CHUYÊN ĐỀ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở ĐBSCL
Luận văn: Thực trạng xuất khẩu thủy
sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
GVHD: NGUYỄN THÚY HẰNG SVTH: PHẠM HUY
1
CHUYÊN ĐỀ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở ĐBSCL
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế nước ta có sự chuyển biến rõ rệt. Kinh
tế Việt Nam từng bước hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Hoạt động thương mại
quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng. Trong hoạt động thương mại quốc tế,
xuất khẩu giữ vai trò vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế
trong nước. Tính chung năm 2010, tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu nước ta đạt 71,6 tỷ
USD, tăng 25,5% so với năm 2009. Con số trên cho thấy xuất khẩu có vai trò
quyết định trong cán cân xuất-nhập khẩu.
Trong số những mặt hàng xuất khẩu, thủy sản là mặt hàng truyền thống và
có vai trò quan trọng. Giá trị thủy sản xuất khẩu ngày càng tăng. Đem lại một
nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu
thủy sản đạt 4,95 tỷ USD, tăng 16,5% so với năm 2009. Xuất khẩu thủy sản phát
triển sẽ tác động tới nhiều hoạt động khác như nuôi trồng, đánh bắt, khai thác và
chế biến. Chính điều đó đã góp phần phát triển kinh tế, góp phần thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có diện tích nuôi trồng,
khai thác và đánh bắt thủy sản lớn nhất trong cả nước. Sản lượng thủy sản xuất
khẩu của vùng hàng năm chiếm khoảng 60 – 75% sản lượng thủy sản xuất khẩu
cả nước và kim ngạch xuất khẩu thủy sản khoảng 2,5 tỷ USD. Trong đó, sản
phẩm chủ lực của vùng là cá tra, basa và con tôm. Bên cạnh những thành công và
thuận lợi nhất định thì xuất khẩu thủy sản của ĐBSCL cũng gặp không ít khó
khăn và rủi ro. Hiện nay hoạt động xuất khẩu thủy sản của vùng phải đối mặt với
những thử thách như: thuế quan, các rào cản thương mại, các vụ kiện chống phá
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng số liệu thứ cấp, tìm kiếm trên
internet, sách báo chuyên ngành
Phương pháp phân tích số lệu:
Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương
pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu. Lập bảng phân phối tần số, trình bày
dữ liệu dạng bảng và biểu đồ.
Phân tích so sánh: So sánh các chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau nhưng có
liên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua
thời gian, hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một dôanh nghiệp hay
các nhà quản trị muốn đánh giá một vấn đề nào đó ở hai thị trường khác nhau.
Phân tích SWOT : Phân tích điểm mạnh/thuận lợi (Strengths), điểm
yếu/khó khăn (Weakness), cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) của một
vấn đề, một hiện tượng, một tác nhân, một tổ chức, một sản phẩm hay một ngành
hàng để có những chiến lược nhằm giúp cho sự phát triẻn và hạn chế rủi ro. Nội
dung phân tích SWOT:
S (Điểm mạnh): Điều kiện thuận lợi, nguồn lực thúc đẩy, góp phần phát
triển tốt hơn
W (Điểm yếu): Các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp, hạn
chế
O (Cơ hội): Những phương hướng cần được thực hiện nhằm tối ưu hóa sự
phát triển, các kết quả dự kiến sẽ đạt được, cơ hôi hợp tác, chính sách hỗ trợ
T (Nguy cơ/Thách thức): Những yếu tố có khả năng tạo ra những kết quả
xấu, những két quả khôg mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển.
Kết hợp các S, W, O, T để hình thành chiến lược SO, ST, WO, WT.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH THỦY SẢN
1.1 Đặc điểm của sản phẩm thủy sản
(1)Tổng sản lượng thường lớn, nhưng lại được sản xuất ở qui mô nhỏ và
đạt mức 117 trong tháng 9/2009 đã tăng mạnh, lên mức 127 vào tháng 9/2010,
con số này đã là 127 (cơ sở năm 2005 = 100). Theo dự báo trong những năm tới
giá thủy sản sản tiếp tục có xu hướng tăng.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản tương đối rộng lớn và không phụ
thuộc vào khả năng chi trả của người dân cao hay thấp. Người dân trên thế giới
tiêu thụ thủy sản chủ yếu phụ thuộc vào tập quán ẩm thực, vị trí địa lý (gần biển)
và ít có sự đột biến.
1.2.2 Sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác và đánh bắt
Với việc nhu cầu thủy sản tương đối ổn định nên sản lượng thủy sản nuôi
trồng, khai thác và đánh bắt ít biến động. Theo dự báo của FAO, năm 2010, tổng
sản lượng thuỷ sản toàn thế giới đạt khoảng 147 triệu tấn, tăng 1,3% so với năm
2009. Khu vực Châu Á là khu vực có nguồn cung sản lượng thủy sản nhiều nhất.
Châu Á cung cấp trên 60% lượng thủy sản hàng năm. Trong đó, Trung Quốc là
quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm 35% sản lượng thủy sản
toàn cầu và 69% sản lượng nuôi trồng thế giới năm 2009.
Sản lượng đánh bắt duy trì xu hướng giảm nhẹ khi giảm từ 90 triệu tấn
trong năm 2009 xuống còn 89,8 triệu tấn trong năm 2010 (tương đương mức
0,2%). Trong khi đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được dự báo sẽ tăng tới 3,8%
(tương đương tăng 1,9 triệu tấn), lên mức 57,2 triệu tấn trong năm 2010. Qua đó,
cho thấy cơ cấu nguồn cung chuyển dịch theo hướng tăng sản lượng thủy sản
nuôi trồng và có xu hướng giảm sản lượng thủy sản khai thác. Nguyên nhân do
sản lượng thủy sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Việc đánh bắt khai thác với số
lượng lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường cũng như nguồn lợi thủy sản về sau.
Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ nên việc nuôi trồng thủy sản
cũng có nhiều thuận lợi hơn, góp phần tăng sản lượng thủy sản và đáp ứng nhu
cầu thủy sản của con người.
1. 3 Tiềm năng và thế mạnh về thủy sản Việt Nam
1.3.1 Tiềm năng của thủy sản Việt Nam
Việt Nam là một nước có đường bờ biển dài. Có nhiều ngư trường rộng
Hiện nay thị trường xuất khẩu thủy sản của ĐBSCL cũng như cả nước đã
được mở rộng không ngừng. EU, Mỹ và Nhật Bản luôn là khách hàng chính của
thủy sản Việt Nam với tỷ trọng đóng góp rất ổn định cơ cấu xuất khẩu qua các
năm: EU ~ 27% - 30% sản lượng và 24% - 26% giá trị, Mỹ ~ 8% - 11% sản
lượng và 16% - 19% giá trị, Nhật ~ 10% - 12% về lượng và 18% giá trị.
Năm 2010 EU là thị thị trường có giá trị thủy sản xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam tỷ lệ 23,5% tổng giá trị. Tiếp theo là thị trường Mỹ chiếm 19,5% giá trị,
Nhật Bản 18%, Hàn Quốc 7,4%, Trung Quốc 4,8%, ASEAN 4,3% và các thị
trường khác chiếm tỷ lệ 23,6% tổng giá trị.
Thị trường xuất khẩu cá tra, basa tiếp tục được mở rộng. EU là thị trường
xuất khẩu cá tra, basa hàng đầu của Việt Nam trong năm 2010. Hiện nay, thị
trường EU chiếm 33,8% khối lượng cá tra, basa xuất khẩu, 36,2% giá trị. Tiếp
theo là thị trường Mỹ chiếm 8,1% khối lượng, 11,8% giá trị.
Thị trường xuất khẩu tôm: Nhật Bản vươn lên trở thành thị trường xuất
khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam trong năm 2010 chiếm 26,2% khối lượng,
27,8% giá trị. Đứng thứ hai là thị trường Mỹ, chiếm 21,9% khối lượng, 26,9%
giá trị. Tiếp theo là thị trường EU chiếm 19,1% khối lượng, 16,1% giá trị.
2.2 Sản lượng thủy sản ở ĐBSCL
Bảng 1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ THỦY SẢN Ở ĐBSCL
Chỉ tiêu Đơn
vị
2008 2009 2010
(ước đạt)
Tổng diện tích nuôi
trồng
1000
ha
752,88 738,34 800
Tổng sản lượng thủy sản Tấn 2701927,4 2804168,78 2974008
Số lượng tàu thuyền
trọng nuôi trồng chiếm 68,05% cao hơn so với năm 2007 là 63,99%. Nhưng sang
năm 2009 do gặp nhiều bất lợi về môi trường và thị trường xuất khẩu nên tỷ
trọng nuôi trồng giảm xuống còn 66,67%. Tuy giảm nhưng tỷ trọng nuôi trồng
trong năm 2009 vãn cao gấp 2 lần tỷ trọng khai thác. Trong năm 2010, sản lượng
thủy sản khai thác giảm tỷ trọng xuống còn 24,25%, tỷ trọng sản lượng thủy sản
nuôi trồng tăng lên thành 75,75%. Theo định hướng chung cho toàn vùng là giảm
tỷ trọng khai thác và tăng tỷ trọng nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản. Vì
vậy, tỷ trọng khai thác sẽ giảm dần trong thời gian tới.
Bảng 2: SẢN LƯỢNG THỦY SẢN THEO TỈNH Ở ĐBSCL
(Đơn vị: tấn)
TT Tỉnh
Năm
2008 2009 Sơ bộ 2010
1 Long An 39516 40241 41573
2 Tiền Giang 173106 189101 200910
3 Bến Tre 238407 233672 285265
4 Trà Vinh 146578 141623 153053
5 Vĩnh Long 108378 121628 142856
6 Đồng Tháp 297794 310907 345578
7 An Giang 356097 338366 316982
8 Kiên Giang 428485 467825 459310
9 Cần Thơ 187864 197877 178296
10 Hậu Giang 41862 43910 47478
11 Sóc Trăng 169500 178720 141943
12 Bạc Liêu 205151 221700 241062
13 Cà Mau 205151 221700 241062
Toàn vùng 2701927 2819990 2934416
Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Do điều kiện tự nhiên của từng tỉnh cũng như định hướng phát triển kinh
tế trong tương lai nên tổng sản lượng thủy sản ở các tỉnh có sự chênh lệch. Trong
lượng cá thu hoach đạt 1,1 triệu tấn. Bên cạnh cá tra thì tôm cũng phát triển,
trong năm năm từ 2005-2010, vùng phát triển diện tích nuôi tôm nước lợ từ
568130 ha tăng lên 639115 ha. Cà Mau là tỉnh có diện tích nuôi tôm sú lớn nhất
255000 ha chiếm 39,9% cả nước. Sóc trăng là địa phương dẫn đầu cả nước về
mô hình nuôi tôm công nghiệp.
2.3 Sản lượng thủy sản xuất khẩu ở ĐBSCL
Bảng 4: SẢN LƯỢNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở ĐBSCL
Chỉ tiêu Năm
2007 2008 2009 2010
Sản lượng (1000 tấn) 472,4 771,8 - 950
Tốc độ tăng (%) 100 163,38 - 123,09
Sản lượng tăng (1000 tấn) 299,4 - 178,2
Nguồn: Tổng hợp Vụ Kế hoạch - Bộ NN & PTNT
Năm 2007, ĐBSCL xuất khẩu 472,4 nghìn tấn thủy sản. Trong đó, sản
lượng tôm xuất khẩu của vùng đạt 123,7 nghìn tấn chiếm tỷ lệ 26,19% tổng sản
lượng thủy sản xuất khẩu toàn vùng. Sản lượng xuất khẩu của các loài thủy sản
khác là 348,7 nghìn tấn chiếm tỷ lệ 73,81% tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu
vùng.
Năm 2008, toàn vùng xuất khẩu 771,8 nghìn tấn thủy sản. Sản lượng tôm
xuất khẩu đạt 139,9 nghìn tấn chiếm tỷ lệ 18,13% tổng sản lượng thủy sản xuất
khẩu toàn vùng. Tuy sản lượng tôm xuất khẩu tăng 16,2 nghìn tấn, tăng 13,1% so
với năm 2007 nhưng tỷ lệ trong tổng số sản lượng thủy sản xuất khẩu lại giảm
xuống còn 18,13% là do sản lượng xuất khẩu thủy sản khác của vùng có tốc độ
tăng khá nhanh. Sản lượng thủy sản xuất khẩu khác đạt 631,9 nghìn tấn tăng
283,2 nghìn tấn so với năm 2007, tăng 81,22% so với năm 2007. Nguyên nhân
do trong năm 2008 mặt hàng cá tra, basa của vùng đã phát triển mạnh và tiến xa
ra thị trường thế giới.
Năm 2010 tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu toàn vùng đạt 950 nghìn tấn
tăng 178,2 nghìn tấn, tỷ lệ tăng 23,09% so với năm 2008. Sản lượng thủy sản của
vùng tăng nhiều trong năm chủ yếu là do tăng sản lượng cá tra, basa xuất khẩu.
Nguồn: Tổng hợp BỘ CÔNG THƯƠNG, VASEP, BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
Năm 2009, đánh dấu một năm không thành công của thủy sản Việt Nam,
cũng như ở ĐBSCL. Trong năm 2008 nhiều hộ nuôi cá tra, basa và tôm của vùng
bị thua lổ do chi phí sản xuất tăng trong khi giá giảm dẫn đến thiếu vốn tái sản
xuất. Toàn vùng ĐBSCL có 40%- 50% diện tích ao nuôi cá tra bị bỏ trống và
40% số hộ nuôi tôm bỏ trống ao. Chính điều đó đã tác động đến sản lượng và
kim ngạch xuất khẩu của vùng. Kim ngạch xuất khẩu của vùng giảm xuống còn
2,15 tỷ USD giảm 0,35 tỷ USD so với năm 2008, tỷ lệ giảm 14%.
Chỉ tiêu Năm
2008 2009 2010
Kim ngạch (Tỷ USD) 2,5 2,15 2,5
Tốc độ tăng (%) 100 86,00 116,28
Kim ngạch tăng (Tỷ USD) -0,15 0,15
Năm 2010, ngành thủy sản vùng có bước phát triển mạnh góp phần nâng
tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 4,95 tỷ USD. Kim ngạch xuất
khẩu của vùng đạt 2,5 tỷ USD tăng 350 triệu USD so với năm 2009 và tỷ lệ tăng
16,28%.
2.5 Doanh nghiệp thủy sản ở ĐBSCL
2.5.1 Số lượng các doanh nghiệp
Năm 2003, ĐBSCL chỉ có 83 nhà máy, tổng công suất thiết kế là 444464
tấn/năm nhưng chế biến thực tế chỉ 222569 tấn, đạt 50,1% công suất thiết kế. Từ
năm 2004 đến năm 2009, số nhà máy tăng dần, từ 96 lên 193 nhà máy, tổng công
suất thiết kế từ 496435 tấn/năm tăng lên 1,2 triệu tấn/năm. Nhưng suốt thời gian
trên, do thiếu nguyên liệu trầm trọng nên mỗi năm tổng công suất chế biến thực
tế của các nhà máy chỉ đạt từ 51,7% – 58,6% tổng công suất thiết kế.
Hoạt động xuất khẩu thủy sản phát triển không ngừng trong thời gian qua
ở ĐBSCL đã kéo theo sự phát triển và mở rộng số lượng các doanh nghiệp chế
biến và xuất khẩu thủy sản của vùng. Hiện nay ở ĐBSCL có 242 doanh nghiệp
thủy sản. Trong đó, số lượng doanh nghiệp thủy sản tập trung nhiều nhất là ở các
tỉnh Cà Mau, TP.Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang và
bằng tiến xa hơn trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp đã có sự liên kết với
nhau thông qua Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản VASEP. Ngoài ra,
doanh nghiệp cũng tham gia đăng ký quản lý chất lượng thủy sản tại NAFIQAD.
Hiện nay số lượng các doanh nghiệp ở ĐBSCL được phép xuất khẩu sang các thị
trường EU, Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga và Braxin dần ổn định.
BẢNG 7: SỐ DOANH NGHIỆP Ở CÁC TỈNH ĐBSCL ĐƯỢC PHÉP
XUÁT KHẨU SANG MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG
TT Tỉnh EU
Hàn
Quốc
Trung
Quốc
Liên Bang
Nga Braxin
1 Long An 8 10 10 0 0
2 Bến Tre 6 7 7 2 0
3 Tiền Giang 19 24 24 2 9
4 Sóc Trăng 16 17 17 0 0
5 Cà Mau 30 35 35 1 0
6 Bạc Liêu 13 21 21 1 0
7 Đồng Tháp 19 22 22 2 12
8 Cần Thơ 30 33 33 3 22
9 Hậu Giang 5 5 5 0 2
10 Vĩnh Long 2 4 4 1 0
11 Trà Vinh 5 8 8 0 2
12 An Giang 17 21 21 2 13
13 Kiên Giang 20 27 27 4 7
Tổng 190 234 234 18 67
Nguồn: NAFIQAD
Theo đó, số lượng doanh nghiệp của ĐBSCL có thể xuất sang thị trường
- Giá thành sản phẩm thấp so với
thế giới
- Có nhiều doanh nghiệp thủy sản
WEAKNESS: ĐIỂM YẾU
- Sản phẩm chủ yếu là sơ chế
- Quy mô doanh nghiệp nhỏ
- Chưa chủ động được nguồn nguyên liệu
- Sự liên kết giữa người nuôi và doanh
nghiệp chưa tốt
- Chất lượng sản phẩm chưa đồng nhất
- Thiếu kinh nghiệm về thương mại quốc tế
OPPORTUNITIES:CƠ HỘI
- Nhu cầu thủy sản thế giới ổn
định
THREATS: THÁCH THỨC
- Yêu cầu của thị trường về chất lượng sản
phẩm ngày càng cao
- Gia nhập WTO, ASEAN, APEC.
- Thị trường ngày càng mở rộng
- Hổ trợ của chính phủ trong tương
lai
- Cạnh tranh không lành mạnh
- Ô nhiễm môi trường
- Các tiêu chuẩn quốc tế
- Rào cản thuế quan
- Các vụ kiện chống phá giá
- Thương hiệu
ĐIỂM MẠNH:
-Đồng Bằng Sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên thuận lợi với hệ thống
sông ngòi dày đặc, có 8/13 tỉnh giáp biển và nằm ở hạ nguồn hệ thống sông
nghiệp. Vì vậy việc các nhà máy thường thiếu nguyên liệu, giá cả biến động khó
kiểm soát thường xuyên xảy ra.
- Các danh nghiệp xuất khẩu thủy sản của vùng còn thiếu kinh nghiệm về
thương mại quốc tế. Các doanh nghiệp luôn gặp khó trong các vụ kiện cũng như
tranh chấp quốc tế. Vì chưa có đủ kiến thức về thương mại quốc tế nên khi xảy ra
tranh chấp chúng ta thường thua thiệt.
CƠ HỘI:
- Trong tương lai nhu cầu thủy sản của thị trường thế giới là ổn định.
Chính điều đó là cơ hội lớn cho hoạt dộng xuất khẩu thủy sản của vùng ĐBSCL
tiếp tục phát triển và tăng trưởng.
-Việt Nam đã là thành viên của WTO, ASEAN, APEC. Đây là cơ hội cho
các doanh nghiệp thủy sản đẩy mạnh xuất khẩu ra toàn thế giới. Là thành viên
của những tổ chức này mặt hàng thủy sản sẽ có nhiều thuận lợi khi xuất khẩu vào
thị trường các nước.
- Trong tương lai mặt hàng thủy sản của vùng ĐBSCL sẽ tiếp tục vươn xa
ra những thị trường tiềm năng mà chúng ta chưa khai thác. Hiện nay, sản phẩm
của vùng đã đáp ứng được một số tiêu chuẩn của những thị trường khó tính như
Mỹ, EU, Nhật, Nga … Đó là cơ sở để chúng ta tiếp cận với những thị trường
tiềm năng khác.
- Chính Phủ đã có đề ra chiến lược phát triển thủy sản cho vùng đến năm
2020. Qua đó, Chính Phủ sẽ có hỗ trợ tích cực cho hoạt động của ngành thủy sản
ở ĐBSCL. Đây là cơ hội lớn để thủy sản của vùng vươn xa.
THÁCH THỨC:
- Thách thức lớn nhất đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản của vùng là
yêu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Trong tương lai
nhu cầu về an toàn và chất lượng là hai yếu tố quyết định đến hoạt động xuất
khẩu. Sản phẩm thủy sản không những phải nâng cao chất lượng mà giá cả còn
phải cạnh tranh và có nhiều ưu thế thì mới có thể phát triển.
- Cạnh tranh không lành mạnh cũng là một thách thức không nhỏ đối với
thủy sản Việt Nam. Các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Thái Lan được
sản đặc thù, bản địa của đồng bằng sông Cửu Long.
Phát triển thủy sản theo hướng bền vững, tăng cường hoạt động nghiên cứu thủy
sản, thay đổi phương thức đánh bắt thủy sản từ ven bờ sang xa bờ, đẩy mạnh phát
triển hai loài chủ lực là tôm và cá tra, nâng cấp và phát triển hệ thống hậu cần
nghề cá, cơ sở đóng tàu.
3.1.2 Từ thực trạng xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL
Từ thực trạng xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL cho thấy tuy vùng đã đạt được
những thành tựu nhất định nhưng ngành xuất khẩu thủy sản vẫn còn nhiều vướng
mắt và khó khăn. ĐBSCL có tiềm năng và lợi thế khá lớn về thủy sản nhưng
vùng vẫn chưa khai thác hết những lợi thế của mình. Thị trường xuất khẩu vẫn
còn nhiều rủi ro, rào cản và gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Từ đó,
người nuôi cũng gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Chính vì vậy
cần có những giải pháp để hướng đến việc phát triển mạnh hơn hoạt động xuất
khẩu thủy sản ở ĐBSCL.
3.2 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL
3.2.1 Giải pháp từ sản phẩm (Product)
Đối với sản phẩm thủy sản ĐBSCL, cần tạo uy tín sản phẩm trên thị
trường quốc tế thông qua việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, quan
tâm đến bao bì, nhãn hiệu hàng hóa, chú trọng kiểu dáng, sử dụng hệ thống tiêu
chuẩn hóa và kiểm tra chất lượng. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của sản
phẩm thủy sản cần thực hện chiến lược hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng
sản phẩm:
-Tập trung cải tiến để sản phẩm có thêm tính năng, công dụng mới.
-Nâng cao hiệu suất, công suất của công dụng hiện có.
-Khai thác các thuộc tính khác của sản phẩm để làm thỏa mãn người tiêu
dùng.
-Nâng cao chất lượng sản phẩm trong mối quan hệ với mức giá thích hợp
trên thị trường.
3.2.2 Giải pháp từ giá cả (Price)
Các doanh nghiệp thủy sản ở ĐBSCL cần có chiến lược giá linh hoạt phù
hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm hiểu và thâm nhập vào những thị trường
mới, tiềm năng. Song song đó doanh nghiệp cần kết hợp với Nhà nước và cơ
quan chức năng tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế về giống, nuôi trồng, chế
biến thuỷ sản nhiệt đới, tìm kiếm các cơ hội để thu hút các doanh nghiệp đầu tư
vào nuôi trồng, chế biến thuỷ sản. Phối hợp linh hoạt và hiệu quả cả bốn nội
dung chiêu thị cơ bản: Quảng cáo, khuyến mãi, chào hàng cá nhân, tuyên
truyền/quan hệ công chúng.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Xuất khẩu thủy sản là ngành có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế của vùng ĐBSCL. Tiềm năng và lợi thế về thủy sản của vùng là vô cùng lớn.
Đây là vùng đứng đầu cả nước về sản lượng thủy sản cũng như kim ngạch xuất
khẩu thủy sản . Sản lượng khai thác và nuôi trồng hàng năm đều tăng và chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Sản lượng thủy sản xuất
khẩu của vùng năm 2010 đạt 650 nghìn tấn, đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn
trên 2,5 tỷ USD cho đất nước. Xuất khẩu thủy sản góp phần giải quyết vấn đề lao
động và việc làm cho vùng, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà Nhà nước đã
đề ra.
Thị trường xuất khẩu của vùng đã được mở rộng đi nhiều nước. Trong đó
những thị trường lớn là EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN.
Thủy sản của vùng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên thị trường thế giới do yêu
cầu về chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế, rào cản thương mại, chính sách bảo hộ
Qua đó, các doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến sản lượng cũng như kim
ngạch thủy sản của vùng.
Toàn vùng hiện nay có 242 doanh nghiệp thủy sản. Các doanh nghiệp đã
dần tiến hành đổi mới công nghệ, tự chủ nguyên liêu và nâng cao chất lượng sản
phẩm. Do phát triển quá nhanh nên các doanh nghiệp thường xuyên lâm vào tình
trạng thiếu nguyên liệu, hoạt động dưới công suất thiết kế. Các doanh nghiệp
chưa liên kết chặt chẽ với nhau, làm cho việc tranh giành nguyên liệu vẫn xảy ra,
đẩy giá nguyên liệu lên cao và khó kiểm soát. Bên cạnh những doanh nghiệp