BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
HOÀNG NGỌC ĐÔNG
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT- KIẾN TẠO
PHẦN ĐÔNG BẮC BỒN TRŨNG CỬU LONG
TRONG THỜI KỲ EOXEN-OLIGOXEN
Chuyên ngành: Địa Kiến tạo
Mã số: 62.44.55.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Hà Nội – 2011
1
Công trình được hoàn thành tại Bộ môn Địa chất
Khoa Địa Chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Trần Thanh Hải, Đại học Mỏ - Địa chất
2. TS Hoàng Ngọc Đang, Tập đoàn Dầu khí Quốc Gia Việt Nam
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án cấp trường
họp tại Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội, vào
hồi … giờ…ngày … tháng … năm 2012.
Luận án có thể được tham khảo tại Thư viện Quốc gia hoặc Thư
viện Trường Đại học Mỏ - Địa chất
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bồn trũng Cửu Long, ngoài hai đối tượng chứa dầu quan trọng là
đá móng trước Kainozoi và các thành tạo Mioxen dưới, các thành tạo
Eoxen-Oligoxen bao gồm các hệ tầng Cà Cối? Trà Cú và Trà Tân là các
3
1) Nghiên cứu chi tiết đặc điểm địa tầng của các thành tạo Eoxen-
Oligoxen
2) Nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc, phân chia các giai đoạn kiến tạo
chính và khôi phục lịch sử tiến hóa địa chất trong Eoxen-Oligoxen
3) Đánh giá vai trò của các yếu tố địa chất Eoxen-Oligoxen đối với hệ
thống dầu khí ở phần Đông bắc Bồn trũng Cửu Long.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở giải đóan chi tiết đặc điểm địa tầng và
cấu trúc biến dạng của khu vực nghiên cứu cũng như thiết lập lại lịch sử
tiến hóa địa chất trong Eocence – Oligocence, kết quả nghiên cứu đóng
góp thêm những hiểu biết mới về lịch sử tiến hóa địa chất của một phần
thềm lục địa Đông nam Việt Nam trong Kainozoi sớm.
Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu này góp phần xác định
mối quan hệ giữa các thành tạo địa chất Eoxen-Oligoxen với các hệ
thống dầu khí, làm cơ sở dự báo triển vọng và định hướng công tác tìm
kiếm thăm dò dầu khí trong khu vực.
6. Các luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Các thành tạo trầm tích Eoxen-Oligoxen phần Đông bắc
Bồn trũng Cửu Long được xếp vào các hệ tầng Trà Cú có tuổi Eoxen?-
Oligoxen sớm và Trà Tân tuổi Oligoxen muộn. Các hệ tầng này có đặc
điểm trầm tích và thành phần thạch học phức tạp. Hệ tầng Trà Cú gồm
cả các trầm tích vụn và phun trào bazan với sự biến thiên đa dạng về
thành phần và đặc điểm trầm tích theo không gian khác với đặc điểm
của hệ tầng này được ghi nhận trước đây.
Luận điểm 2: Trong giai đọan Eoxen-Oligoxen khu vực nghiên cứu đã
trải qua ít nhất 4 pha kiến tạo: Pha 1 diễn ra trong Eoxen-Oligoxen sớm
liên quan tới sự tách giãn vỏ lục địa và tạo nên các địa hào phương
Đông bắc-Tây nam. Pha 2 phát triển trong giai đoạn cuối Oligoxen sớm
và tạo ra sự nghịch đảo kiến tạo các địa hào hình thành trong Pha 1 và
2) Đã xác định được nguồn gốc của các cấu tạo cơ bản liên quan tới sự
hình thành và biến cải các thành tạo địa chất Eoxen-Oligoxen trong
phần Đông bắc Bồn trũng Cửu Long là hậu quả của 4 pha kiến tạo
khác nhau. Các pha này phản ánh chế độ kiến tạo phức tạp ở thềm
lục địa Đông nam Việt Nam trong giai đoạn Kainozoi sớm.
3) Đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa các thành tạo địa chất Eoxen-
Oligoxen phần Đông Bắc Bồn trũng Cửu Long với các hệ thống dầu
khí trong khu vực này và nhận dạng được một số cấu trúc có triển
vọng, trong đó có các dạng bẫy địa tầng trong hệ tầng Trà Tân, các
bẫy dạng nêm phân bố ở rìa bồn trũng, từ đó làm tiền đề cho việc đề
xuất các giải pháp nghiên cứu hoặc phương án thăm dò dầu khí có
hiệu quả.
8. Kết cấu cuả luận án
Luận án được trình bày trong 170 trang, 3 biểu bảng, 63 hình, 1 ảnh
và 121 tài liệu tham khảo ngoài mở đầu và kết luận, gồm các chương :
Chương 1. Tổng quan khu vực nghiên cứu
Chương 2. Các phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Đặc điểm địa tầng các thành tạo Eoxen – Oligoxen của phần
Đông Bắc bồn trũng Cửu Long
Chương 4. Đặc điểm cấu trúc-kiến tạo và lịch sử tiến hóa địa chất của
phần Đông Bắc bồn trũng Cửu Long trong thời kỳ Eoxen - Oligoxen
Chương 5. Mối quan hệ giữa cấu trúc - kiến tạo với hệ thống dầu khí.
9. Cơ sở tài liệu của luận án
Luận án được xây dựng trên cơ sở tài liệu của chính NCS thu thập,
xử lý về các vấn đề địa tầng, kiến tạo ở phần Đông Bắc bể Cửu Long từ
năm 2006 đến nay. Nghiên cứu sinh (NCS) đã phân tích, xử lý và minh
giải trên 570 tuyến địa chấn 2D và khoảng 1350 km
2
địa chấn 3D cho
các lô: 15-2/01, 15-1, 15-1/05, 01, 02, 01/97 và 02/97, phân tích, xử lý
Oligoxen, đây là một bồn rift phát triển trên vi mảng Đông Dương. Do
7
ảnh hưởng của quá trình tách giãn Biển Đông và sự húc trồi của mảng
Ấn Úc vào mảng Âu Á. Từ Kainozoi muộn, Bồn trũng Cửu Long là một
phần của thềm lục địa Việt Nam có chế độ kiến tạo bình ổn.
1.1.2 Đặc điểm địa chất
1.1.2.1 Địa tầng : Tham gia vào cấu trúc địa chất phần Đông
Bắc bồn trũng Cửu Long gồm phân vị địa tầng thạch học: hệ
tầng Biển Đông(N
2
- Qbd)- tập A, Đồng Nai (N
1
3
đn)-tập BIII,
Côn Sơn (N
1
2
cs)-tập BII, Bạch Hổ (N1
1
bh)-tập BI, Trà Tân
(E
3
2
tt)-tập C và D, Trà Cú (E
3
1
tc)-tập E, Cà Cối(E
2
cc)-tập F?.
1.1.2.2 Tiềm năng dầu khí : Cho đến nay, trong khu vực nghiên cứu đã
và hệ thống dầu khí, đồng thời cũng nhấn mạnh chưa có một công trình
nào nghiên cứu chi tiết về một khu vực cụ thể, như khu vực Đông Bắc
bồn trũng. Vì vậy NCS đã lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các thành
tạo địa chất Eoxen-Oligoxen trong phạm vi Đông Bắc bồn trũng Cửu
Long cho luận án của mình.
Chương 2 - CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cách tiếp cận
2.1.1 Tiếp cận truyền thống kết hợp với hiện đại
2.1.2 Tiếp cận tổng hợp
2.1.3 Tiếp cận hệ thống
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nhóm phương pháp phân tích địa tầng
2.2.1.1 Phương pháp địa chấn-địa tầng.
Để phục vụ cho việc nhận diện các tầng thạch học và luận giải môi
trường lắng đọng trầm tích ở quy mô khu vực, NCS đã sử dụng phương
pháp địa chấn địa tầng dựa trên các đặc điểm phản xạ và tướng địa
chấn. Nhờ đó đã phân chia các tầng thạch học có đặc tính vật lý riêng
biệt. Trên mặt cắt địa chấn ta cũng xác định được các hệ thống đứt gẫy
theo các đặc trưng gián đoạn và dịch chuyển của các bề mặt phản xạ
9
Kết quả chi tiết thu được từ việc minh giải địa chấn được trình bày
trong chương 4
2.2.1.2 Phương pháp thạch địa tầng
Phương pháp thạch-địa tầng là phương pháp phân chia chi tiết các
phân vị địa tầng theo đặc điểm thạch học. NCS đã sử dụng thang thạch-
địa tầng địa phương theo Quy phạm địa tầng năm 1994 với đơn vị phân
chia cơ bản là hệ tầng. Để phân chia chi tiết địa tầng Eoxen-Oligoxen,
NCS đã chia vùng nghiên cứu thành các khối cấu trúc: Phan Thiết, Hải
Sư Đen-Hổ Đen, Hải Sư Nâu-Agate, Phương Đông-Jade- Thăng
Long . Trong mỗi khối, NCS đã chọn các giếng khoan đại diện để
chấn, tác giả đã phân tích mối quan hệ phủ và bị phủ của các thành tạo
Kainozoi lên tầng móng trước Kainzoi, giữa các thành tạo của hệ tầng
Trà Tân lên hệ tầng Trà Cú (tập D lên tập E), giữa các thành tạo của hệ
tầng Bạch Hổ lên hệ tầng Trà Tân (tập B1 lên tập C) trên các mặt cắt
địa chấn.Nhờ đó NCS đã xác định được các bề mặt bất chỉnh hợp và
gián đoạn trầm tích.
Phương pháp phân tích bề dày : Phương pháp phân tích bề dày
được tác giả áp dụng vào nghiên cứu như sau:
- Đo đạc bề dày của từng tập địa chấn địa tầng (tập E+F?, D và C) để
đối sánh quy luật biến đổi bề dày ở hai bên cánh của đứt gãy.
- Khôi phục bề dày lúc mới trầm tích (có tính độ bóc mòn-nếu có), khi
biết độ dày thật lúc mới thành tạo sẽ tính toán biên độ sụt lún và tốc độ
sụt lún của quá trình trầm tích của tập. Ngoài ra, tác giả còn tính toán
gradient sụt lún của bể bằng cách lấy chiều dày trầm tích chia cho chiều
rộng của bể.
11
- Thành lập các bản đồ đẳng dày cho các hệ tầng Trà Cú và Trà Tân ở
vùng nghiên cứu.
2.2.4.2. Phương pháp phân tích động học (Kinematic analysis).
Phương pháp này được sử dụng trong luận án để xác định bản chất của
các đứt gãy, biên độ dịch chuyển và sự tái hoạt động của các đứt gãy
này theo thời gian.
2.2.4.3 Phân tích động lực học (Dynamic analysis) Phương pháp này
xác định mối quan hệ giữa các cấu tạo và các trường lực gây nên sự
hình thành các đứt gãy, nếp uốn trên cơ sở luật Anderson và Riedel về
mối quan hệ ứng suất-cấu tạo và sử dụng phương pháp thống kế trên
mạng chiếu lập thể để xác định phương của trường ứng suất khu vực
liên quan đến chúng.
2.2.4.4 Phương pháp cân bằng mặt cắt: Nội dung cơ bản của phương
pháp này là đưa các tầng đá trầm tích về trạng thái ban đầu trước lúc bị
LDV-1X, STN-1X, DM-1X đã được lựa chọn để mô tả và đối sánh để
phân tích đặc điểm địa tầng của khối cấu trúc này.
Thống Oligoxen, phụ thống dưới, Hệ tầng Trà Cú (E
3
1
-tc)
Trong phạm vi khối, hệ tầng Trà Cú gặp ở các lỗ khoan HSĐ-4X,
LĐN-1X, LĐV-1X, STN-1X, DM-4X. Hệ tầng Trà Cú được đặc trưng
bằng cát kết, bột kết,sét kết xen kẹp với các đá phun trào. Đá phun trào
được gặp ở cấu tạo Hải Sư Đen, Diamond . Kết quả phân tích hóa silicat
các mẫu phun trào bazan ở GK HSD-4X cho thấy đá có thành phần
mafic với hàm lượng silic khá thấp (SiO2<50%), khá giàu TiO
2
,MgO
và được cho là đá phun trào bazan kiếm.
Bề dày của hệ tầng trong vùng nghiên cứu thay đổi rất nhanh: trên
đới nâng từ TN đến ĐB ở đới Hải Sư Đen-Hổ Đen (II) bề dày có có xu
thế tăng dần (tại HSD-4X: 340m, SN-1X: 845m, SN-3X: 745m). Các
13
bào tử phấn hoa gặp trong các lớp sét kết ở độ sâu 3387-3727m định
tuổi Oligoxen sớm.
Thống Oligoxen, phụ thống trên, hệ tầng Trà Tân (E
3
2
-tc)
Hệ tầng phân bố rộng rãi và liên tục khắp bồn trũng.Trầm tích của hệ
tầng Trà Tân có đặc trưng biến đổi từ từ về môi trường trầm tích, thành
phần thạch học. Tại khối Hải Sư Đen, hệ tầng Trà Tân gồm chủ yếu sét
kết (40-70%), xen kẽ bột kết và cát kết. Tỷ lệ cát /sét thấp, song cao dần
về phía đông bắc của khối. Bề dày của hệ tầng tại GK thay đổi từ 450m
nhiều lớp bột kết, sét kết màu nâu và đen, xen các lớp mỏng than, có
chỗ chứa glauconit. Đá biến đổi ở giai đọan catagenez muộn.
Mặt cắt chung của hệ tầng Trà Tân là sét kết (50-80%) xen kẽ bột
kết, cát kết và nhiều nơi gặp phun trào ở phần trên. Bề dày của hệ tầng
thường mỏng ở các bán địa lũy (ở đầu cuối đông bắc) và dày đến rất
dày có thể đến 2000m hoặc cao hơn ở trung tâm của bán địa hào (phía
tây nam của đới).
3.3.4. Các thành tạo Eoxen-Oligoxen khối Phương Đông-Jade-
Thăng Long
Thống Oligoxen, phụ thống dưới, Hệ tầng Trà Cú (E
3
1
-tc)
Tại khối này, mặt cắt của hệ tầng Trà Cú rất tương đồng với mặt cắt
chuẩn đã mô tả tại giếng khoan Cửu Long-1, có thành phần thạch học
chủ yếu cát kết phân lớp khá dày xen kẽ với sét kết, bột kết. Cát kết có
độ hạt từ rất mịn đến trung bình và rất thô, đôi nơi còn gặp các sạn cuội
kết. Sét có màu xám nhạt, xám thường, thường chứa các vảy mica. Bề
dày của hệ tầng Trà Cú thay đổi từ 200m đến 600-800m, có nơi đạt
1000-1600m.
Thống Oligxen, phụ thống trên, Hệ tầng Trà Tân (E
3
2
tt)
Trầm tích của hệ tầng Trà Tân phân bố trên diện rộng, bề dày khá lớn,
song thường mỏng ở các cấu tạo Thăng Long và khá dày ở cấu tạo
Phương Đông và Jade. Hệ tầng Trà Tân tại đới này có thành phần chủ
yếu là sét kết giàu vật chất hữu cơ xen kẹp ít lớp mỏng bột kết và cát
kết. Tập hợp bào tử phấn hoa tìm thấy đã định tuổi Oligocen muộn cho
hệ tầng này.
vực bồn trũng Cửu Long trong giai đọan này phần lớn đã được liên
thông với nhau không còn phân cách bởi các đới nâng như trong giai
đọan trầm tích của hệ tầng Trà Cú. Môi trường lắng đọng của hệ tầng
Trà Tân là môi trường đầm hồ, hạt mịn là chủ yếu, chứa nhiều vật chất
hữu cơ.
16
Chương 4 - ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC-KIẾN TẠO VÀ LỊCH SỬ
TIẾN HÓA ĐỊA CHẤT CỦA PHẦN ĐÔNG BẮC BỒN TRŨNG
CỬU LONG TRONG EOXEN-OLIGOXEN
4.1. Giới thiệu chung.
4.2. Các pha kiến tạo : NCS đã phân chia lịch sử kiến tạo khu vực
nghiên cứu ra thành 4 pha kiến tạo
4.2.1. Pha kiến tạo I, tách dãn trong Eoxen-Oligoxen sớm
Đây là pha tách dãn phương TB-ÐN xảy ra trong thời kỳ Eoxen-
Oligoxen sớm. Di chỉ của pha này là các thành tạo trầm tích phun trào
bazan kiềm có tuổi Eoxen-Oligoxen sớm của hệ tầng Trà Cú và các cấu
trúc nếp uốn và đứt gãy đồng trầm tích có phương ĐB-TN. Hai bề mặt
BCH khống chế không gian của hệ tầng Trà Cú thành tạo trong Eoxen-
Oligoxen sớm gồm:1-Bề mặt BCH nóc tầng móng là bề mặt phân cách
giữa thành tạo móng trước Kainozoi và các thành tạo trong KZ. 2-Bề
mặt BCH nóc của hệ tầng Trà Cú (nóc tập E)- BCH giữa hệ tầng Trà Cú
và Trà Tân.
Các di chỉ về cấu trúc gồm các đứt gãy phương ÐB-TN có tính chất
thuận đồng trầm tích phát sinh và phát triển trong quá trình thành tạo
trầm tích phun trào của hệ tầng Trà Cú và Cà Cối (tập E và F?) .Chúng
còn tái họat động nhiều lần do tác động ở các pha kiến tạo về sau. Có 2
loại đứt gãy: Các đứt gãy có quy mô lớn F1.1, F1.2, F2.1, F2.2, F2.3,
F3.1, F3.2, F4, F5 và các đứt gãy sinh cùng có quy mô nhỏ từ Ft1, đến
Ft17. Các hệ đứt gãy chính (F1 đến F5) đóng vai trò tạo các cấu trúc
móng nâng và các đới trũng bán địa hào. Các đứt gãy có quy mô nhỏ từ
N1, N2, N3 và N4.
18
4.3. Lịch sử phát triển địa chất trong giai đoạn Eoxen-Oligoxen
Tác giả chia lịch sử phát triển địa chất trong giai đọan Eoxen-
Oligoxen thành 2 thời kỳ: thời kỳ Eoxen-Oligoxen sớm (T1) và thời kỳ
Oligoxen muộn (T2). Mỗi thời kỳ được bắt đầu bởi pha tách dãn và kết
thúc bởi pha nén ép.
Thời kỳ Eoxen-Oligoxen sớm (T1): Đây là thời kỳ phát triển địa
chất từ Eoxen đến cuối Oligoxen sớm. Đặc trưng của thời kỳ này là khu
vực bị tách dãn kiểu Rift liên quan đến quá trình tách dãn tạo biển Đông
trẻ. Tại khu vực nghiên cứu xẩy ra quá trình lắng đọng trầm tích của hệ
tầng Cà Cối và hệ tầng Trà Cú (tập F? và E). Pha kiến tạo này đã tạo
nên các đứt gãy thuận đồng trầm tích chủ yếu có phương ĐB-TN, như
đứt gãy F1, F2, F3, F4 và F5. Nhờ đó, trong khu vực này hình thành các
bán địa hào và bán địa lũy có phương trùng với phương ĐB-TN. Đây là
giai đoạn đầu của quá trình tạo rift. Kết thúc thời kỳ này, khu vực
nghiên cứu xảy ra quá trình nghịch đảo kiến tạo, các trầm tích được
lắng đọng trước đây bị uốn nếp, vò nhàu, nhiều cấu trúc nghịch đảo
kiến tạo được sinh thành, khu vực nhiều nơi được nâng lên, ngừng nghỉ
lắng đọng trầm tích, bị phong hóa bào mòn tạo nên BCH.
Thời kỳ Oligoxen muộn (T2): Thời kỳ T2 là thời kỳ phát triển địa
chất từ cuối Oligoxen sớm đến cuối Oligoxen muộn, dưới tác động của
2 pha kiến tạo: tách dãn trong Oligoxen muộn, nén ép cuối Oligoxen
muộn .
Toàn khu vực nghiên cứu chịu tác động của lực tách dãn của pha kiến
tạo III với phương tách dãn TB-ĐN. Dưới tác động đó, các đứt gãy
thuận phương ĐB-TN tái họat động làm mở rộng các địa hào cũ phương
ĐB-TN. Ngoài sự lún do tách dãn, khu vực còn chịu ảnh hưởng lún
chìm vì nhiệt nên lúc này toàn bộ các bán địa hào được liên thông lại
với nhau bởi mực nước hồ phát triển rộng rãi. Nhờ đó, các thành tạo
20
các kênh dẫn dầu khí, quá trình nạp dầu (thời gian) cùng tồn tại, thì các
tích tụ dầu khí được tồn tại.
Lịch sử tiến hóa địa chất kiến tạo trong Eoxen-Oligoxen đã chi phối, qui
định các thành phần vật chất của các thành tạo trong khu vực nghiên
cứu liên quan đến các đối tượng sinh, chứa và chắn và chi phối cấu trúc
nếp uốn và đứt gãy liên quan đến hình thái cấu trúc bẫy dầu khí của các
tích tụ trong khu vực này.
5.3.Các dạng bẫy trong khu vực và quan hệ của chúng với cấu trúc
kiến tạo
5.3.1 Các dạng bẫy trong móng: Các phát hiện dầu khí của tầng móng
trong khu vực nghiên cứu bao gồm các cấu tạo như mỏ Sư Tử Đen, Sư
Tử Vàng, Sư Tử Nâu, Hải Sư Đen, Lạc Đà Nâu, Lạc Đà Vàng, Ruby,
Diamond, Thăng Long, Đông Đô, Topaz, Topaz Bắc và Hồ Xám Nam
là các khối móng nâng địa lũy khép kín 4 chiều bị chôn vùi và bao phủ
bởi các tập trầm tích hạt mịn Eoxen-Oligoxen.
Tính hiệu quả, mức độ hòan chỉnh của bẫy dầu khí trong tầng móng
được tùy thuộc vào các yếu tố sau: Thành tạo đá chắn trực tiếp trên đá
móng của hệ tầng Trà Cú hay Trà Tân; Độ sâu của cấu trúc móng ;
Các hệ thống đứt gãy xuyên cắt qua cấu trúc móng ; Biên độ thẳng
đứng của cấu trúc khép kín ;Vị trí tương đối của cấu tạo trong bồn
trũng;Thành phần thạch học của đá.
5.3.2 Các dạng bẫy trong tầng chứa của hệ tầng Trà Cú :Cho đến
nay, đối tượng này đã được phát hiện dầu khí ở các cấu tạo: Sư Tử
Trắng, Sư Tử Nâu, Diamond, Thăng Long, Emerald, Hải Sư Đen và
Jade. Chúng hầu hết được tích tụ ở dạng bẫy cấu trúc khép kín 3 hoặc 4
chiều. Các cấu trúc khép kín 3 chiếu với 1 chiều kề áp với tầng móng
bao gồm như như cấu tạo Hải Sư Đen, hoặc một chiều dựa vào đứt gãy
như cấu tạo của Sư Tử Trắng. Các khép kín 4 chiều phần lớn được
thành tạo kế thừa từ cấu trúc của khối móng nâng.
22
xác lập trước đây. Hệ tầng Trà Tân phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng
Trà Cú, phân bố rộng rãi với thành phần vật chất đồng nhất và có
tính phân dị yếu ớt về tướng trầm tích. Chúng đặc trưng bởi sự biến
đổi từ từ về môi trường trầm tích hồ, đầm lầy phát triển chồng lên
các địa hào cổ hơn.
2. Đặc điểm cấu trúc kiến tạo khu vực trong giai đoạn Eoxen-Oligoxen
khá phức tạp, đặc trưng bởi các hệ thống đứt gãy, nếp uốn được hình
thành trong nhiều pha kiến tạo khác nhau trong đó nhiều cấu tạo hoạt
động lặp lại đa kỳ. Pha kiến tạo sớm nhất xảy ra trong Eoxen-
Oligoxen sớm, được đặc trưng bởi các đứt gãy thuận đồng trầm tích
hình thành trong giai đọan đầu của quá trình tách giãn lục địa và tạo
nên các bán địa hào phương Tây bắc – Đông nam trong khu vực
nghiên cứu. Pha 2 là pha ép nén được phát triển trong giai đoạn cuối
Oligoxen sớm, được đặc trưng bởi quá trình không trầm tích, nghịch
đảo kiến tạo, bào mòn tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp trên nóc của Hệ
tầng Trà Cú. Pha 3 là pha tái tách giãn xảy ra trong Oligoxen muộn,
được đặc trưng bởi sự hình thành các đứt gãy đồng trầm tích hoặc tái
hoạt động các đứt gãy hình thành trong Pha 1, dẫn tới sự sụt lún rộng
rãi của toàn khu vực nghiên cứu tạo bồn trầm tích dạng hồ, đầm lầy.
Pha 4 xảy ra cuối Oligoxen muộn, được đặc trưng bởi các đứt gãy
trượt bằng phương á vĩ tuyến và á kinh tuyến cũng như các đứt gãy
nghịch theo phương đông bắc-tây nam. Đây là pha là pha nén ép
theo phương Tây bắc - Đông nam và dẫn đến sự hình thành mặt bất
chỉnh hợp nóc của Hệ tầng Trà Tân.
3. Lịch sử phát triển địa chất trong giai đoạn Eoxen-Oligoxen của phần
Đông Bắc Bồn trũng Cửu Long được chia thành 2 thời kỳ. Thời kỳ
sớm (T1) liên quan tới quá trình tách giãn sau cung do sự tiến hóa
của một cung magma núi lửa dọc rìa đông nam của Đông Nam Á,
dẫn tới sự dập vỡ và tách giãn vỏ lục địa và theo sau là sự lắng đọng
24
tới nóc của Hệ tầng Trà Cú và các dấu hiệu trầm tích ở các phần nghi
ngờ là Hê tầng Cà Cối đều tương dồng với Hệ tầng Trà Cú. Để
khẳng định sự có mặt của hệ tầng Cà Cối trong khu vực nghiên cứu
và Bồn Cửu Long nói chung và vai trò của nó trong bình đồ cấu trúc
của khu vực, cần có các nghiên cứu sâu hơn nhưng các nghiên cứu
mới này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các công trình khoan sâu tới
móng trong các bồn trầm tích sâu ở đây.
2. Tuổi cổ nhất của Hệ tầng Trà Cú chưa được xác định chính xác do
thiếu các hóa đá đặc trưng. Viêc định tuổi phần thấp của Hệ tầng Trà
Cú có thể được thực hiện bằng các nghiên cứu đồng vị các tập bazan
kiềm khá phổ biến trong thành phần của đá, đặc biệt là ở phần thấp
của hệ tầng này. Bên cạnh đó, việc xác định chính xác tuổi của bazan
còn có ý nghĩa trong việc xác định chính xác thời gian tách giãn vỏ
lục địa của khu vực Bồn trũng Cửu Long và rìa lục địa Đông nam
Việt Nam.
3. Trong bối cảnh các cấu trúc chứa dầu truyền thống trong khu vực
nghiên cứu như tầng móng nứt nẻ trước Kainozoi và cát kết Mioxen
dưới được nhận dạng trước đây ngày càng khó phát hiện, các đối
tượng chứa dầu khí trong các thành tạo Eoxen-Oligoxen sớm và quy
luật phân bố của chúng cần phải được quan tâm nghiên cứu, không
chỉ trong phạm vi nghiên cứu ở đây mà còn đối với toàn Bồn trũng
Cửu Long. Ngoài ra, các bẫy địa tầng tiềm năng trong Hệ tầng Trà
Tân, đặc biệt là ở phần sâu của các trũng nơi có khả năng tồn tại các
tập cát kết dày cần được quan tâm nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
25