BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ- ĐỊA CHẤT
Phan Đông Pha ĐỊA TẦNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH TẠO
KAINOZOI ĐỚI ĐỨT GÃY SÔNG BA VÀ PHỤ CẬN Chuyên ngành: Cổ sinh và Địa tầng
Mã số: 62.44.55.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Có thể tìm luận án tại: Thư viện Quốc gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Mỏ- Địa chất
MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của luận án
Đới đứt gãy (ĐĐG) Sông Ba có vị trí đặc biệt trong cấu trúc địa chất khu vực
Nam Trung bộ. Đây là một ĐĐG lớn dạng địa hào nội lục có cấu trúc phức tạp, đồng
thời ẩn chứa nhiều thông tin giá trị về lịch sử phát triển địa chất khu vực. Tuy nhiên,
cho đến nay việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở mức độ đo vẽ bản đồ địa chất ở các tỷ
lệ khác nhau và tiến hành một số công trình nghiên cứu khái quát về cấu trúc tân kiến
tạo, cổ sinh- địa tầng Kainozoi (KZ), tiềm năng khoáng sản, khi nghiên cứu lãnh thổ
Nam Việt Nam hoặc Nam Trung bộ. Bên cạnh những giá trị khoa học và thực tiễn đã
đạt được, các công trình nói trên còn một số nội dung tồn tại chưa được giải quyết
triệt để, trong đó nổi lên rõ nhất là sự phân chia khác biệt giữa các tác giả khác nhau
về địa tầng KZ như: Số lượng các phân vị địa tầng, khối lượng và tuổi thành tạo địa
chất của một số phân vị cụ thể, chưa có những nghiên cứu chi tiết về thành phần vật
chất,… Chính các tồn tại này đang gây ra những khó khăn nhất định trong việc xác
lập một thang
địa tầng KZ thống nhất trên toàn ĐĐG Sông Ba, việc làm sáng tỏ lịch
sử hình thành phát triển các thành tạo KZ ĐĐG này và một số vấn đề thực tế liên
quan, đặc biệt là tiềm năng khoáng sản.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, NCS lựa chọn đề tài “Địa tầng và lịch sử
phát triển các thành tạo Kainozoi đới đứt gãy Sông Ba và phụ cận” làm luận án Tiến
sĩ địa chất.
2- M
ục tiêu của luận án: Mục tiêu của luận án là làm sáng tỏ đặc điểm địa
tầng và xác lập lịch sử phát triển các thành tạo KZ ĐĐG Sông Ba và phụ cận phục vụ
trong KZ gồm 3 giai đoạn: (1) Paleocen- Eocen: Hoạt động bóc mòn mạnh mẽ và
magma xâm nhập tích cực; (2) Oligocen- Miocen: Chuyển tiếp từ bóc mòn xâm thực
sang tích tụ trầm tích lục địa chứa than ở
các trũng Ayun Pa và Krông Pa; (3) Pliocen-
Đệ tứ: Hình thành các bồn tích tụ trầm tích lục địa- phun trào ở Pleiku và Kon Tum và
mở rộng các trũng Ayun Pa, Krông Pa trong điều kiện hoạt động phun trào bazan
mạnh mẽ. Trũng Tuy Hòa hình thành vào Pleistocen sớm và được lấp đầy bởi các
thành tạo trầm tích nguồn gốc lục địa- biển.
7- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: (1) Kết quả của luận án làm sáng tỏ đặc đi
ểm thành phần
vật chất, đặc điểm địa tầng và lịch sử phát triển các thành tạo KZ ĐĐG Sông Ba; góp
phần luận giải lịch sử hình thành và phát triển ĐĐG Sông Ba nói riêng và khu vực
Nam Trung bộ nói chung; (2) Hướng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận của luận án
còn là cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu các bồn trũng KZ hình thành dọc các đới
đứt gãy khác ở nước ta.
Ý nghĩa thực tiễn: (1) Kết quả nghiên cứ
u phục vụ trực tiếp cho công tác điều
tra, đánh giá và tìm kiếm khoáng sản liên quan đến các thành tạo KZ; (2) Kết quả
nghiên cứu là nguồn tài liệu đáng tin cậy cho công tác nghiên cứu địa chất, địa chất
thuỷ văn- địa chất công trình, địa chất môi trường. Kết quả của luận án còn là cơ sở
khoa học cho công tác quy hoạch và khai thác hợp lý lãnh thổ theo hướng phát triển bền
vững.
8- Cơ sở tài liệu c
ủa luận án: Luận án được xây dựng trên cơ sở các kết quả
do NCS trực tiếp khảo sát, đo vẽ ngoài thực địa; phân tích, xử lý ở trong phòng từ
năm 1988 đến nay; bao gồm: (1) Các tài liệu đo vẽ khảo sát của NCS trực tiếp thực
hiện; (2) Các kết quả nghiên cứu do NCS chủ trì thực hiện hoặc tham gia đã công bố
(9 bài báo, 3 bài Hội nghị khoa học, 7 đề tài các cấp và luận văn thạc s
ỹ địa chất của
chiếm tỷ lệ cao, nhưng chất lượng rừng thấp, nhiều nơi rừng bị khai thác kiệt quệ.
1.1.2- Đặc điể
m địa chất
1.1.2.1- Địa tầng: Địa tầng trước Kainozoi gồm đá phiến kết tinh Tiền
Cambri, các thành tạo lục nguyên biến chất, trầm tích lục nguyên và trầm tích phun
trào từ axit đến trung tính có tuổi từ Cambri đến Kreta. Địa tầng Kainozoi bao gồm
các thành tạo trầm tích lục địa chứa than HT Sông Ba (N
1
3
sb), trầm tích- phun trào
xen sinh hóa HT Kon Tum (N
2
kt); phun trào bazan HT Túc Trưng (βN
2
-Q
1
1
tt); các
thành tạo trầm tích Đệ tứ bở rời có nhiều nguồn gốc và thành phần khác nhau, phân
bố ở khu vực đồng bằng Tuy Hoà và dọc các thung lũng sông, suối lớn. Ngoài ra, còn
có các thành tạo bazan thuộc HT Xuân Lộc (βQ
1
2
xl).
1.1.2.2- Magma xâm nhập: Trên vùng nghiên cứu, các phức hệ (PH) xâm
nhập có thành phần từ siêu mafic đến axit- á kiềm, tuổi từ Proterozoi sớm đến
Paleogen. Các thành tạo magma KZ dưới dạng các đai mạch granit porphyr,
granosyenit porphyr, granit granophyr và felsit porphyr của PH Phan Rang (γπΕ pr);
hoặc điabas, gabrođiabas, gabrođiorit porphyrit của PH Cù Mông (νΕ cm).
1.1.2.3- Kiến tạo: ĐĐG Sông Ba gồm 2 đứt gãy chính chạy song song nhưng
khác biệt về kích thước, hình thái và cấu trúc. Các thành tạo biến chất kết tinh, trầm
tích lụ
c nguyên, phun trào và xâm nhập có tuổi từ Tiền Cambri tới Mesozoi lộ liên tục
ven rìa và đáy các trũng.
1.2- Lịch sử nghiên cứu địa chất Kainozoi
Lịch sử nghiên cứu địa chất KZ ĐĐG Sông Ba gắn liền với lịch sử nghiên cứu
địa chất khu vực Nam Trung bộ, có thể chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn trước 1975: Các nhà địa chất Pháp mới chỉ khắc hoạ những nét cơ
bản về cấu trúc và phân chia s
ơ bộ một số thành tạo địa chất trước KZ. Các nghiên
cứu của Colani M. (1919), Saurin E. (1935) đề cập đến sự có mặt của các thành tạo
Neogen ở Nam Trung bộ. Fromaget J. (1937), Saurin E. (1956) mô tả và phân chia sơ
bộ các thành tạo Đệ tứ.
- Giai đoạn sau 1975: Sau năm 1975, công tác nghiên cứu địa chất KZ gắn
liền với các công trình đo vẽ bản đồ địa chất ở các tỷ lệ khác nhau. Tuy còn tồn tại
khác nhau về khối l
ượng và tuổi địa chất, nhưng căn bản đã có sự định hình về địa
tầng KZ vùng nghiên cứu.
Fontaine H. (1978) xác định sự có mặt của các thành tạo Paleogen-Neogen
vùng Di Linh. Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Xuân Bao, Đỗ Công Dự (1980) từ các kết
quả nghiên cứu các thành tạo Neogen Nam Trung bộ và tập hợp bào tử phấn hoa
(BTPH) đã đề xuất thang địa tầng trong khu vực. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các
phức hệ
cổ thực vật Trịnh Dánh đã xác lập các HT Sông Ba, HT Kon Tum. Các tác
giả Atlas địa tầng Việt Nam (1982) đã đưa ra sơ đồ liên kết địa tầng các thành tạo
Paleogen- Neogen dựa trên phân tích tướng- trầm tích. Nguyễn Địch Dỹ (1987) đã
đưa ra sơ đồ phân chia và đối sánh các thành tạo KZ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Về
vi cổ sinh có các công trình nghiên cứu về BTPH của Nguyễn Địch Dỹ…; về
Diatomeae của Đào Thị Miên, Đặng Đức Nga,… về Foraminifera của Nguyễn
Ngọc,… Ngoài ra, Nguyễn Đức Thái (1988) cũng đã xác lập điệp Cheo Reo có tuổi
nhau về khối lượng, tuổi thành tạo. Các thành tạo Đệ tứ khu vực Tuy Hoà còn được
nghiên cứu qua các công trình của Nguyễn Địch Dỹ (1995), Trịnh Nguyên Tính và Vũ
Văn Vĩnh (1998), Ngô Quang Toàn (2000), Các phân vị địa tầng Đệ tứ đã được phân
chia trên cơ sở gắn liền với các chu kỳ trầm tích trong Đệ tứ.
Tóm lại, các nghiên cứu trước đây mặc dù đã đạt được nhiều thành công,
nhưng còn một số vấn đề tồn tại: Các phân vị địa tầng KZ chưa có sự thống nhất về
khối lượng, về tuổi; giữa các tác giả và gi
ữa các nhóm tờ; nghiên cứu về thành phần
vật chất, tướng trầm tích, chu kỳ tích tụ trầm tích, còn thiếu chi tiết.
Chương 2- PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1- Phương pháp luận
2.1.1- Khái niệm chung về địa tầng học: “Địa tầng học là khoa học về các
lớp đá, không chỉ quan tâm đến trình tự ban đầu và quan hệ về tuổi của các thể đá mà
còn quan tâm đến sự phân bố, thành phần th
ạch học, tập hợp hoá thạch và các tính
chất địa vật lý, địa hoá- tức là tất cả các đặc tính và thuộc tính có thể theo dõi được
của các thể đá và ý nghĩa của chúng về mặt môi trường, kiểu nguồn gốc và lịch sử địa
chất”.
2.1.1.1- Cơ sở lý luận về thạch địa tầng: Trong luận án, NCS sử dụng hệ
thống phân loại thạch địa tầng để
phân chia địa tầng các thành tạo KZ.
a- Khái niệm: Phân vị thạch địa tầng là một tập hợp các lớp đá có cùng một
đặc điểm thạch học hoặc một tổ hợp các loại đá có thành phần thạch học tương tự
nhau có thể dễ dàng phân biệt với các tập hợp đá khác trong mặt cắt địa chất ngoài
thực địa. Như vậy, phân vị thạch
địa tầng có thể chỉ gồm một trong các loại đá trầm
tích, nguồn núi lửa, biến chất hoặc tổ hợp của các loại đá đó cho dù chúng còn bở rời
hay đã bị gắn kết. Việc xác lập phân vị thạch địa tầng có thể áp dụng cho tất cả các
loại đá phân lớp có tuổi từ Tiền Cambri đến Đệ tứ.
b- Hệ thống phân loại: Hệ thống cấp bậc từ lớn đến nhỏ của các phân vị thạch
NCS sử dụng thang địa tầng có các điểm cần lưu ý sau: Ranh giới giữa các hệ
Neogen và Đệ tứ là 1,806 triệu năm; giữa các thống Pleistocen và Holocen là 11.700
năm. Thống Pleistocen gồm 3 phụ thống: Dưới (Q
1
1
), giữa (Q
1
2
), trên (Q
1
3
) với các
ranh giới tương ứng giữa chúng là 700.000 năm, 125.000 năm. Thống Holocen gồm 3
phụ thống: Dưới (Q
2
1
), giữa (Q
2
2
), trên (Q
2
3
). Ranh giới giữa Q
2
1
với Q
2
2
là 6.000
năm, giữa Q
riêng v
ề điều kiện cổ địa lý, đặc điểm bồn tích tụ, cổ khí hậu, cổ môi trường,
2.2- Phương pháp nghiên cứu
Địa tầng KZ ĐĐG Sông Ba được phân chia các phân vị thạch địa tầng dựa
trên nguyên tắc nguồn gốc và tuổi nên các phương pháp nghiên cứu thành phần vật
chất và tướng trầm tích là các phương pháp chủ đạo. NCS đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu chính: (1) Phương pháp mô tả nghiên cứu thự
c địa; (2) Phương pháp
nghiên cứu thành phần thạch học; (3) Phương pháp phân tích thành phần độ hạt; (4)
Phương pháp phân tích thành phần khoáng vật; (5) Phương pháp phân tích tướng trầm
tích; (6) Phương pháp phân tích cổ sinh; (7) Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối; (8)
Phương pháp liên kết đối sánh địa tầng; (9) Phương pháp phân tích địa mạo.
Chương 3- ĐỊA TẦNG KAINOZOI ĐỚI ĐỨT GÃY SÔNG BA
Các thành tạo KZ ĐĐG Sông Ba phân bố chủ yếu trong các trũng tích tụ phân
b
ố dọc theo ĐĐG, từ trên xuống gồm: Kon Tum, Pleiku, Ayun Pa, Krông Pa và trũng
ven biển Tuy Hòa. Địa tầng KZ ĐĐG Sông Ba bao gồm 23 phân vị địa tầng có tuổi từ
Miocen giữa- muộn đến hiện đại; được mô tả theo trật tự của thang địa tầng như sau:
Hệ Neogen
Các trầm tích Neogen phân bố ở các trũng Krông Pa, Ayun Pa, Pleiku và Kon
Tum; bao gồm các phân vị địa tầng sau:
Thống Miocen, Phụ thống Miocen giữa-trên
Hệ tầng Sông Ba (N
1
2-3
sb) phân bố tại các trũng Krông Pa và Ayun Pa. Mặt
cắt của HT được xác định qua các lỗ khoan LK1- Enreca ở Phú Cần, LKC7
0
ở Phú
Thiện, LK314 ở Ayun Pa và các mặt cắt suối Ea Rsai, cầu Lệ Bắc, sông Cà Lúi, suối
chứa tuf, Diatomeae, trepen và bentonit của HT Sông Ba được NCS mô tả trước đây.
HT Buôn Tu phân bố ở các trũng Krông Pa, Ayun Pa và diện nhỏ ở Củng Sơn. Có thể
gặp chúng tại các mặt cắt Buôn Tu, đèo Chư Sê, và trong các lỗ khoan LK1- Enreca,
LK390, LK755, vùng Krông Pa hay các lỗ khoan LKC7
0
, LK1, LK4, vùng Ayun
Pa. Mặt cắt chung của HT Buôn Tu gồm 3 tập từ dưới lên:
- Tập 1: Cuội kết, sạn kết xen cát kết chứa cuội hạt nhỏ màu xám trắng chuyển
lên trên là cát kết lẫn sạn sỏi nhỏ, bột sét kết luân phiên xen kẽ nhau dạng nhịp. Trong
trầm tích chứa nhiều vật liệu tuf núi lửa, sét chứa bentonit đến các thấu kính bentonit,
lớp mỏng sét than, than nâu. Dày 5-10m đến 200m (tại LK1- Enreca).
- Tập 2: Bột kết, sét kết, sét điatomit- trepen màu xám xanh, xanh
đen hoặc
nâu xen kẹp các vỉa than nâu; đôi chỗ xen kẹp các lớp cát sạn kết; chuyển lên trên là
cát sạn kết màu xám tro, xám xanh xen kẹp các lớp cát kết, bột kết tuf, sét bột kết tuf.
Chứa Diatomeae, nhiều BTPH và Tảo nước ngọt. Dày từ 30-60m.
- Tập 3: Cuội kết, cát sạn kết, cát kết, bột kết màu nâu vàng, sét bột kaolin
màu xám trắng, sét kết xám xanh, xám nâu, loang lổ cấu tạo dạng nhịp, chứa nhiều vết
in lá cây. Đá chứa các kế
t hạch, kết vón vôi silic và dấu vết hoạt động của sinh vật.
Các vết in lá cây thuộc phức hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới ôn hòa có khoảng tuổi
Neogen cùng các dạng BTPH và ít Tảo thuộc môi trường lục địa. Dày từ 10m đến
30m.
Tuổi Pliocen của HT được xác định dựa vào tuổi của phức hệ thực vật
Quercus advena- Ficus beauveriei do Trịnh Dánh thu thập được ở khu vực bản Ai Nu
và Tảo Diatomeae gồm: Auracosira granulata, A. islandica, A. praegranulata, A. cf.
jouseana. HT Buôn Tu nằm không chỉnh hợp trên tập 2 của HT Sông Ba và các thành
tạo cổ hơn trong khu vực. HT Buôn Tu bị phun trào bazan HT Túc Trưng và Xuân
Lộc phủ không chỉnh hợp lên trên.
3
.
HT Kon Tum phủ lên trên đá cổ trước Kainozoi và bị bazan HT Túc Trưng và
các thành tạo trầm tích Đệ tứ bở rời phủ lên trên.
Thống Pliocen - Thống Pleistocen, phụ thống dưới
Hệ tầng Túc Trưng (βN
2
-Q
1
1
tt): Có diện lộ và chiếm khối lượng lớn trong
các thành tạo KZ khu vực ĐĐG Sông Ba. Gồm 2 kiểu mặt cắt:
*Kiểu mặt cắt phun trào được phát hiện tại lỗ khoan LK121 ở Trà Bá. Mặt cắt
gồm 4 tập tương ứng với 4 pha hoạt động của núi lửa: (1) Tập 1: Dăm kết núi lửa màu
xám, cấu tạo khối xen kẽ các lớp bazan đặc sít và bazan lỗ hổng. Phần trên cùng đã bị
phong hoá; dày 40,7m. (2) Tập 2: Dăm kết núi lửa màu xám đến xám sẫm, cấu tạo
khối xen kẽ với bazan đặc sít. Phần trên bị phong hoá yếu; dày 61,2m. (3) Tập 3:
Bazan đặc sít màu xám tro, cấu tạo khối rắn chắc. Phần trên dày bị phong hoá thành
sét màu nâu đỏ; dày 119,1m. (4) Tập 4: Bazan lỗ rỗng chuyển lên bazan đặc sít màu
xám, cấu tạo khối rắn chắc. Phần trên cùng bị phong hoá thành bột- sét; dày 29,3m.
Bề dày chung của HT tại lỗ khoan LK121 là 250,3m. Hệ tầng phủ trực tiếp lên
HT Kon Tum. Ranh giới trên chuyển lên bazan HT Xuân Lộc.
*Kiểu mặt cắt phun trào xen trầm tích phân bố trong các bồn tích tụ nhỏ được
ghi nhận tại lỗ khoan LK116 ở Biển Hồ. Mặt cắt từ dưới lên gồm: (1) Tập 1: Bazan lỗ
hổng màu xám đen xen kẹp bazan đặc sít, rắn chắc; phần trên bị phong hoá thành sét
bột nâu đỏ; dày 58,5m. (2) Tập 2: Bazan đặc sít màu xám đen, dạng khối rắn chắc;
dày 13,3m. (3) Tập 3: Sét kết màu xám tro phân lớp mỏng, gắn kết yếu; phần trên là
cát kết thạch anh hạt nhỏ đến thô, gắn kết yếu; dày 27,5m. (4) Tập 4: Bazan đặc sít
màu xám đen, rắn chắc; chuyển lên trên là bazan lỗ hổng màu xám nâu; phần trên
sạn sỏi màu nâu nhạt; dày 7,5m.
Chiều dày chung của mặt cắt là 24,6m. Chứa BTPH đặc trưng cho khí hậu
nóng ẩm nhiệt đới, môi trường nước ngọt. Trầm tích aQ
1
1-2
cấu tạo nên thềm sông bậc
IV hệ thống sông Ba. Trầm tích apQ
1
1-2
cấu tạo nên thềm sông bậc III hệ thống sông
Sê San.
Trầm tích sông- biển (amQ
1
1-2
) tương đương với khối lượng của “HT Tuy
Hoà” do Trần Tính, Vũ Văn Vĩnh xác lập năm 1994. Trầm tích amQ
1
1-2
không lộ ra
trên bề mặt mà chỉ bắt gặp ở các lỗ khoan LK02-500 và TH2 ở Phú Lâm. Mặt cắt tại
lỗ khoan TH2 gồm: (1) Tập dưới: Cát chứa sạn pha bột sét, cát pha bột sét lẫn sạn
màu xám xanh; dày 8,5m. (2) Tập trên: Bột sét màu xám đen, mịn dẻo xen các lớp
mỏng cát hạt mịn dạng thấu kính; dày 21,0m. Chứa phong phú Foraminifera, nghèo
BTPH.
Bề dày chung của mặt cắt là 29,5m. Trầm tích amQ
1
1-2
nằm phủ không chỉnh
hợp lên vỏ phong hoá các thành tạo trước KZ và bị phủ bởi trầm tích amQ
1
1
2-3
) phân bố dọc theo các thung lũng sông Ba và sông Sê
San ở các trũng Krông Pa, Ayun Pa, Kon Tum và không có mặt ở trũng Pleiku. Mặt
cắt đặc trưng gồm: (1) Tập dưới: Sạn sỏi, cát màu vàng, bở rời, đáy chứa cuội tảng;
dày 4,4m. (2) Tập giữa: Sạn sỏi, cát xen kẽ các lớp cát bột loang lổ; dày 8,1m. (3) Tập
trên: Bột cát màu xám vàng, gắn kết yếu; dày 1,5m. Chứa nghèo nàn BTPH.
Tại thềm II ở thung lũng Đắk Ter, đã xác định được tập hợp BTPH:
Murtus
sp., Myrica sp., Compositae gen. indet có tuổi aQ
1
2-3
. Trầm tích cấu tạo nên thềm xâm
thực tích tụ bậc III dọc hệ thống sông Ba và thềm bậc II dọc hệ thống sông Sê San.
Chúng phủ trên các thành tạo trước Đệ tứ và bị các trầm tích trẻ hơn phủ lên trên.
Trầm tích sông- biển (amQ
1
2-3
) phân bố ven rìa trũng Tuy Hòa hoặc dưới các
lỗ khoan. Mặt cắt trầm tích amQ
1
2-3
từ dưới lên gồm: (1) Tập dưới: Sạn sỏi cát chứa
cuội, ít bột màu xám nâu loang lổ; dày 4,9m. (2) Tập trên: Sét bột màu nâu vàng, mịn,
dẻo. Chứa ít vỏ sò ốc nguyên dạng và ít rễ thực vật; dày 1,7m
Bề dày chung của mặt cắt là 6,7m. Tập hợp BTPH nghèo nàn. Tuổi của trầm
tích amQ
1
2-3
được xác định dựa trên mối quan hệ địa tầng với trầm tích amQ
>40.000 năm.
Trầm tích sông- biển (amQ
1
3
) lộ ra ở Hoà Quang, Mỹ Cảnh và được quan sát
thấy trong hàng loạt các lỗ khoan ở trũng Tuy Hòa. Mặt cắt đặc trưng gồm: (1) Tập
dưới: Cát pha bột chứa sạn màu xám, xám trắng dính kết khá chặt chuyển lên cát pha
sạn lẫn bột bở rời xám xanh, phớt đen; dày 8,0m. (2) Tập trên: Bột sét xám xanh phớt
đen gắn kết chặt, khô cứng chắc, phần trên lẫn các ổ cát nhỏ; dày 6,7m.
Bề dày của mặt cắ
t đạt 13,5m. Chứa tập hợp BTPH thường gặp trong Q
1
3
.
Trầm tích amQ
1
3
phủ lên trên trầm tích amQ
1
2-3
và bị phủ bởi các trầm tích Q
2
1-2
.
Thống Holocen
Phụ thống Holocen dưới- giữa
Trầm tích sông (aQ
2
1-2
) có diện phân bố rộng, tạo thành bậc thềm sông bậc I
1-2
) lộ ra ở khu vực Hoà Quang, Thạch Bàn.
Phần còn lại của chúng nằm sâu xuống đồng bằng và chỉ được thấy qua các lỗ khoan
sâu. Mặt cắt hệ tầng tại lỗ khoan KT2-T.XIV như sau: (1) Tập dưới: Cát chứa sạn
màu vàng nhạt đến xám vàng, bở rời; dày 3,0m. (2) Tập giữa: Cát sạn chuyển lên cát
mịn pha bột sét màu loang lổ, lốm đốm vảy mica, dính kết yếu; dày 6,0m. (3) Tập
trên: Bột sét pha cát màu xám đen, nâu đất hơi b
ị loang lổ; trầm tích dẻo mịn, khi khô
cứng chắc; dày 2,0m. Chứa tảo nước ngọt, nước mặn, nước lợ và phức hệ BTPH.
Trầm tích amQ
2
1-2
phủ lên trên các thành tạo cổ hơn và bị các thành tạo trẻ hơn phủ
lên trên.
Trầm tích vụng biển (m
l
Q
2
1-2
) chỉ quan sát được qua các lỗ khoan ở Tuy Hòa.
Mặt cắt tại lỗ khoan LK51 từ dưới lên gồm: (1) Tập dưới: Cát lẫn sạn màu xám trắng
phớt vàng chuyển lên cát pha bột sét màu xanh đen chứa di tích thực vật, mảnh vụn vỏ
sò vụn nát; dày 2,8m. (2) Tập trên: Bột sét chứa mảnh vỏ sò ốc màu đen mịn dẻo; dày
10,5m. Trong tập trên có chứa nhiều di tích vỏ sò ốc gồm các dạng: Placuna placenta
(Lin.), Dentalium sp., Balanus sp
Trong trầm tích chứa rất nhiều di tích vi cổ sinh, BTPH và tảo. Trong không
gian, trầm tích có sự chuyển tướng ngang với trầm tích amQ
2
1-2
và trầm tích m
. Tuổi đồng vị C
14
của vỏ sò ốc lấy tại phần đáy của tập 1
đạt giá trị 6.215±100 năm.
Phụ thống Holocen trên (Q
2
3
)
Các trũng lục địa hình thành các trầm tích sông và sông- đầm lầy. Ở trũng Tuy
Hoà có nhiều kiểu tướng khác nhau, tạo thành một dãy trầm tích biển thoái sau biển
tiến cực đại Holocen giữa; bao gồm các trầm tích sông, sông- đầm lầy, doi cát biển
(bar), biển và gió sinh.
Trầm tích sông- đầm lầy (abQ
2
3
) có diện phân bố rất rộng rãi ở đồng bằng
Tuy Hòa. Mặt cắt từ dưới lên toàn là bột sét màu xám xanh, xám đen chứa mùn thực
vật, dẻo mịn. Dày từ 1-2m đến 8-9m. Nghèo BTPH, ít tảo nước ngọt.
Ở các trũng lục địa, trầm tích abQ
2
3
phân bố thành các dải hẹp liên quan với
địa hình thung lũng kín, nửa kín hoặc trên các hồ móng ngựa, đoạn sông bị thoái hóa.
Mặt cắt trầm tích gồm cát sạn, cát sét, sét bột màu xám, xám đen chứa mùn thực vật
chưa hóa than hoàn toàn; đôi nơi tạo thành các thấu kính than bùn. Dày 1-5m.
Trầm tích sông (aQ
2
3
) có 2 kiểu mặt cắt:
* Mặt cắt khu vực miền núi cấu tạo nên các bãi bồi cao dọc các sông suối lớn;
2
3
) lộ ra trên bề mặt dọc ven biển Tuy Hòa. Mặt
cắt thường có 2 tập: (1) Tập dưới: Cát lẫn sạn xen các lớp cát mỏng, chuyển lên cát
chứa sạn xen với cát lẫn sạn màu xám, xám trắng bở rời; dày 2,3m. (2) Tập trên: Sạn
pha cát chuyển lên cát chứa sạn, cát lẫn sạn bở rời màu xám nâu nhạt đến vàng nhạt;
dày 10,5m. Chứa rất nhiều hóa thạch vi cổ sinh. Các thành tạo trầm tích m
b
Q
2
3
có sự
phân dị thạch học từ kiểu đới triều thấp lên đới triều cao, tạo mặt cắt biển thoái phủ
chồng gối lên các thành tạo doi cát biển tuổi Q
2
1-2
đã nổi cao và bị gió tái tạo.
Trầm tích biển (mQ
2
3
) phân bố kéo dài dọc đường bờ biển, từ Bình Kiến đến
Phước Tân, phân bố từ đỉnh sóng triều cao trở ra. Thành phần chủ yếu là cát, cát chứa
sạn lẫn mảnh san hô, sò ốc màu xám, xám vàng, bở rời, chọn lọc tốt. Thành phần
khoáng vật tạo đá chính là thạch anh, ít mảnh đá và fenspat.
Trầm tích gió sinh (vQ
2
3
) phân bố thành các cồn cát có dạng không cân xứng,
cao 8m đến 10m ở khu vực ven biển trũng Tuy Hòa. Thành phần gồm cát thạch anh
hạt trung đến mịn màu xám vàng, xám nhạt, gắn kết yếu, rời rạc. Thành phần cấp hạt
Pa và Krông Pa; (4) Thang địa tầng KZ tại các trũng riêng biệt phản ánh tính chất phát
triển không đồng nhất của các bồn tích tụ trên ĐĐG Sông Ba trong KZ.
Chương 4- LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH TẠO KZ ĐĐG SÔNG BA
Lịch sử phát triển các thành tạo KZ ĐĐG Sông Ba được tái dựng trên cơ sở
nghiên cứu chi tiết về địa tầng các thành tạo trầm tích và phun trào KZ, các hoạt động
magma xâm nhập KZ trong khu vực và liên hệ, đối sánh với các thành tạo KZ phân bố
trong các bồn trũng trên thềm lục địa kế cận. Lịch sử phát triển các thành tạo KZ
ĐĐG Sông Ba gồm 3 GĐ: Paleocen- Eocen, Oligocen- Miocen và Pliocen- Đệ tứ.
Mỗi GĐ có thể gồm các PGĐ với nhiều thời kỳ có lịch sử phát triển riêng biệt tạo nên
sự phân dị về thành phần vật chất, điều kiện thành tạo tại các khu vự
c khác nhau trên
toàn ĐĐG.
4.1- Giai đoạn Paleocen- Eocen:
GĐ Paleocen- Eocen được đặc trưng bởi quá trình xâm thực bóc mòn mạnh
mẽ trên nền hoạt động tạo núi, hoạt động magma xâm nhập hoạt động tích cực và sự
vắng mặt trầm tích trên phạm vi ĐĐG Sông Ba. Hoạt động tạo núi trong Paleocen-
Eocen hình thành nên các đai mạch gabro- điaba phức hệ Cù Mông và granit porphyr
phức hệ Phan Rang rất phổ biến trong khu vực Nam Trung bộ. Hoạt động bóc mòn
xâm thực mạnh m
ẽ phát triển trên toàn bộ khu vực lãnh thổ Nam Việt Nam, trong đó
có vùng nghiên cứu, hình thành nên bề mặt san bằng (BMSB) Đông Dương tuổi
Paleogen giữa có độ cao 1.500-2.500m. Quá trình trầm tích hoàn toàn vắng mặt trên
phạm vi ĐĐG. Tích tụ trầm tích chỉ được hình thành trên khu vực thềm lục địa lân
cận: bồn trũng Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn và được lấp đầy bởi các thành
tạo trầm tích lục địa như các hệ tầng Cà Cối (E
2
cc), Cù Lao Dung (E
2
cld), tuổi
Eocen phân bố ở đáy các bồn trũng.
1
1
bh), Dừa (N
1
1
d), Ngọc Hiển (N
1
1
nh),… tuổi N
1
1
.
Vào khoảng cuối Miocen sớm, hoạt động trượt bằng, nâng khối tảng trên
phạm vi lãnh thổ Nam Trung bộ và vùng kế cận đã làm xuất hiện một bề mặt không
chỉnh hợp địa tầng giữa các thành tạo trầm tích Miocen sớm và Miocen giữa tại các
bồn trũng trên thềm lục địa. Các hoạt động xâm thực bóc mòn hình thành nên BMSB
Đà Lạt tuổi Miocen sớm có độ cao 1.400-1.800m. Trên phạm vi ĐĐG Sông Ba, các
đứt gãy bắt đầu tái hoạt động với cường độ yếu theo kiểu bằng trái- thuận, phá hủy bề
mặt móng cố kết có trước, chuẩn bị cho sự tích tụ trầm tích vào Miocen giữa- muộn.
4.2.2- Phụ giai đoạn Miocen giữa- muộn:
PGĐ Miocen giữa- muộn đặ
c trưng bằng sự hình thành các trầm tích lục địa
thuộc HT Sông Ba lấp đầy các bồn trũng Krông Pa và Ayun Pa từ đầu Miocen giữa và
kết thúc vào cuối Miocen muộn. Sự kết thúc của PGĐ được ghi nhận qua một BCH
địa tầng địa phương với các thành tạo trầm tích lục địa- phun trào Pliocen. PGĐ bao
gồm 2 thời kỳ:
- Thời kỳ Miocen giữa: Vào đầu Miocen giữa, ĐĐG hoạt động sụt lún đã hình
thành các tr
ũng sụt, tách giãn cục bộ Ayun Pa và Krông Pa, quá trình tích tụ trầm tích
tướng sông- hồ miền núi và trung du thuộc tập 1- HT Sông Ba. Môi trường mang tính
thấp của HT Buôn Tu mang tính cận nhiệt đới ôn hòa ẩm. Tại trũng Kon Tum và
Pleiku yếu tố thực vật hồ- đầm lầy chiếm ưu thế hơn, thể hiện khí hậu ôn hòa thực
thụ.
- Thời kỳ Pliocen giữa: Hoạt động phun trào bazan càng mãnh liệt hơn với sự
gia tăng thành phần vật liệu núi lửa trong mặt cắt thuộc tập 2- HT Túc Trưng. Trầm
tích tướng hồ cảnh quan núi lửa hạt mịn chứa điatomit, bentonit thuộc tập 2- HT Kon
Tum và đ
iatomit- trepen, bentonit thuộc tập 2- HT Buôn Tu được tích tụ. Môi trường
chuyển từ chế độ khử và khử yếu ở thời kỳ đầu sang chế độ kiềm. Phức hệ tảo
Melosira- Stephanodiscus đặc trưng cho bồn trầm tích ưa kiềm, có độ muối tăng.
Phức hệ thực vật Arbutus elegans mang tính cận nhiệt đới ôn hòa nửa khô hạn.
- Thời kỳ Pliocen muộn: Hoạt động phun trào ti
ếp tục diễn ra, hình thành tập
3- HT Túc Trưng. Các bồn tích tụ có xu hướng thu hẹp hình thành nên các lớp trầm
tích tướng hồ giàu kaolinit thuộc tập 3 các HT Kon Tum và Buôn Tu. Thành phần vật
liệu phun trào và hữu cơ tại mọi bồn trũng đều giảm. Môi trường chuyển từ kiềm sang
axit có mức độ oxy hoá cao. Phức hệ tảo Melosira- Eunotia là dấu hiệu cho thấy các
bồn trũng đã bị nông dần và thu hẹp hơn. Thảm th
ực vật và tập hợp BTPH chỉ thị khí
hậu cận nhiệt đới nóng ẩm.
Vào cuối Pliocen muộn, quá trình trầm tích trong các bồn trũng dọc ĐĐG
Sông Ba kết thúc và phần lớn diện lộ của chúng bị các lớp bazan thuộc tập 4- HT Túc
Trưng phủ lên trên kéo dài đến thời kỳ đầu của Pleistocen sớm. Toàn bộ khu vực
ĐĐG được nâng cao, hoạt động tích tụ trầm tích bị gián đoạn hoàn toàn trong khoảng
th
ời gian từ cuối Pliocen muộn đến hết thời kỳ đầu của Pleistocen sớm. Quá trình bóc
mòn tạo nên BMSB Pliocen muộn.
4.3.2- Phụ giai đoạn Pleistocen sớm- Holocen:
PGĐ đặc trưng bởi quá trình tích tụ trầm tích lục địa tại khu vực các trũng lục
địa có trước và sự hình thành và tích tụ trầm tích lục địa- biển tại trũng Tuy Hòa. Quá
cỏ bụi.
- Thời kỳ Holocen sớm- giữa: ĐĐG hoạt động tích cực với quá trình nâng
thống trị. Quá trình thành tạo thềm sông bậc I phát triển khá mạnh mẽ không chỉ ở các
trũng Kon Tum, Ayun Pa và Krông Pa mà có mặt tại hầu hết các sông suối lớn trong
phạm vi ĐĐG. Thành phần trầm tích hạt mịn tướng bãi bồi, hồ trên bãi bồi chiếm ưu
thế trong mặt cắt. Tại các hồ móng ngự
a bị lầy hóa tạo các đầm lầy với các vỉa than
bùn xen kẹp.
- Thời kỳ Holocen muộn- Hiện đại: Vào Holocen muộn, quá trình tích tụ trầm
tích có nguồn gốc lục địa khác nhau vẫn xảy ra trong các trũng với ưu thế của các
thành tạo sông, hồ, lũ. Trầm tích sông Holocen muộn thành tạo các bãi bồi cao với
thành phần chủ yếu là cát, sạn, sỏi và các bãi bồi thấp và lòng sông hiện đại.
4.3.2.2- Phụ giai đo
ạn Pleistocen sớm- Holocen tại trũng Tuy Hoà
Trũng Tuy Hòa nằm ở đầu mút phía đông của ĐĐG Sông Ba được hình thành
do hoạt động phân dị khối tảng và bóc mòn xâm thực vào Pleistocen sớm. Quá trình
hình thành châu thổ ven biển Tuy Hoà chịu ảnh hưởng đồng thời của cả 2 ĐĐG Sông
Ba và ĐĐG Tuy Hòa- Củ Chi; trong đó, ĐĐG Tuy Hoà- Củ Chi đóng vai trò chủ đạo.
Động lực bồn tích tụ chịu tác động đan xen của động lực dòng chảy sông, biể
n (sóng,
thủy triều). Quá trình tích tụ trầm tích gắn liền với các chu kỳ dao động mực nước
biển, tương ứng với các GĐ gian băng và băng hà trong Đệ tứ.
- Thời kỳ Pleistocen sớm- giữa: Hầu hết diện tích châu thổ hiện tại còn là vùng
xâm thực bóc mòn, ranh giới đường bờ biển trong Pleistocen sớm cách đường bờ biển
hiện đại khoảng 5-10km. Tốc độ lún chìm của trũng Tuy Hoà khá lớ
n, tạo nên mặt cắt
biển tiến trầm tích amQ
1
1-2
, có độ dày đạt tới 25-30m ở phần trung tâm.
2
3
tạo thành các
bề mặt nổi cao trên bề mặt đồng bằng, các trầm tích abQ
2
3
phủ lấp các địa các địa hình
âm làm cho bề mặt đồng bằng dần đạt trắc diện cân bằng. Mặt cắt tướng trầm tích
cũng có quy luật cộng sinh trong không gian từ trong lục địa ra phía biển như giai
đoạn trước. Các doi cát biển được hình thành vào Holocen sớm- giữa bị các hoạt động
của gió làm vun cao, tái tạo lại và di chuyển tạo thành các dải cồn cát. Các vụng biển
thời gian này bị thu hẹp và bị
đầm lầy hoá mạnh. Trầm tích biển tạo thành dải bãi biển
hiện đại phân bố từ đỉnh sóng triều cao trở ra kéo dài suốt đường bờ phía đông của
trũng. Hiện nay, quá trình phát triển đồng bằng Tuy Hòa vẫn đang tiếp diễn dưới tác
động của các quá trình địa chất nhưng đã chịu tác động mạnh của các hoạt động nhân
sinh.
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra mộ
t số kết luận sau: (1) Lịch
sử phát triển các thành tạo địa chất của ĐĐG Sông Ba trong Kainozoi gồm 3 giai
đoạn: Paleocen- Eocen, Oligocen- Miocen và Pliocen- Đệ tứ; (2) Lịch sử phát triển
các thành tạo KZ phản ánh tính chất hoạt động không đồng nhất trong không gian và
theo thời gian của ĐĐG Sông Ba; (3) Trũng Tuy Hòa hình thành vào Pleistocen sớm
và chịu ảnh hưởng chi phối rõ nét của ĐĐG Tuy Hòa- Củ Chi trong Đệ tứ.
Chương 5- MỐI LIÊN QUAN CỦA KHOÁNG SẢN
VỚI CÁC THÀNH TẠO KAINOZOI ĐỐI
ĐỨT GÃY SÔNG BA
Các loại hình khoáng sản liên quan đến các thành tạo KZ trong phạm vi ĐĐG
Sông Ba rất đa dạng và phong phú, bao gồm 199 mỏ khoáng (MK) và biểu hiện
khoáng sản (BHKS) thuộc nhiều nhóm khoáng sản khác nhau.
5.1.3.1- Saphir sa khoáng: Phân bố hạn chế với 3 MK&BHKS trong khu vực:
Suối Cái, suối Tả Hô và Quang Trung. Saphir sa khoáng phân bố trong bãi bồi và lòng
sông Holocen muộn ở ven rìa trũng Tuy Hoà hoặc trong đáy thềm I tuổi Pleistocen
muộn ở Đắk Tô; thường có quy mô nhỏ.
5.1.3.2- Sét kaolin: Có 14 MK&BHKS, liên quan đế
n nhiều phân vị địa tầng
có tuổi từ Miocen giữa- muộn đến hiện đại nhưng tập trung chủ yếu vào trầm tích
sông HT Sông Ba và HT Buôn Tu và HT Kon Tum. Thường có quy mô nhỏ đến trung
bình, chất lượng thấp.
5.1.3.3- Sét điatomit: Các thân quặng có giá trị công nghiệp phân bố trong tập
2 HT Kon Tum (N
2
kt) gồm 12 MK&BHKS điatomit phân bố ở trũng Kon Tum. 2
BHKS sét điatomit- trepen liên quan tới tập 2 HT Buôn Tu (N
2
bt). Các mỏ điatomit
có quy mô lớn, chất lượng trung bình- kém.
5.1.3.4- Sét bentonit: Đã phát hiện tới 23 MK&BHKS sét bentonit, thuộc 3
kiểu nguồn gốc chính: trầm tích hồ, trầm tích hồ cảnh quan núi lửa, phong hoá bazan;
ngoài ra còn có kiểu nguồn gốc hỗn hợp.
a- Sét bentonit nguồn gốc hồ cảnh quan núi lửa: Liên quan đến tập 2 HT
Buôn Tu với các MK&BHKS là Đèo Chư Sê, Suối Ea Yao, Cầu Cây Sung (Ayun Pa),
Buôn Ma Thung (Krông Pa), Suối Bùn, Củng Sơn (Củng Sơn) và với tập 2 HT Kon
Tum là Hoà Bình (Kon Tum). Sét bentonit nguồn gốc h
ồ cảnh quan núi lửa có chất
lượng tốt, tiềm năng trữ lượng lớn.
b- Sét bentonit nguồn gốc hồ: Liên quan nguồn gốc hồ tập 2 HT Sông Ba (N
1
2-
3
2
1-2
; a,abQ
2
3
; dpQ. Tuy nhiên,
có chất lượng tốt và quy mô lớn phân bố trong các thành tạo amQ
2
1-2
(ở Tuy Hoà);
abQ
2
3
, aQ
2
1-2
(ở tất cả các trũng).
5.1.4.2- Cát cuội sỏi xây dựng: Tập trung chủ yếu trong các trầm tích lòng và
bãi bồi sông hiện đại (aQ
2
3
), ít hơn là trong các thành tạo aQ
1
1-2
; aQ
1
2-3
; aQ
1
3
, lQ.
2- Than nâu có mối liên quan với trầm tích tướng hồ- đầm lầy phát triển trên
bãi bồi thuộc tập 2 HT Sông Ba (N
1
2-3
sb) và trầm tích tướng hồ- đầm lầy cảnh quan
núi lửa thuộc tập 1 các HT Buôn Tu (N
2
bt) và Kon Tum (N
2
kt).
3- Titan sa khoáng được tích tụ trong các dải cát ven biển hiện đại thuộc
tướng trầm tích mQ
2
3
. Chúng thường phân bố ở bãi biển chịu tác động của sóng và
các dải cồn cát thấp chạy sát đường bờ hiện đại, nơi có đoạn địa hình bờ uốn cong.
4- Vàng sa khoáng phân bố trong trầm tích hạt thô lót đáy các bậc thềm sông
có tuổi khác nhau ở trũng Kon Tum và rìa tây, tây nam trũng Tuy Hoà. Có giá trị là
thềm sông bậc II ở Kon Tum có tuổi Q
1
2-3
, lòng sông suối hiện đại hoặc trong trầm tích
dpQ.
5- Bauxit laterit là sản phẩm phong hoá từ bazan HT Túc Trưng (βN
2
-Q
1
1
tt).
sb) và trầm tích hồ tập 3 các
HT Buôn Tu (N
2
bt) và Kon Tum (N
2
kt).
8- Sét bentonit liên quan đến nhiều phân vị có tuổi từ Neogen đến Đệ tứ. Các
thân khoáng bentonit có giá trị chủ yếu liên quan đến các trầm tích hồ cảnh quan núi
lửa tập 2 của các HT Buôn Tu (N
2
bt) và Kon Tum (N
2
kt). Sét bentonit nguồn gốc
trầm tích sông và hồ trên bãi bồi của HT Sông Ba (N
1
2-3
sb) và trầm tích Holocen
sớm- giữa (aQ
2
1-2
) chỉ gặp ở các trũng Krông Pa và Ayun Pa.
9- Sét điatomit phân bố trong trầm tích hồ hạt mịn tập 2 của HT Kon Tum (N
2
kt) và sét điatomit- trepen phân bố trong tập 2 của HT Buôn Tu (N
2
bt).
10- Sét gạch ngói liên quan đến các tướng sét- sét bột tướng bãi bồi (a), tướng
sông- đầm lầy (ab), tướng hồ lục địa (l), tướng hỗn hợp sông- biển (am) thuộc các
khoảng tuổi khác nhau, từ Neogen đến Đệ tứ. Các phân vị địa tầng Đệ tứ có giá trị là:
2
-Q
1
1
tt) và Xuân Lộc (βQ
1
2
xl).
14- Laterit hình thành trên vỏ phong hoá đá bazan HT Túc Trưng (βN
2
-Q
1
1
tt).
Các kiểu vỏ thuận lợi cho việc hình thành laterit là Feralit và Ferit; tại khu vực địa
hình gò đồi có độ dốc không quá 5-7
0
và chịu tác động của nước ngầm.
Từ các kết quả phân tích, đánh giá trên có thể cho thấy: (1) Khu vực ĐĐG
Sông Ba có nguồn tài nguyên khoáng sản liên quan đến các thành tạo KZ rất đa dạng
về loại hình sử dụng, phạm vi phân bố rộng rãi. Nhiều loại hình khoáng sản có tiềm
năng lớn và giá trị sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân như sét điatomit, sét
bentonit, sét gạch ngói, cát cuội sỏi và đá xây dựng; (2) Mỗ
i loại hình khoáng sản đều
có vị trí địa tầng, đặc điểm tướng trầm tích, đặc điểm địa hình- địa mạo của các thành
tạo KZ ĐĐG Sông Ba.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu trên, có thể rút ra một số kết luận như sau:
tụ trầ
m tích lục địa chứa than trong các bồn trũng Ayun Pa và Krông Pa liên quan tới
hoạt động của ĐĐG Sông Ba trong phụ giai đoạn Miocen giữa- muộn.
Giai đoạn Pliocen- Đệ tứ đặc trưng bởi sự hình thành các bồn tích tụ trầm tích
ở Pleiku, Kon Tum ở phía bắc ĐĐG và mở rộng bồn tích tụ ở các trũng Ayun Pa,
Krông Pa trong điều kiện hoạt động phun trào bazan mạnh mẽ. Giai đoạn Pliocen- Đệ
tứ bao gồm 2 ph
ụ giai đoạn: Pliocen- Pleistocen sớm và Pleistocen sớm- Holocen.
5- Lịch sử phát triển các thành tạo KZ phản ánh tính chất không đồng nhất
trong không gian và theo thời gian của hoạt động Tân kiến tạo khu vực. Các trũng
Krông Pa, Ayun Pa, Pleiku và Kon Tum liên quan chặt chẽ với hoạt động của ĐĐG
Sông Ba, có xu hướng hoạt động tăng dần từ phía nam lên phía bắc. Mức độ và tính
chất hoạt động của ĐĐG Sông Ba đã tạo nên tính đa dạng về nguồn g
ốc, thành phần