tóm tắt luận án tiến sĩ khảo sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông cửu long từ 1975 đến nay - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Truyện ngắn ĐBSCL gắn liền với nhiều nhà văn được
người đọc mến mộ như: Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang
Sáng, Anh Đức,…và gần đây là Nguyễn Ngọc Tư.
1.2. So với các thể loại khác, truyện ngắn ĐBSCL từ 1975
đến nay phát triển nhanh về số lượng và có những đóng góp đặc sắc
về nội dung cũng như nghệ thuật, nhất là việc thể hiện đời sống, tâm
hồn và tính cách của người ĐBSCL trong thời kỳ này.
Thế nhưng đến nay chưa có một công trình nghiên cứu mang
tính hệ thống, toàn diện về truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.
Với những lẽ trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề Khảo
sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến
nay.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có các Nghiên cứu về
truyện ngắn ĐBSCL sau 1975 như sau:
Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 đến
nay - Thành tựu và những điều trăn trở (Hoài Phương); Đi tìm‘‘chân
dung’’ truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long (Võ Tấn Cường); Văn
xuôi đồng bằng sông Cửu Long: một khu vực văn xuôi có nhiều đặc
sắc (Chiêm Thành); Cá tính và bản lĩnh văn xuôi Nam bộ (Hồ Tĩnh
Tâm); Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long - một chặng đường phát
triển (Nguyễn Thanh); Một phong vị truyện ngắn đồng bằng riêng
biệt (Tường Vi); Những đóng góp nổi bật của truyện ngắn đồng
bằng sông Cửu Long từ sau năm 1975 (qua Tuyển tập truyện ngắn
ĐBSCL 1975 - 1995 và Tuyển tập 18 nhà văn ĐBSCL) (Trần Mạnh
Hùng); Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Đồng Tháp (Nguyễn
2
Anh Dân); Truyện ngắn An Giang 1975-2000, những thành tựu chủ

1975 trong các Tuyển tập và Tập truyện ngắn:
-Tuyển tập truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long 1975 –
1995, Nhà xuất bản, Hội Nhà văn, năm 1996.
-Tuyển tập 18 Nhà văn đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất
bản Mũi Cà Mau.
-Truyện ngắn ba tác giả nữ đồng bằng sông Cửu Long, Nhà
xuất bản Văn học.
-Truyện ngắn miền Tây, Nhà xuất bản Trẻ Tp. Hồ Chí Minh,
năm 1999.
-Truyện ngắn Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang và truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Bên cạnh đó, luận án còn mở rộng phạm vi khảo sát một
số truyện ngắn ĐBSCL trước năm 1975 và truyện ngắn ở vùng miền
khác để có cơ sở đối chiếu, so sánh góp phần làm rõ hơn những nét
riêng của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.
Chọn vấn đề Khảo sát truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay,
chúng tôi đã tiếp cận với một đối tượng khá rộng và chưa ổn định. Vì
vậy, luận án chỉ khảo sát những vấn đề đã được định hình mà luận án
cho là chủ yếu thuộc phương diện nội dung và nghệ thuật của truyện
ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp chính sau:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống
- Phương pháp nghiên cứu loại hình
- Phương pháp miêu tả, so sánh
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
4
6. Đóng góp mới của luận án
- Về ý nghĩa khoa học:
Luận án góp phần làm rõ quan niệm về truyện ngắn ĐBSCL

Thơ, với dân số trên 21 triệu người.
Nói đến ĐBSCL là nói đến một thực tại lịch sử lý thú và hấp dẫn
- lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ nói chung và ĐBSCL nói riêng.
Trước thế kỷ XVII, vùng đất này ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch
với dân số bản địa thưa thớt. Sang thế kỷ XVII, người Việt đến đây
khai phá vùng đất này.
Điểm đặc trưng nhất khi nói đến ĐBSCL là người ta dễ dàng
liên tưởng đến một vùng sông nước với mạng lưới sông, ngòi, kinh,
rạch chằng chịt. Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của
người dân nơi đây luôn gắn bó với mọi biến động của dòng nước, của
con nước. Sông rạch còn đem phù sa nước ngọt bồi đắp, tưới mát cho
những miệt vườn đầy ắp cây trái, những cánh đồng lúa tươi tốt và cá
tôm nhiều vô kể. Nhiều gia đình lập nghiệp bằng chiếc ghe, mặc
nhiên coi nó như ngôi nhà của mình. Nhiều ghe thuyền tụ lại tạo nên
khu dân cư, chợ nổi trên sông.
ĐBSCL trong suốt tiến trình lịch sử của mình luôn trải qua
những biến cố liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc. Đây là nơi
cộng cư của nhiều tộc người như Việt, Hoa, Khme, Chăm, do vậy là
nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hoá giữa các tộc người. Quá trình
đó đã bồi đắp nên những giá trị nhân văn, hình thành những giá trị
văn hoá mang sắc thái riêng cho vùng đất này.
Đặc điểm nổi bật của văn hoá vùng ĐBSCL là văn hoá sông
nước. Điều này được thể hiện qua những phong tục, tập quán, lễ nghi
trong sinh hoạt và lao động sản xuất, đặc biệt là địa danh và ngôn
ngữ giao tiếp có liên quan đến sông, rạch.
6
Văn hoá ăn, mặc, ở, đi lại, cũng mang đặc thù riêng và phù
hợp, hài hòa với môi trường sinh thái tự nhiên. Chợ nổi không đơn
thuần là nơi buôn bán trao đổi hàng hóa mà đã trở thành nét văn hóa
riêng của vùng sông nước.

ĐBSCL theo cách hiểu thứ hai. Có thể ở một góc độ nào đó cần phải
suy ngẫm, cân nhắc thêm, nhưng với chúng tôi đó là cơ sở để đi vào
nghiên cứu và xác định đặc điểm của truyện ngắn ĐBSCL.
1.3. Đội ngũ tác giả truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long
Sự phân chia các thế hệ tác giả viết truyện ngắn ở ĐBSCL từ
1975 đến nay chỉ là tương đối. Theo chúng tôi, có thể hình dung đội
ngũ tác giả truyện ngắn ĐBSCL là sự tiếp nối của ba thế hệ.
Thế hệ thứ nhất là các nhà văn đã thành danh trước năm 1975
như Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Trần
Kim Trắc Họ đã có những truyện ngắn trước năm 1975 được độc
giả cả nước biết đến. Sau 1975, sáng tác của họ vẫn dồi dào, sung
sức, tiếp tục có những đóng góp cho cho sự nghiệp văn học nước
nhà.
Thế hệ thứ hai bao gồm những cây bút thành danh sau 1975
và tới giai đoạn này vẫn sung sức như: Phạm Trung Khâu, Trịnh Bửu
Hoài, Ngô Khắc Tài… Và những cây bút trưởng thành sau 1975, hiện
đang là đội ngũ chủ lực như: Vũ Hồng, Kim Ba,Thai Sắc, Lê Đình
Bích, Phan Trung Nghĩa, Mai Bửu Minh, Trầm Hương, Dạ Ngân,
Bích Ngân, Anh Đào, Nguyễn Lập Em, Phạm Thị Ngọc Điệp…
Thế hệ thứ ba là những cây bút xuất hiện trong thập niên đầu
thế XXI, như Trầm Nguyên Ý Anh, Nguyễn Ngọc Tư, rất trẻ trung
và sung sức.
8
1.4. Sự vận động của truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ
1975 đến nay
Sau 30 tháng 4 năm 1975, đất nước bước sang một giai đoạn
lịch sử mới. Văn học cả nước nói chung, văn học ĐBSCL nói riêng
cũng chuyển mình trong tư thế dò tìm những phương thức thể hiện
tốt nhất để kịp thời phản ánh đời sống xã hội đa dạng trước yêu cầu
mới của thời đại. Truyện ngắn thu hút sức sáng tạo của các thế hệ

trường, được thể hiện một cách khá chi tiết qua những trăn trở, suy tư
và những số phận con người.
Thiên nhiên vùng sông nước thanh bình trù phú, với những
cảnh quan còn giữ được nét hoang sơ, huyền bí có phần khắc nghiệt,
dữ dội nhưng gắn bó với con người và đời sống văn hoá ở ĐBSCL
cũng là những đề tài được nhiều người viết quan tâm khai thác.
Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL, chúng tôi nhận thấy, những
cây bút truyện ngắn có lối viết khá đa dạng và độc đáo. Đó là lối viết
giàu sức lôi cuốn người đọc bởi ngồn ngộn bao điều mới lạ của Sơn
Nam khi ông quan niệm ‘‘muốn hội nhập văn học cần phải mạo
hiểm, phải viết cái gì mới cho người ta đọc chứ lặp đi lặp lại mãi cái
cũ thì ai mà đọc’’; lối viết đầy trăn trở và lịch lãm của Trang Thế Hy;
Vũ Hồng với giọng văn vừa phóng khoáng, vừa thâm trầm với những
truyện ngắn viết về sự giao hòa và mâu thuẫn trong lối sống, tâm lý
giữa các thế hệ con người vùng Nam bộ ; Lê Đình Bích với lối viết
chặt chẽ, khúc triết và thích tìm về những huyền thoại xa xưa; Dạ
Ngân thường khai thác những xung đột về tình cảm và đạo đức con
người; Nguyễn Ngọc Tư có lối viết hồn nhiên, đôn hậu với không
gian Nam bộ sắc nét, đặc biệt, chị đã sử dụng ngôn từ của địa phương
khá thành công trong các sáng tác của mình
10
Cho dù hướng tiếp cận hiện thực, cá tính trong văn phong và
mức độ thành công có khác nhau, nhưng điều dễ nhận thấy là sự
nhanh nhạy, ý thức tìm tòi đổi mới và vươn lên trong sáng tạo của
đội ngũ viết truyện ngắn ở ĐBSCL. Điều đó chứng tỏ họ đã bắt kịp
mạch vận động và phát triển của văn học từ sau 1975.
Chương 2
NHỮNG CẢM HỨNG TRONG TRUYỆN NGẮN
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ 1975 ĐẾN NAY
Cảm hứng chủ đạo của truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay

Có thể nói, trong mỗi con người, thiên nhiên luôn là sợi dây
tâm linh ràng buộc với xứ sở, cội nguồn một cách bền chặt nhất.
2.1.2. Cảm hứng về con người
Khi viết về người Nam bộ bao giờ cũng vậy, các nhà văn
luôn đề cao nhân phẩm của họ.
2.1.2.1. Ngợi ca con người nhân hậu, nghĩa tình
Cảm hứng ngợi ca con người nhân hậu, nghĩa tình là cảm
hứng xuyên suốt của truyện ngắn ĐBSCL sau 1975. Họ có thể thiếu
thốn về vật chất, nhưng không bao giờ nghèo tình, nghèo nghĩa. Dù
có nghèo kiết xác, nhưng họ vẫn chơi hết mình và yêu hết cỡ, thậm
chí sẵn sàng hy sinh cả bản thân để giúp nhau trong cơn hoạn nạn.
2.1.2.2. Ngợi ca con người bộc trực, thẳng thắn
Bàn về tính cách người Nam bộ, người ta thường nhắc tới
tính bộc trực, ăn nói thẳng thắn ‘‘có sao nói vậy’’, ít nói văn hoa, rào
đón ‘‘vòng vo tam quốc’’. Xét đến cùng, tính bộc trực, thẳng thắn là
12
sự kế thừa và phát huy tính cách của con người Việt Nam trong môi
trường sống mới.
Tóm lại, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đã dành nhiều trang
viết xúc động về con người Nam bộ. Họ là nhưng con người nhân
hậu, nghĩa tình, bộc trực, thẳng thắn và hào phóng. Đây là phẩm chất
truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, được nối tiếp, phát triển
thành tính cách nổi trội ở người Nam bộ và càng tỏa sáng trong
những hoàn cảnh khó khăn.
2.2. Cảm hứng phê phán cái hạn chế, cái tiêu trong đời sống
Vận động trong một giai đoạn lịch sử xã hội với những biến
đổi to lớn và phức tạp, lại là một thể loại năng động, truyện ngắn
ĐBSCL từ 1975 đến nay thực sự là bức tranh của cuộc sống hằng
ngày với bao niềm suy tư, trăn trở của nhà văn.
2.2.1. Phê phán sự ấu trĩ, nóng vội, vô cảm

1975 đến nay là những câu hỏi phản biện mà nhà văn đặt ra cho
người đọc, nhưng với một thái độ nhẹ nhàng chứ không gay gắt. Điều
này phù hợp với cách sống, môi trường sinh hoạt của con người
ĐBSCL.
2.3. Cảm hứng nhận thức tìm kiếm bản thể của con người
Bằng nhiều cách khám phá và thể hiện độc đáo, truyện ngắn
ĐBSCL sau 1975, phản ánh đời sống riêng tư, những biểu hiện của
con người trong cuộc sống đời thường.
2.3.1. Con người với tình yêu và hạnh phúc
Tìm hiểu truyện ĐBSCL từ 1975, người đọc cảm nhận được
tình yêu và niềm hạnh phúc của con người ở nhiều góc độ khác nhau.
Đó là những mối tình đẹp, buồn, mộc mạc, chân thành và dung dị
14
như chính cuộc đời của người dân vùng ĐBSCL. Hạnh phúc có được
khi người phụ nữ dũng cảm vượt qua những định kiến hẹp hòi về hôn
nhân. Hạnh phúc thực sự của con người không phải là điều cái gì cao
xa, khó tìm. Hạnh phúc khi được sống ấm áp trong tình người, là nỗi
nhớ khói, nhớ món ăn đồng quê…
Có thể nói, khi mà cuộc sống thời hiện đại đang bị chi phối
bởi những mưu toan thực dụng, giá trị tinh thần đang bị mai một, tâm
hồn con người thiếu vắng những rung động trong sáng thì tiếng nói
ngợi ca tình yêu, đề cao những ước mơ và khát vọng hạnh phúc của
con người rất cần để tác động, cảm hóa, thức tỉnh nhiều người trong
cuộc sống hiện tại và các thế hệ mai sau.
2.3.2. Con người tự vấn
Con người tự vấn trong truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, được
các nhà văn khai thác và khám phá trên nhiều phương diện. Có khi là
những dòng hoài niệm, hồi ức về quá khứ, có khi là những băn
khoăn, trăn trở về những vấn đề đang diễn ra trước thời cuộc… Thế
nhưng, cho dù tự vấn ở phương diện nào thì cũng đều hướng người

Nói đến Nam bộ, là nói đến cái nôi của đờn ca tài tử, sân
khấu cải lương. Loại hình nghệ thuật này phù hợp với địa hình sông
nước cũng như cuộc sống của người Nam bộ. Vì vậy, mà đã từ lâu
rồi đờn ca tài tử, san khấu cải lương trở thành nếp sống và nhu cầu
không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của người Nam bộ.
Qua truyện ngắn ĐBSCL, người đọc cảm nhận được sự say
mê, cũng như tình cảm mà người dân miền Tây dành cho môn nghệ
thuật này.
2.4.2. Lễ hội dân gian
16
Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL, điều dễ nhận thấy là không
gian lễ hội thường gắn với không gian sông nước. ĐBSCL có nhiều
lễ hội truyền thống, mỗi lễ hội lại mang một ý nghĩa riêng, in đậm nét
tín ngưỡng các tộc người sinh sống ở vùng đất này.
2.4.3. Văn hoá ẩm thực
Muốn ăn bông súng cá kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
Câu ca dao làm cho ta nhớ tới món canh chua bông súng ăn
với cá sặc kho khô rất quen thuộc trong mâm cơm của người dân quê
nghèo khó, lam lũ. Món ăn dân dã nhưng chứa đựng cả một giá trị
lịch sử văn hoá khẩn hoang của cha ông thời trước.
Khác với vùng miền khác, cơ cấu bữa ăn của người ĐBSCL
là những món ăn chân quê, mang hương vị sông nước. Cách chế biến,
thói quen trong ăn uống đã hình thành nét văn hoá ẩm thực của người
dân miền Tây - Văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên.
Tóm lại, trong xu thế đô thị hoá, ĐBSCL là nơi lưu giữ văn
hoá nông nghiệp. Và truyện ngắn ĐBSCL là nơi trưng bày, bảo tồn
và lưu giữ nét đẹp văn hóa sông nước một cách sinh động, hấp dẫn.
Chương 3:
MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

mới. Thời gian giấc mơ cũng được tác giả sử dụng nhằm lí giải chiều
sâu nội tâm của nhân vật.
3.2. Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật
3.2.1. Miêu tả nhân vật qua mâu thuẫn, xung đột
Nhiều truyện ĐBSCL đã miêu tả khá thành công các mâu
thuẫn xung đột của nhân vật. Đó là mâu thuẫn, xung đột giữa nhân
18
vật với hoàn cảnh sống, quan niệm sống và mâu thuẫn ngay trong nội
tâm nhân vật.
3.2.2. Miêu tả ngoại hình
Các nhà văn cũng rất chú ý miêu tả những nét đặc trưng
của ngoại hình nhân vật như: khuôn mặt, tướng mạo, kể cả vẻ bề
ngoài không bình thường. Qua đó, khắc họa được nhiều nhân vật để
lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc.
3.2.3. Miêu tả hành động
Miêu tả động hành động góp phần thể hiện vẻ đẹp tâm hồn,
bộc lộ bản chất và tính cách nhân vật.
Có thể nói qua nghệ thuật miêu tả hành động, truyện ngắn
ĐBSCL sau 1975 đã thể hiện được sự đa dạng của tính cách nhân vật.
3.2.4. Trạng thái cảm xúc nhân vật
Trạng thái cảm xúc của nhân vật trong truyện ngắn ĐBSCL
rất đa dạng, được bộc lộ trong những hoàn cảnh khác nhau. Tâm
trạng nhân vật khi buồn, bất an, cũng có khi bế tắc tuyệt vọng chuyển
sang niềm vui, niềm hạnh phúc…
Mượn khung cảnh làng quê, sông nước để diễn tả trạng thái
cảm xúc của nhân vật, đây là nét độc đáo của truyện ngắn ĐBSCL
sau 1975.
Tóm lại, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, tuy chưa có nhiều
nhân vật điển hình, nhưng phần nào đã khắc họa chân thực chân dung
con người vùng đất này, từ diện mạo, lời ăn tiếng nói đến thái độ

vùng miền khác.
3.3.4. Nghệ thuật sử dụng lớp từ chỉ tên người
20
Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL, chúng tôi thấy tên các nhân vật
trong truyện thường gắn với một nghề nào đó hoặc đặc điểm nổi bật
của nhân vật.
Người Nam bộ còn có thói quen đặt và gọi tên theo thứ tạo ra
sự thân mật, gần gũi trong quan hệ. Cách đặt tên người và xưng gọi
như thế chỉ có ở Nam bộ. Đặt và gọi tên nhân vật bằng thứ là nét
riêng của truyện ngắn ĐBSCL so với truyện ngắn miền Bắc.
3.3.5. Nghệ thuật sử dụng lớp từ khẩu ngữ
Lớp từ khẩu ngữ được sử dụng trong truyện để miêu tả ngoại
hình, tâm lý, tính cách nhân vật.
Lớp từ khẩu ngữ cũng được sử dụng trong ngôn ngữ kể
chuyện, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ nhân vật, góp phần tái hiện
cuộc sống và con người ĐBSCL gần với đời thường hơn.
3.4. Giọng điệu
3.4.1. Giọng điệu dân giã mộc mạc
Miêu tả cuộc sống và con người ĐBSCL, các nhà văn đã thể
hiện giọng điệu giản dị, mộc mạc, tự nhiên như chính cuộc sống một
nắng hai sương, như chính hương vị ngọt ngào của hạnh phúc, cũng
như những khó khăn thử thách của cuộc đời mà họ trải qua.
Nhiều truyện ngắn còn đưa nguyên những lời ăn, tiếng nói
ngoài đời vào truyện. Nhờ vậy, khoảng cách giữa nhà văn với người
đọc và người đọc với tác phẩm như ngắn lại.
3.4.2. Giọng điệu trữ tình đằm thắm
Tìm hiểu truyện ngắn ĐBSCL, chúng ta còn dễ nhận ra giọng
điệu giàu chất trữ tình và không kém phần lịch lãm, mộc mạc chân
chất, bộc trực mà luôn thấm đượm nghĩa tình.
3.4.3. Giọng điệu hài hước

Dòng chảy liên tục của truyện ngắn ĐBSCL ngày nay là nhờ
vào sự nối tiếp của ba thế hệ nhà văn. Thế hệ trước 1975; trưởng
thành sau 1975 và xuất hiện trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Lớp nhà
văn trưởng thành sau 1975, đã và đang thừa hưởng những thành tựu
của thế hệ đàn anh, nhưng không ngừng sáng tạo để cách viết ngày
càng mới và hấp dẫn hơn. Nhiều tác giả truyện ngắn đã tạo cho mình
một phong cách riêng, từ cách chọn đề tài, xây dựng cốt truyện cho
tới sáng tạo ngôn từ. Và ngày càng có nhiều tác giả với những tác
phẩm mang được dấu ấn văn học.
Về nội dung phản ánh, bên cạnh cảm hứng ngợi ca thiên nhiên,
con người; về đời sống văn hoá ở ĐBSCL; các tác giả còn đi vào tìm
kiếm chiều sâu bản thể con người; đặc biệt, cảm hứng phê phán bộc
lộ ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Về nghệ thuật biểu hiện, truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, cũng
có những đóng góp đáng kể. Nổi bật nhất là nghệ thuật sử dụng
23
phương ngữ Nam bộ đã đem lại hiệu quả nghệ thuật cao cho tác
phẩm. Ngôn ngữ truyện giàu chất trữ tình, nhưng không kém phần
lịch lãm, và nét đặc trưng nhất đó là sự mộc mạc chân chất, bộc trực
mà luôn thắm đượm nghĩa tình.
Các nhà văn đã rất chú trọng thể hiện giọng điệu, cũng như
tạo dựng không gian, thời gian mang đậm dấu ấn con người và vùng
đất.
Kết cấu truyện tự do và uyển chuyển hơn. Có những kết thúc
truyện gây ấn tượng sâu sắc nơi người đọc; có kết thúc‘‘bỏ ngỏ’’ để
người đọc cùng ‘‘giải mã’’ vấn đề.
Nằm trong tiến trình văn học dân tộc nói chung, thành tựu
mà truyện ngắn ĐBSCL sau 1975, đạt được mang vẻ đẹp đặc sắc
riêng, góp phần khẳng định bước phát triển mới của vùng văn
chương này; đồng thời mở ra những hướng tìm tòi sáng tạo mới làm

còn ở mức độ nhất định, luận án chắc chắn còn không ít hạn chế.
Chúng tôi mong muốn nhận được sự góp ý trao đổi của quý
thầy, cô, các nhà nghiên cứu để luận án được hoàn thiện hơn./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status