TÓM tắt LUẬN án TIẾN sĩ địa CHẤT NGHIÊN cứu lựa CHỌN mô HÌNH ĐÁNH GIÁ tài NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG VÀNG gốc VÙNG PHƯỚC sơn QUẢNG NAM - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

LÊ VĂN LƯỢNG NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ
TÀI NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG VÀNG GỐC
VÙNG PHƯỚC SƠN - QUẢNG NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT

Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện quốc gia, Hà Nội
2. Thư viện Trường Đại học Mỏ - Địa chất

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài: Vùng Phước Sơn tỉnh Quảng Nam có
cấu trúc địa chất phức tạp, biểu hiện khoáng sản phong phú; đặc
biệt là vàng gốc. Song, vấn đề nghiên cứu đặc điểm quặng hoá và
lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc trong
vùng chưa được quan tâm đúng mức. Luận án “Nghiên cứu lựa
chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng
Phước Sơn - Quảng Nam” được NCS lựa chọn nhằm góp phần
giải quyết yêu cầu do thực tế đòi hỏi.
2. Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm quặng
hoá vàng gốc vùng Phước Sơn; Lựa chọn mô hình đánh giá tài
nguyên, trữ lượng vàng gốc và các thành phần có ích đi kèm nhằm
góp phần hoàn thiện phương pháp luận thăm dò trên cơ sở áp dụng
các tiến bộ khoa học công nghệ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Các thân quặng, đới
khoáng hoá vàng gốc vùng Phước Sơn, đặc biệt là khu Đăk Sa.
4. Nội dung nghiên cứu: Tổng hợp, hệ thống hoá, xử lý dữ liệu
địa chất khoáng sản. Nghiên cứu bổ sung thành phần vật chất

mô hình phù hợp để đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cho các nhà quản lý và các
doanh nghiệp cơ sở dữ liệu địa chất khoáng sản vàng gốc vùng
Phước Sơn đảm bảo độ tin cậy, là tài liệu tham khảo định hướng
công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác mỏ; Cung cấp cho cơ sở
sản xuất hệ phương pháp nhằm nâng cao độ tin cậy trong đánh giá
tài nguyên, trữ lượng; Lựa chọn mạng lưới thăm dò phù hợp với
kiểu quặng vàng gốc Phước Sơn và các vùng khác có điều kiện địa
chất khoáng sản tương tự.
7. Những điểm mới của luận án
- Vàng gốc vùng Phước Sơn thuộc kiểu thạch anh - sulfua đa
kim - vàng điển hình, có hai giai đoạn tạo khoáng với tổ hợp cộng
sinh khoáng vật đặc trưng là thạch anh - pyrit II - vàng I và thạch
anh - pyrotin II - vàng II - galenit - sphalerit (có thể có electrum);
- Hàm lượng Au và các nguyên tố đi kèm (Ag, Pb và Zn)
trong các thân quặng vàng gốc vùng nghiên cứu có thể quy nạp về
hàm phân bố loga chuẩn, giữa chúng có mối quan hệ tương quan
thuận từ tương đối chặt chẽ đến chặt chẽ;
- Đặc điểm biến đổi không gian của Au có thể mô hình hoá
bằng hàm cấu trúc kiểu mô hình cầu, hàm lượng Au có tính biến
đổi cục bộ và dị hướng yếu, về cơ bản có thể xem như đẳng hướng
trong không gian. Đặc điểm này là luận cứ khoa học để sử dụng
mạng lưới thăm dò hình vuông, hình tam giác đều, hình thoi;
- Kết quả nghiên cứu với sự trợ giúp của phần mềm Surpac
đã khẳng định tính ưu việt của mô hình hàm cấu trúc và phương

3

pháp Kriging trong đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng
Phước Sơn;

Lãnh đạo Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản
quốc gia. Các Thầy giáo, các nhà khoa học trong và ngoài trường
Đại học Mỏ - Địa chất. NCS xin bày tỏ lòng biết ơn!

4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm cấu trúc địa chất vùng Phước Sơn
1.1.1. Vị trí vùng nghiên cứu trong bình đồ cấu trúc khu vực
Vùng Phước Sơn có diện tích khoảng 100km
2
, nằm về phía
Bắc địa khối Kon Tum, thuộc á địa khu Nam Ngãi.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu địa chất khoáng sản
- Trước năm 1975: Tài liệu nghiên cứu địa chất vùng để lại
rất sơ lược đại diện là J. H. Hofet (1941), Fromaget (1952), La
Croix A, Trần Huỳnh Anh (1932 - 1968).
- Sau năm 1975: Công trình đo vẽ bản đồ địa chất và khoáng
sản tỷ lệ 1:500.000 của Trần Đức Lương và Nguyễn Xuân Bao
đồng chủ biên (1988). Bản đồ địa chất khoáng sản tờ Bà Nà tỷ lệ
1:200.000 được Nguyễn Đức Thắng và nnk hiệu đính năm 2006;
Phía Đông có nhóm tờ Tam Kỳ - Hiệp Đức của Koliada A. A và
nnk (1990); Phía Bắc có nhóm tờ A Hội của Bùi Thế Vinh và nnk
(2011); Phía Nam là nhóm tờ Đăk Glêi - Khâm Đức của Đỗ Văn
Chi và nnk (1997).
Công tác tìm kiếm vàng tỷ lệ 1:10.000 vùng Phước Sơn đã
thực hiện ở 7 khu: Bãi Chuối, K7, Trà Long - Suối Cây, Bãi Bướm,
Vàng Nhẹ, Bãi Gió và Núi Vàng. Khu Đăk Sa đã được thăm dò.
1.1.3. Khái quát về địa tầng

1
av) gồm đá phiến thạch anh -
biotit, thạch anh - biotit - chlorit, sericit - thạch anh, đá phiến giàu
vật chất than.
1.1.4. Khái quát về magma xâm nhập
Chủ yếu là granođiorit, granit - biotit pha 2 phức hệ Bến
Giằng - Quế Sơn (γδPZ
3
bg-qs) phân bố ở phía tây liên quan đến
vàng gốc trong vùng, ít hơn là granosyelit phức hệ Đèo Cả
(γ-
γKđc)
; đá olivinit, pyroxenit phức hệ Hiệp Đức (σPZ
1
hđ), ngoài ra
còn có các đai đá mạch không rõ tuổi.
1.1.5. Khái quát về đặc điểm cấu trúc, kiến tạo
Trong vùng có sự phân bố của các đứt gãy tây Khâm Đức,
Đăk Pơ Kô, K7, trong đó đứt gãy K7 và nếp lồi Sông Giang có sự
phân bố các mạch thạch anh - sulfua đa kim - vàng. Đây là tiền đề
thuận lợi để tìm kiếm vàng gốc trong vùng.
Tóm lại: vùng Phước Sơn có cấu trúc địa chất phức tạp, phân
bố chủ yếu là trầm tích biến chất hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên.
Các thân quặng thạch anh sulfua vàng phân bố trong đá phiến
thạch anh - biotit, xen các tập đá phiến sét vôi liên quan đến đứt gãy
K7 trên cánh của nếp lồi Sông Giang. Đây là cơ sở khoanh định,
các diện tích có triển vọng vàng gốc trong vùng.
1.2. Đặc điểm quặng hoá vàng gốc vùng Phước Sơn
Đã xác định được 8 khu phân bố quặng vàng gốc gồm: Đăk
Sa, Bãi Chuối, K7, Trà Long - Suối Cây, Bãi Bướm, Vàng Nhẹ,

lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng.
- Thành phần khoáng vật: Phân khu Bãi Đất chủ yếu là
pyrotin, pyrit, galenit, sphalerit và vàng tự sinh (có thể có
electrum) dạng lấp đầy các khe nứt, chiếm 1 ÷ 65%. Trong đó
sphalerit từ ít đến 50%, galenit ít đến 12%, pyrit từ ít đến 2%,
pyrotin từ ít đến 1%; Phân khu Bãi Gõ gồm pyrotin, pyrit,
sphalerit, galenit và vàng tự sinh (có thể có electrum); tổng
khoáng vật sulfua 2 ÷ 15%, cục bộ lên đến 45%.
+ Đặc điểm khoáng vật chính: Vàng tự sinh (Au) tồn tại rất
đa dạng và phong phú gồm 2 thế hệ xâm tán rải rác trong thạch
anh; dạng vi mạch lấp đầy khe nứt (ảnh 1.5); xâm tán cùng gelenit
và sphalerit (ảnh 1.3, 1.16). Hạt vàng có kích thước 0,01 - 0,2mm,
từ tương đối đẳng thước (ảnh 1.3) đến hạt méo mó (ảnh 1.5) hay
dạng hạt tha hình đến hạt lớn (ảnh 1.16), Trong mẫu gặp Au tự

7

sinh quan hệ tiếp xúc phẳng với galenit, sphalerit (ảnh 1.3); với
galenit, sphalerit và pyrotin II (ảnh 1.16).
Ảnh 1.3. Mẫu LV1, tầng lò 1,
TQ BĐMQ. Vàng tự sinh, hạt
đẳng thước tiếp xúc phẳng với
galenit và sphalerit (Nikon +, độ
phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.5. Mẫu LV2-2, tầng lò 2,
TQ BĐMQ. Vàng tự sinh hạt
kéo dài xâm tán thành vi mạch

8

anh hoá chứa khoáng vật quặng lên đến 10% (Bãi Đất, Bãi Gõ),
dolomit hoá, calcit hoá chứa khoáng vật quặng từ ít đến 2%, (K7,
Trà Long - Suối Cây), chlorit hoá (Trà Long - Suối Cây, Bãi
Bướm), hiện tượng sericit hoá rất hạn chế. Ảnh 1.22. Đá phiến thạch anh
biotit bị thạch anh hoá chứa
quặng (Nikon +, độ phóng đại
100x1.7)
Ảnh 1.23. Đá phiến thạch anh biotit
bị thạch anh, dolomit hoá, chứa
quặng (Nikon +, độ phóng đại
50x1.7)
Ảnh 1.24. Đá dolomit bị
talc hoá, magnesit hoá xâm
tán quặng (Nikon +, độ
phóng đại 50x1.7)
- Nhận định nguồn gốc quặng vàng gốc trong vùng
Từ kết quả nghiên cứu bổ sung, kết hợp với tài liệu nghiên
cứu trước (Trần Trọng Hoà, Lê Văn Hải, Bùi Thế Vinh và nnk)
cho phép rút ra: Vàng gốc khu Đăk Sa có nguồn gốc nhiệt dịch
nhiệt độ trung bình, trung bình thấp (300 - 185
0
).
1.3. Phân vùng triển vọng
1.3.1. Cơ sở phân vùng triển vọng
- Tiền đề: là các tập đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi

9

CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐÁNH
GIÁ TÀI NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG
2.1. Tổng quan đặc điểm địa hoá, khoáng vật và các loại hình
nguồn gốc mỏ vàng công nghiệp
Khoáng vật vàng khá đơn giản, vàng tự sinh và tellua của
vàng có giá trị công nghiệp chính. Vàng tự sinh hầu như có chứa
tạp chất Ag, Cu và Fe; đôi khi có Bi, Pd và Rd.
Vàng có giá trị công nghiệp chính gồm các mỏ: Nhiệt dịch
nhiệt độ cao; Nhiệt dịch nhiệt độ trung bình; Nhiệt dịch nhiệt độ
thấp; Mũ sắt của các mỏ sulfua; Mỏ nguồn gốc biến chất kiểu cuội
kết chứa vàng.
2.2. Các phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Khảo sát, thu thập, tổng hợp tài liệu: lộ trình địa chất theo
tuyến kết hợp với công trình thăm dò và khai thác, thành lập các mặt
cắt chi tiết bổ sung tại khu Đăk Sa.
2.2.2. Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất khoáng sản gồm:
CSDL bảng biểu dạng số; CSDL trong hệ thông tin địa lý (GIS).
2.2.3. Mô hình hoá
- Khái niệm về mô hình hoá: Mô hình hoá là một giải pháp
nghiên cứu, tìm kiếm, kiểm định và đánh giá nhằm tìm hiểu, giải
thích, dự báo và lựa chọn các phương pháp tìm kiếm, thăm dò mỏ
khoáng. Mô hình mỏ khoáng hoặc các tính chất quan trọng nào đó
của mỏ khoáng thường được thực hiện bằng phương pháp quy nạp
hoặc mô phỏng. Sản phẩm của quá trình mô hình hoá có thể là
một mô hình cụ thể quan sát được bằng mắt thường (đồ giải dạng
khối, bình đồ, mặt cắt, v.v.) hoặc mô hình được quy nạp dưới dạng
một công thức toán học (mô hình trừu tượng).

phương pháp tương tự; Ước đoán độ phong phú tài nguyên của khu
vực, địa phương dựa vào công thức thực nghiệm; Dự báo kiểu mỏ
theo diện tích với độ tin cậy nhất định; Phương pháp chuyên gia; Dự
báo tổng hợp liên kết theo khu vực; Phương pháp tính thẳng theo
thông số quặng hoá.
- Các phương pháp tính trữ lượng, tài nguyên xác định
Phương pháp khối địa chất; Mặt cắt địa chất; Khối khai thác;
Hình đa giác; Hình tam giác; Trọng số nghịch đảo khoảng cách,
Kriging. Trong Luận án sử dụng phương pháp Kriging, trọng số
nghịch đảo khoảng cách và phương pháp khối địa chất (để so sánh).

11

Phương pháp Kriging thông dụng còn được gọi là Kriging
chưa biết giá trị trung bình, dựa chủ yếu vào giả thuyết hàm ngẫu
nhiên ổn định (dừng) thật sự.
Ngày nay với sự trợ giúp của máy tính, địa thống kê được xem
như là phương pháp chủ đạo trong dự báo không gian. Phương pháp
có thuật toán chặt chẽ, với khả năng dự báo có độ tin cậy cao, không
bị chi phối bởi hình dạng, kích thước mạng lưới thăm dò, khắc phục
được những nhược điểm mà các phương pháp khác không thể hiện
được như loại bỏ các sai số cục bộ trong tính toán. Với khối lượng
dữ liệu đầu vào đủ lớn thì kết quả cho độ tin cậy cao; mặt khác
phương pháp còn cho biết sai số tính toán thông qua phương sai
Kriging. Bằng Kriging ta có thể tính trữ lượng, tài nguyên từng vi
khối với kích thước nhỏ, ngay cả khi trong khối không có công trình
và rất tiện ích cho thiết kế kỹ thuật khai thác mỏ, chỉ đạo khai thác,
hỗ trợ những phương pháp khác như thành lập bản đồ đẳng trị, v.v.
2.2.5. Nghiên cứu ứng dụng phần mềm Surpac
Phần mềm Surpac 5.1 để xử lý các dữ liệu địa chất, mô hình

o
,
hệ số biến đổi chu vi đường viền là 1,62, thuộc loại phức tạp.
* Sự phân bố các thành phần có ích trong thân quặng: Thân
quặng BĐMQ hàm lượng Au: 0,13 - 76g/T (đã xử lý mẫu đăc cao),
phân bố đặc biệt không đồng đều (Vc=267%); thân quặng QTZ3
hàm lượng Au: 0,11 - 48g/T (đã xử lý mẫu đăc cao), phân bố đặc
biệt không đồng đều (Vc=206%).
* Hình dạng mạng lưới thăm dò: Công trình khoan thi công không
theo mạng lưới hình học. Mạng lưới thăm dò tương đương với tuyến
cách tuyến khoảng (30 - 50)m và công trình trên tuyến là (30 - 50)m.
Trên cơ sở phân tích các yếu tố địa chất liên quan và khống
chế quặng hoá. Mối quan hệ quặng hoá với đá vây quanh. Hình
dạng, kích thước, đặc điểm biến đổi và sự phân bố các thành phần
có ích. Hệ thống thăm dò và ưu nhược điểm của từng mô hình như
đã nêu trong luận án, tốt nhất sử dụng phối hợp các mô hình mặt
cắt địa chất, hình học mỏ, toán thống kê và hàm cấu trúc. Trong
đó mô hình hàm cấu trúc là chủ đạo.
2.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương pháp đánh giá
tài nguyên, trữ lượng
Yếu tố hình dạng, kích thước, thế nằm thân quặng; Sự phân
bố các thành phần trong thân quặng; Hệ thống thăm dò, hệ thống
khai thác ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp đánh giá tài
nguyên, trữ lượng.
Phương pháp mặt cắt địa chất đòi hỏi việc bố trí mạng lưới
thăm dò theo tuyến mà trong nhiều trường hợp khó thực hiện ở thực

13

tế, kết quả tính toán thiếu chính xác khi khoảng cách giữa các tuyến Mô hình dạng các
mặt cắt địa chất
Mô hình toán
thống kê
Mô hình hàm cấu
trúc [(h)]
Mô hình hình học
mỏ
Biểu bảng
Tiếp cận tài liệu liên quan đã có
Xây dựng CSDL ĐC-KS
Mô hình hoá thân quặng
Bản đồ, biểu đồ trong GIS
Đối tượng nghiên cứu (TQ)

Lựa chọn phương pháp tính trữ lượng và tài nguyên (Kriging,
Nghịch đảo khoảng cách, v.v)
Lựa chọn kích thước các vi khối,
elipsoid
Kết quả
Xác định các
[(h)] thực nghiệm
theo các hướng
Lựa chọn kích
thước đới ảnh
hưởng, tính đẳng

Nguyên tố số lượng mẫu
Min Max TB
t
A
t
E

Au (g/T) 0,13 197,55 18,31 3,19 16,57
Ag (g/T) 0,1 438 26,53 3,80 19,44
Pb (%) 0,0003 29,3 1,750 4,16 23,13
Zn (%)
190
0,0001 28,87 1,753 3,87 19,64
Nhận xét: Hàm lượng Au có độ lệch tiêu chuẩn |t
A
| = |A/
A
|

và độ nhọn tiêu chuẩn |t
E
|= |E/
E
| đều lớn hơn 3, toán đồ tần số

15

lệch về trái. Do vậy không thoả mãn phân bố chuẩn, các nguyên
tố có ích đi kèm Ag, Pb và Zn cũng tương tự.
Kiểm tra luật phân bố loga chuẩn: Bằng cách chuyển các giá trị

-4 1,00

-0,98

1,2 0,11 1,97
Từ bảng 3.9 cho thấy theo tiêu chuẩn |t
A
|<3 và |t
E
| <3; cho phép
nhận định hàm lượng Au trong thân quặng BĐMQ tuân theo luật
phân bố loga chuẩn. Kết quả tương tự cho Ag, Pb và Zn.
Hàm phân bố
Hàm mật độ f(x) phân bố hàm lượng Au trong thân quặng
BĐMQ theo loga chuẩn có dạng (3.1): Hàm phân bố (3.2):
 
 
39,0.2
83,0lg
2
.2.63,0
1



x
exf

(3.1); F ( ≤x) =
 

+ Thân quặng QTZ3 được khống chế bởi 76 lỗ khoan với
252 mẫu phân tích hàm lượng Au, Ag, Pb và Zn.
Kiểm tra mô hình phân bố: Mô hình phân bố thống kê hàm
lượng Au tương tự như đối với thân quặng BĐMQ. Kết quả xác
định các đặc trưng thống kê được trình bày tại bảng 3.11
Bảng 3.11. Đặc trưng thống kê hàm lượng Au, Ag, Pb và Zn TQ QTZ3

16

Hàm lượng
Nguyên tố số lượng mẫu
Min Max TB
t
A
t
E

Au (g/T) 0,11 206 10,34 5,62 49,80
Ag (g/T) 0,10 254 17,38 3,22 13,99
Pb (%) 0,0006 22,6 1,36 3,10 14,08
Zn (%)
252
0,0004 3,76 0,099 6,40 51,65
Từ bảng 3.11 cho thấy hàm lượng Au, Ag, Pb và Zn có tiêu
chuẩn |t
A
|>3 và |t
E
|>3, toán đồ tần số lệch trái, không tuân theo luật
phân bố chuẩn.

|=3,39>3; song
độ lệch không nhiều cũng có thể quy nạp về phân bố loga chuẩn.
Hàm phân bố
Hàm mật độ f(x) hàm lượng Au theo loga chuẩn có dạng
(3.3): Hàm phân bố có dạng (3.4):
 
 
32,0.2
62,0lg
2
.2.56,0
1



x
exf

(3.3); F( ≤x) =
 
dxe
x
x
x
o
32,0.2
62,0lg
2
1
.2.56,0

với Ag, Pb, kém chặt chẽ với Zn; Ag tương quan rất chặt chẽ với Pb
và tương quan chặt chẽ với Zn; Pb tương quan chặt chẽ với Zn.
Nhận xét chung: Về cơ bản, Au và các nguyên tố đi kèm (Ag,
Pb và Zn) có tương quan thuận khá chặt chẽ, song mối quan hệ đó
có sự khác nhau ít nhiều giữa hai thân quặng. Bước đầu có thể sử
dụng các hàm hồi quy đã xây dựng để dự báo tài nguyên các
nguyên tố đi kèm trong vùng nghiên cứu.
- Mô hình hàm cấu trúc γ(h)
+ Thân quặng BĐMQ
Xuất phát từ phương 290
0
với góc quét là 45
0
; phương tiếp
theo sẽ là 335
0
, 20
0
, 65
0
cho đến phương 110
0
. NCS tiến hành khảo
sát một nửa (½) bán cầu (tương đương với 4 phương), bán cầu còn
lại có giá trị tương tự. Các giá trị đầu vào là các giá trị đã được
chuyển sang giá trị lg(x). Kết quả thể hiện ở hình 3.27. NCS đã tính
toán theo nhiều phương án khác nhau để chọn phương án tối ưu. Hình 3.27. Kết quả khảo sát Variogram

3
3
hh
h 

khi h≤ 60
= 0,28+0,75=1,03 khi h>60
335

0,40 0,90 65
)
65
5,0
65
5,1(50,040,0)(
3
3
hh
h 

khi h≤ 65
= 0,40+0,50=0,90 khi h>65
20

0,53 1,21 70
)
70
5,0
70
5,1(68,053,0)(

hiện của biến đổi cục bộ, hiệu ứng hố và dị hướng yếu (với chỉ số
dị hướng là 1,17); có thể nội suy thân quặng theo hướng dốc trong
phạm vi 60-65m và theo đường phương trong phạm vi 65-70m có
thể sử dụng mô hình cầu để xác định kích thước đới ảnh hưởng,
kích thước vi khối, tính trữ lượng, tài nguyên bằng Kriging.
+ Thân quặng QTZ3
Xuất phát từ phương 280
0
với góc quét là 45
0
, phương tiếp theo
sẽ là 325
0
, 10
0
, 55
0
cho đến phương 100
0
, bán cầu còn lại có giá trị
tương tự.
Bảng 3.27. Bảng tổng hợp kết quả khảo sát Variogram thân quặng QTZ3
Mô tả cấu trúc
Phương
khảo sát
(độ)
Hiệu
ứng tự
sinh
Trần (kể cả

hh
h 

khi h≤ 55

19

= 0,16+0,87=1,03 khi h>55
10

0,01 0,72 70
)
70
5,0
70
5,1(71,001,0)(
3
3
hh
h 

khi h≤ 70
= 0,01+0,71 =0,72 khi h>70
55

0,15 1,12 55
)
55
5,0
55

, trục ngắn 290
0
). Thân quặng QTZ3 có
tính dị hướng yếu với hệ số dị hướng I
dh
=1,4 (Elipsoid có trục kéo
dài phương 10
0
, trục ngắn 280
0
), có thể xem như đẳng hướng.
2. Cường độ quặng hoá trong các thân quặng tương đối cao.
Thân quặng BĐMQ có cường độ quặng hoá cao hơn thân quặng
QTZ3 với hệ số chuyển đổi đường cầu dao động từ 0,49 đến 0,75;
thân quặng QTZ3 có hệ số chuyển đổi đường cầu dao động lớn
hơn từ 0,66 đến 0,97.
3. Thân quặng BĐMQ có hiệu ứng tự sinh cao, Co: 0,28 -
0,53, thân QTZ3 có hiệu ứng tự sinh thấp hơn, Co: 0,01 - 0,16.
Vàng tự sinh và hàm lượng Au đặc cao trong thân quặng BĐMQ
lớn hơn thân QTZ3. Phù hợp với quặng hoá tại các thân quặng
nghiên cứu, quặng dạng ổ, dạng vi mạch, dạng lấp đầy các khe
nứt trong thạch anh.

20

4. Tất cả các Variogram đều có biểu hiện hiệu ứng hố và
biến đổi cục bộ, chỉ rõ quặng hoá vàng ở Đăk Sa có ít nhất 2 giai
đoạn tạo quặng, phù hợp với kết quả phân tích mẫu khoáng tướng.
- Khai thác mô hình hàm cấu trúc để tính trữ lượng và tài
nguyên bằng cách lập các elipsoid.

Hình 3.43 Chỉ
dẫn
Bảng 3.31. Bảng kết quả tính trữ lượng và tài nguyên Au bằng
phương pháp Kriging
Thân
quặng
Cấp trữ
lượng và tài
nguyên
Trữ lượng và tài
nguyên quặng
(tấn)
Hàm lượng
TB Au
(g/T)
Trữ lượng và
tài nguyên Au
(kg)
122 213.824 14,61 3.124
BĐMQ
333 244.434 9,99 2.442

21

Cộng 458.258 5.566
122 232.334 7,81 1.815
QTZ3
333 1.029.614 7,07 7.279
Cộng 1.261.948 9.094
Trữ lượng và tài nguyên Au tính bằng phương pháp Kriging

Thân
quặng
Cấp trữ
lượng, tài
nguyên
Trữ lượng và tài
nguyên quặng
(tấn)
Hàm lượng
TB Au
(g/T)
Trữ lượng và
tài nguyên Au
(kg)
122 226.705 14,40 3.266
BĐMQ
333 207.822 7,57 1.574
Cộng 434.527 4.840
122 283.218 6,47 1.831
QTZ3
333 1.154.099 8,09 9.339
Cộng 1.437.317 11.160
Kết quả tính trữ lượng dẫn ở bảng 3.35 đã được Hội đồng
Đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia phê duyệt năm 2010. Vì

22

vậy, NCS không tính lại mà sử dụng kết quả như là tài liệu tham
khảo để so sánh với các phương pháp đề nghị áp dụng.
3.1.4. Dự báo tài nguyên chưa xác định

cho tất cả các khối trữ lượng cấp 122, sai khác trữ lượng trong các
khối giao động từ 0,3 đến 18,5%, trung bình khoảng 4%.
- So sánh trên các mặt cắt
So sánh mặt cắt AA’ được lập từ kết quả thăm dò với kết quả
khai thác TQ BĐMQ cho thấy: Về cơ bản hình dạng thân quặng
có sự tương đồng; Kết quả khai thác đã phát hiện 01 đới dịch
chuyển nhỏ, tuy nhiên không ảnh hưởng đến hình thái thân quặng;
Diện tích thân quặng trên cùng mặt cắt AA’ giữa kết quả thăm dò
và kết quả khai thác sai khác nhau khoảng 6%.
Kết luận: Để nhận thức đầy đủ về đặc điểm biến đổi quặng
hoá vàng gốc tốt nhất là sử dụng mô hình toán thống kê (một

23

chiều, hai chiều), mô hình hình học mỏ và mô hình hàm cấu trúc,
trọng tâm là mô hình hàm cấu trúc. Sử dụng phương pháp
Kriging, trọng số nghịch đảo khoảng cách; trọng tâm là Kriging
để đánh giá tài nguyên, trữ lượng và phương pháp tính thẳng theo
thông số quặng hoá để dự báo tài nguyên quặng vàng gốc vùng
Phước Sơn là đảm bảo độ tin cậy.
3.1.6. Định hướng mạng lưới thăm dò phát triển mỏ
Theo các nhà địa chất thăm dò, để đảm bảo độ tin cậy có thể
thăm dò các thân quặng khu Đăk Sa theo mạng lưới =(2/3)Hm (Hm,
kích thước ảnh hưởng):
Bảng 3.45. Mạng lưới thăm dò dựa trên kết quả khảo sát Variogram
Thân quặng Theo đường phương (m) Theo hướng dốc (m)
BĐMQ 40-50 40-45
QTZ3 35-50 30-35
Bảng 3.46. Mạng lưới thăm dò chuyển đổi về mạng lưới hình vuông
Thân quặng Theo đường phương (m) Theo hướng dốc (m)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status