dụng mang tính tự cung tự cấp.
Trong nền kinh tế tự nhiên, con ngời dựa chủ yếu vào tự nhiên và
khai thác tự nhiên, do đó có thể nói rằng trong nền kinh tế này, ruộng đất là
t liệu sản xuất chủ yếu của ngời lao động và nông nghiệp là ngành sản xuất
cạnh tranh dẫn đến tính tự phát, mất cân đối trong kinh tế, phân hóa ngời
sản xuất, do chạy theo lợi nhuận tối đa nên có thể dẫn đến sự tàn phá, hủy
hoại môi trờng, môi sinh Do đó, đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nớc
để khắc phục hạn chế của kinh tế hàng hóa. Đại hội lần thứ VIII của Đảng
đã khẳng định rõ ràng: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã
7
hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách
quan cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã xây
dựng xong" [19, 97].
Kinh tế hàng hóa, nếu xét theo phạm vi hoạt động và tính chất khu
vực thì ở mỗi quốc gia đều bao gồm các bộ phận hợp thành là kinh tế hàng
hóa thành thị và kinh tế hàng hóa nông thôn.
Kinh tế hàng hóa nông thôn bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất
hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ diễn ra trên địa bàn nông thôn.
Nông nghiệp hàng hóa là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa nói
chung, nó sản xuất ra nông sản phẩm (nông, lâm, ng nghiệp) không phải để
tự tiêu dùng của ngời sản xuất, mà là để trao đổi, để bán trên thị trờng, nó là
hình thức tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó có mối quan hệ kinh tế giữa ng-
ời với ngời, giữa các chủ thể với nhau đợc thể hiện thông qua trao đổi, mua
bán trên thị trờng, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị trờng, quan hệ
hạch toán là những quan hệ kinh tế chủ yếu của loại hình này, chịu sự chi
phối bởi trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, của quan hệ sản xuất,
thiết chế kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, văn hóa trong đó trực tiếp
và khách quan là sự tác động của các quy luật giá trị, quy luật cung - cầu,
quy luật cạnh tranh.
Nền nông nghiệp hàng hóa ra đời đối lập với nền nông nghiệp tự
cung tự cấp. Nó có nhiều u thế so với nông nghiệp tự túc tự cấp. Vì vậy,
trong lịch sử phát triển kinh tế của xã hội loài ngời thì sự ra đời và phát
triển của nông nghiệp hàng hóa đợc coi là một bớc tiến bộ của lịch sử, một
nấc thang phát triển của nền văn minh nhân loại.
động xã hội ngày càng tăng, số lợng sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, chất
lợng ngày càng cao, chủng loại ngày càng đa dạng phong phú. Do đó quy
mô trao đổi và thị trờng sẽ đợc mở rộng ra. V.I.Lênin viết: "Trong nền kinh
tế hàng hóa thị trờng chẳng qua chỉ là một sự biểu hiện của phân công lao
động xã hội" [34, 117]. Sản xuất hàng hóa phát triển "thị trờng mở rộng, sự
9
phân công lao động xã hội lại đợc một đà thúc đẩy mới làm cho nó phát
triển thêm, sâu sắc thêm" [34, 145].
Nông sản phẩm đợc tạo ra trong sản xuất của ngành nông nghiệp đ-
ợc mang đi trao đổi trên thị trờng với t cách một hàng hóa thì thị trờng nông
phẩm cũng xuất hiện. ở đây, các yếu tố, các điều kiện, các phơng tiện và
môi trờng để thực hiện giá trị hàng hóa nông phẩm cũng giống nh các thị
trờng hàng hóa thông thờng khác. Cơ chế thị trờng bắt buộc mọi ngời thực
hiện ý chí của mình theo quy luật kinh tế khách quan vốn có của nó.
Về mặt không gian vùng lãnh thổ, thì nông nghiệp hàng hóa bao
gồm các vùng khác nhau. Những vùng kinh tế hình thành do phân công lao
động theo lãnh thổ trên phạm vi nông thôn cả nớc, chẳng hạn nh vùng
chuyên canh lúa, vùng cây công nghiệp, vùng chuyên canh cây ăn quả,
vùng chăn nuôi Sự chuyên môn hóa sản xuất theo vùng nhằm bố trí các
ngành sản xuất trên các vùng lãnh thổ sao cho thích hợp để khai thác đợc
mọi u thế về nguồn lực của mỗi vùng, căn cứ vào điều kiện kinh tế, kỹ thuật
và tự nhiên của từng vùng. Xu thế phát triển của kinh tế vùng là ngày càng
chuyên môn hóa và tập trung hóa, hình thành trên các vùng trọng điểm sản
xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao, để từ đó mở rộng ra các ngành khác.
Còn trong mỗi vùng, lại dựa vào ngành sản xuất chuyên môn hóa mà phát
triển mạnh mẽ ngành chuyên môn hóa, đồng thời khai thác một cách đầy đủ
nguồn tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động của từng vùng ở nông
thôn.
Về mặt kinh tế xã hội, kinh tế hàng hóa nói chung và nông nghiệp
hàng hóa nói riêng ở nông thôn, tồn tại và phát triển đợc trên cơ sở nền kinh
nghiệp chúng ta thấy khác hẳn; ở đây hiện tợng chủ yếu là sự hỗn hợp giữa
nông nghiệp có tính chất thơng nghiệp với nông nghiệp không có tính chất
thơng nghiệp, ở đây những hình thức khác nhau đã đợc kết hợp lại. ở từng
11
địa phơng, chủ yếu mang ra thị trờng là một thứ sản phẩm nào đó. Một mặt,
nền sản xuất của địa chủ mà đặc biệt là của nông dân là nền sản xuất hàng
hóa, mặt khác nền sản xuất đó còn giữ tính chất tiêu dùng" [33].
Phát triển phân công lao động trong nông nghiệp, mở mang ngành,
nghề, tăng năng suất lao động, đất đai, cây trồng vật nuôi, đa dạng hóa sản
phẩm, mở rộng thị trờng tiêu thụ nông sản hàng hóa, ứng dụng tiến bộ khoa
học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp là con đờng để nâng cao tỷ suất
hàng hóa, chất lợng hàng hóa nông sản.
1.1.2.3. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển
dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn
Tạo ra đợc một kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và tổ chức tốt hệ
thống dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn là vấn đề có ý nghĩa hàng
đầu đối với việc chuyển đổi và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hớng
sản xuất hàng hóa. Đó cũng là nội dung quan trọng của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm hệ thống cơ sở vật chất
phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn nh: điện, nớc sạch, các công trình
thủy lợi, đờng giao thông nông thôn, trờng học, các cơ sở y tế có thể nói
gọn trong mấy từ "điện, đờng, trờng, trạm".
Hệ thống dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp nông thôn nhằm hỗ trợ đầu
vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, nó bao gồm hệ thống chợ, các cửa
hàng, hệ thống dịch vụ kỹ thuật ở nông thôn, trong đó tổ chức khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ng và công tác khuyến nông đóng vai trò chủ lực,
quan trọng.
Đặc biệt là phải phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản hàng
nông lâm, thủy sản. Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản làm tăng giá
hàng hóa đợc hởng những tiến bộ kinh tế - xã hội tạo ra trong quá trình phát
triển nền nông nghiệp hàng hóa.
13
- Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nông dân.
- Giảm khoảng cách giàu nghèo trong nông dân.
- Nâng cao chất lợng cuộc sống vật chất, tinh thần cho nông dân.
- Xây dựng nông thôn ngày càng phát triển theo con đờng tiến bộ,
văn minh.
1.2. Vai trò của nông nghiệp hàng hóa đối với phát
triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông cửu long
Kinh tế nông nghiệp ở nông thôn là khu vực sản xuất vật chất duy
nhất cung ứng cho xã hội những sản phẩm lơng thực, thực phẩm thỏa mãn
những nhu cầu thiết yếu nuôi sống con ngời, mà những nhu cầu này không
gì có thể thay thế đợc. Trong tơng lai, cùng với sự phát triển không ngừng
của khoa học kỹ thuật, tỷ trọng của cải vật chất đóng góp cho xã hội của
khu vực kinh tế nông thôn sẽ giảm dần, đây là xu hớng tất yếu, nhng khối l-
ợng sản phẩm tuyệt đối của nó vẫn không ngừng tăng lên.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc nói chung và ở
ĐBSCL nói riêng, nông nghiệp hàng hóa vùng này đã đóng góp một vai trò
không nhỏ:
Một là, cung cấp cho xã hội phần lớn những sản phẩm lơng thực,
thực phẩm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu nuôi sống con ngời, tăng dự trữ đảm
bảo an ninh lơng thực quốc gia và phát triển xuất khẩu.
Chỉ tính mặt hàng nông sản tiêu biểu là cây lơng thực (lúa), thì
ĐBSCL với diện tích tự nhiên 3,9 triệu ha, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên
cả nớc, nhng hàng năm ĐBSCL đã đóng góp trên 50% sản lợng lúa toàn
quốc, trên 90% sản lợng gạo hàng hóa cho tiêu dùng trong nớc và xuất
khẩu, tơng ứng khoảng 6-7 triệu tấn lúa, quy ra 3 - 3,5 triệu tấn gạo, trong
đó tham gia xuất khẩu trên dới 2 triệu tấn gạo (không kể xuất tiểu ngạch),
góp phần vào 1999 nớc ta đã vơn lên với tổng sản lợng 31,8 triệu tấn và có
15
thiết phải chuyển lao động từ nông thôn lên thành thị, nếu nh công nghiệp
chế biến và các ngành dịch vụ khác đợc phân bổ ở nông thôn gắn với nông
nghiệp theo hớng "ly nông bất ly hơng". ở ĐBSCL hiện nay, tỷ trọng hộ
nông nghiệp khoảng 70%, hộ phi nông nghiệp 30%.
Một điều kiện nữa để phát triển công nghiệp là vấn đề thị trờng
nông nghiệp, nông thôn. Công nghiệp càng phát triển thì nhu cầu thị trờng
càng phải đợc mở rộng, cả thị trờng t liệu sản xuất lẫn thị trờng t liệu tiêu
dùng. Trong quá trình phát triển, công nghiệp sẽ tự tạo ra thị trờng cho
mình nhng nó cũng phụ thuộc vào sự phát triển của các ngành kinh tế khác,
trong đó có nông nghiệp nông thôn. Trong điều kiện nớc ta hiện nay nói
chung và khu vực ĐBSCL nói riêng, nền kinh tế còn chậm phát triển, nông
thôn chiếm trên 80% dân số cả nớc thì đây chính là thị trờng rộng lớn để
tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp. Nhng nông nghiệp, nông thôn chỉ trở
thành thị trờng rộng lớn cho công nghiệp thật sự khi dân c ở đây có mức thu
nhập bằng tiền tơng đối ổn định, tức sức mua bằng tiền phải nâng lên không
ngừng, cũng có nghĩa là sản xuất nông nghiệp phải thật sự đợc chuyển sang
nền nông nghiệp hàng hóa phát triển.
Ngoài ra, để phát triển công nghiệp và dịch vụ cần có vốn tích lũy,
có cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển ở một mức nhất định. Vốn tích lũy cho
công nghiệp đợc huy động ở nhiều nguồn, trong đó có nông nghiệp. Nông
nghiệp tích lũy cho công nghiệp một phần vốn đáng kể thông qua các hình
thức thuế đóng góp vào ngân sách và qua việc cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp, nhng phần chủ yếu để đạt cả hai nhu cầu trên thì phải chủ yếu
thông qua việc xuất khẩu nông sản hàng hóa.
Hai là, phát triển nông nghiệp hàng hóa tạo biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế - xã hội ở nông thôn. Phát triển nông nghiệp hàng hóa thúc đẩy
quá trình chuyển biến nền kinh tế nớc ta từ một nền kinh tế mang nặng tính
tự cấp tự túc với cơ cấu sản xuất đơn điệu, chủ yếu là độc canh cây lúa
thành một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với cơ cấu sản xuất và
doanh của họ vào thị trờng, thích ứng với sự biến động của cơ chế thị trờng.
Nông nghiệp hàng hóa còn góp phần xóa bỏ tình trạng chia cắt khép kín
trong từng địa phơng, từng đơn vị, hình thành và phát triển các mối quan hệ
hợp tác và phân công giữa các vùng, thúc đẩy việc giao lu kinh tế, văn hóa
giữa thành thị và nông thôn ngày càng phát triển theo con đờng văn minh
tiến bộ theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trong t duy của Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế cũng nh đối với việc nâng cao đời sống
của nhân dân Việt Nam. Trong th gửi các điền chủ gia Việt Nam ngay sau
ngày đất nớc giành đợc độc lập (1946) Ngời viết: "Việt Nam là một nớc
sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong
công cuộc xây dựng nớc nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông
cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nớc ta giàu. Nông
nghiệp ta thịnh thì nớc ta thịnh" [49].
Tuy vậy, sự phát triển nông nghiệp hàng hóa cũng làm nảy sinh
những vấn đề kinh tế - xã hội bức bách cần giải quyết, nh:
* Sự phân hóa giàu nghèo, sự khác nhau về mức thu nhập và mức sống
giữa các hộ nông dân. "Chênh lệch thu nhập của nhóm cao nhất so với nhóm
thấp nhất ở ĐBSCL: năm 1994 là: 6,1 lần; năm 1996 là: 6,4 lần [29, 44].
* Để phát triển nông nghiệp hàng hóa thì cần có sự tích tụ và tập
trung ruộng đất vào số hộ có khả năng kinh doanh nông nghiệp. Song sự
tích tụ, tập trung ruộng đất lại đa đến hậu quả là số hộ nông dân không có
đất hoặc quá ít đất nông nghiệp tăng lên. ở ĐBSCL là 5,6% [41, 85].
Do đó vấn đề đặt ra là phải có chính sách vừa khuyến khích đợc mọi
ngời cùng làm giàu, tăng thu nhập chính đáng, đồng thời vừa có tác động
đến xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho ngời giàu và ngời nghèo ở nông
thôn cùng phát triển làm giàu nhằm tạo ra môi trờng xã hội ổn định để phát
triển nông nghiệp hàng hóa.
18
1.3. Tiềm năng, điều kiện phát triển nông nghiệp hàng
cho trồng lúa; Đất nhiễm mặn khoảng 750.000 ha nằm ở rìa ven biển, trong
đó có 150.000 ha nhiễm mặn thờng xuyên và 600.000 ha nhiễm mặn định
kỳ vào mùa khô. Loại đất này trồng lúa 1 vụ vào mùa ma, nuôi 1 vụ tôm n-
ớc lợ vào mùa khô và thích hợp cho cây dừa, xoài, chuối, mía khi đợc cải
tạo. Ngoài ba loại đất chính trên, ĐBSCL còn có khoảng 350.000 ha đất
than bùn, rừng tràm, rừng ngập mặn, đất trên phù sa cổ, đất đồi núi, đất
dòng cát thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày nh cây điều, cây
tiêu và cây lạc
Nhìn chung, cấu trúc địa hình đất đai ở ĐBSCL có đặc trng là những
sống đất ven sông và đất vùng duyên hải cao ráo, với mạng lới kênh rạch
dày đặc kết nối với thợng nguồn sông Mêkông thông ra biển tạo thành
vùng kinh tế hỗn hợp nông - lâm - ng nghiệp rất hiếm có. Từ đặc điểm đất
đai nh vậy, cùng một vùng châu thổ nhng đất đai có nhiều loại khác nhau,
đợc phù sa bồi đắp hàng năm, thích hợp cho nhiều loại cây trồng. Song muốn
cho sản xuất nông nghiệp phát triển có hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi việc bố trí
cây trồng thích hợp với điều kiện đất đai ở từng tiểu vùng.
- Thời tiết khí hậu:
Do ảnh hởng của chế độ gió mùa khiến cho thời tiết ở ĐBSCL chia
thành hai mùa rõ rệt. Mùa ma với gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng
11, mùa nắng (khô) từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lợng ma trong mùa
thờng chiếm trên 80% tổng lợng ma cả năm. ĐBSCL là vùng ít chịu tác
động của bão, tần suất thiên tai khác thấp so với các vùng khác trong nớc.
- Nguồn nớc, sông rạch và thủy văn:
ĐBSCL có nguồn nớc ngọt dồi dào đợc cung cấp bởi lợng nớc ma và
nớc sông Mêkông đổ về, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Hệ thống
sông rạch ở ĐBSCL dày đặc, trải rộng khắp vùng (gồm 37 con sông chính
và sông nhánh với tổng chiều dài 1.708 km, 137 kênh rạch lớn với tổng
20
chiều dài 2.780 km và kênh rạch nhỏ thì nhiều không kể hết), rất thuận lợi
cho việc dẫn thủy nhập điền tới tiêu, xổ phèn, rửa mặn và lu thông hàng
2
, trong
khi đó ở phía Đông thì dân số tập trung khá đông, Tiền Giang 692 ng-
ời/km
2
, Vĩnh Long 687 ngời/km
2
, ở phía Tây dân số lại tha hơn Cà Mau,
Bạc Liêu và Kiên Giang dới 240 ngời/km
2
. Chính sự phân bố không đều về
dân c gây ra hiện tợng thừa, thiếu lao động giữa các địa phơng trong vùng.
So với năm 1989, cơ cấu lao động ở ĐBSCL chuyển dịch không đáng kể, tỷ
trọng lao động trong ngành nông, lâm và công nghiệp giảm nhẹ, lao động
ngành dịch vụ tăng chậm.
- Cơ cấu kinh tế ở ĐBSCL có sự thay đổi theo hớng tăng tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 1999, cơ cấu kinh
tế vùng (theo giá trị sản xuất, giá thực tế) nông nghiệp chiếm 67,24% GDP,
công nghiệp 11,72% GDP, dịch vụ 21,01% GDP, điều này nói lên cơ cấu
kinh tế vùng này tuy có chuyển biến nhng vẫn phản ánh hiện trạng kinh tế
với nông nghiệp là cơ bản, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ, xu
hớng tăng chậm. Nhiều vùng nông thôn sản xuất còn mang nặng tính thuần
nông, kinh tế tự cấp, tự túc còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế.
Sản xuất ở nông thôn phân tán theo quy mô hộ gia đình, với lao động thủ
công là phổ biến. Do vậy phần lớn dân c và lao động vẫn tập trung ở khu
vực nông nghiệp, nông thôn, giờ lao động trong ngày thấp, còn mang nặng
tính mùa vụ. Lao động thừa ở nông thôn tràn ra thành thị làm gay gắt thêm
tình trạng thừa lao động ở thành thị.
Vấn đề đặt ra đối với ĐBSCL hiện nay là tỷ trọng lao động trong
nông nghiệp còn quá cao trên 75%. Do đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
kinh tế khác nhau mà hoạt động của nó chủ yếu là một vài khâu dịch vụ hộ
23
nông dân trong quá trình sản xuất nh: bảo lãnh vay vốn tín dụng, làm đất,
bơm nớc, tuốt lúa
Lực lợng sản xuất nông phẩm hàng hóa lớn nhất, chủ yếu ở ĐBSCL
hiện nay là kinh tế hộ gia đình nông dân, lực lợng này chiếm tới 99,10% lao
động nông nghiệp, 99,51% máy kéo, 99,89% máy bơm nớc, 99,95% máy tuốt
lúa và 99,75% phơng tiện vận tải; đã sản xuất ra 98,66% sản lợng lúa, 99,20%
sản lợng lợn và hơn 80% lợng lúa giống toàn vùng.
Về sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt. Mức sử dụng điện ở
ĐBSCL hiện nay chỉ đạt khoảng 38 kwh/đầu ngời/năm (thấp nhất nớc), tỷ lệ
hộ dùng điện 24,8% (bằng 50% mức trung bình toàn quốc), tỷ lệ xã có điện l-
ới 67% (chỉ đứng hàng thứ t trong 7vùng kinh tế cả nớc). Trong tơng lai, việc
cung cấp điện cho phát triển sản xuất, chế biến hàng nông phẩm và sinh hoạt
ở ĐBSCL đợc xem là một trong những chiến lợc u tiên hàng đầu.
Nhìn chung, khả năng sản xuất ra nông phẩm hàng hóa ở vùng này
đã có một bớc phát triển đáng kể, cả về trình độ, kinh nghiệm sản xuất, về
kỹ thuật canh tác và cả về tiềm lực Tuy nhiên, công cụ sản xuất của các
doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã và của hộ nông dân ở những khâu làm
lao động nặng nhọc hầu hết đợc thao tác bằng máy móc nh: 90% khâu tới
tiêu và tách hạt, 80% khâu làm đất và vận chuyển Còn các khâu khác của
sản xuất nông nghiệp đến nay chủ yếu vẫn là công cụ thủ công dựa vào sức
ngời là chính.
1.3.3. Lu thông (thị trờng và giao thông)
Vấn đề thị trờng. Cũng nh sản xuất thành phần tham gia vào thị tr-
ờng nông sản cũng hết sức phong phú, đa thành phần kinh tế. Tham gia thị
trờng nông phẩm ở ĐBSCL hiện nay có những chủ thể là ngời bán, ngời lu
thông và ngời tiêu dùng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Ngời bán hầu hết là hộ nông dân thuộc thành phần kinh tế cá thể,
tiểu chủ và một số ít thành phần kinh tế khác. Họ tham gia thị trờng với t
25