1
LUẬN VĂN:
Phát triển nông nghiệp hàng hóa
ở đồng bằng sông Cửu Long -
Thực trạng và giải pháp 2
Mở đầu
3
- Phát triển kinh tế hàng hóa ở tỉnh Ninh Thuận: Thực trạng và giải pháp - Luận
án thạc sĩ khoa học kinh tế, của Nguyễn Bá Ninh, Hà Nội 2000.
- Chính sách thị trường với phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chu Hữu Quý
và Nguyễn Kế Tuấn, Tạp chí cộng sản, (20) 10/1998.
- Đẩy mạnh phát triển một số hàng nông sản xuất khẩu có sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế của Lê Huy Ngọ, Tạp chí Kinh tế nông nghiệp, số 2/1998.
Và nhiều tác phẩm liên quan khác.
Nhưng những công trình này chỉ mới đề cập đến những định hướng và một số chủ
trương lớn hoặc cụ thể để phát triển kinh tế hàng hóa nói chung, nông nghiệp hàng hóa nói
riêng chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống việc phát triển nông nghiệp hàng
hóa ở ĐBSCL. Như vậy trên thực tế chưa có công trình nào trùng với tên đề tài nghiên cứu
luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích: Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và phương
hướng, giải pháp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa góp phần phát triển kinh tế -
xã hội ĐBSCL nói riêng, cả nước nói chung.
b) Nhiệm vụ:
- Làm rõ sự cần thiết và vai trò việc phát triển nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL.
- Phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL,
đồng thời xác định rõ những nguyên nhân của thực trạng.
- Trình bày những phương hướng và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế chính trị,
chú ý vận dụng tổng hợp các phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, tổng kết thực tiễn.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
vào giá trị sử dụng mang tính tự cung tự cấp.
Trong nền kinh tế tự nhiên, con người dựa chủ yếu vào tự nhiên và khai thác tự
nhiên, do đó có thể nói rằng trong nền kinh tế này, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của
người lao động và nông nghiệp là ngành sản xuất chính, kỹ thuật, công cụ lao động, phương
thức canh tác lạc hậu và thô sơ.
Xã hội loài người "chìm đắm" trong nền kinh tế tự nhiên hàng nghìn năm rồi mới
phát triển lên kinh tế hàng hóa.
Kinh tế hàng hóa là loại hình tổ chức kinh tế - xã hội cao hơn kinh tế tự nhiên.
Phân công xã hội là cơ sở chung của mọi nền kinh tế hàng hóa. Song, chỉ riêng phân công
xã hội thì chưa đủ điều kiện cho sự xuất hiện kinh tế hàng hóa. Tính tách biệt tương đối về 6
mặt kinh tế của những người sản xuất là điều kiện thứ hai, cần và đủ cho sự ra đời kinh tế
hàng hóa.
Như vậy, rõ ràng là cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của sự
phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất và tính độc lập tương đối về kinh
tế của các chủ thể sản xuất, xã hội loài người bước vào giai đoạn phát triển kinh tế mới,
cao hơn - kinh tế hàng hóa.
Có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế hàng hóa do cách tiếp cận và khái quát
không giống nhau. Tham khảo và kế thừa các quan niệm của các tác giả đi trước về phạm
trù kinh tế hàng hóa, chúng tôi cho rằng nói đến kinh tế hàng hóa thì phải biểu đạt được
các đặc trưng bản chất của nó, như: kinh tế hàng hóa là nền kinh tế sản xuất ra hàng hóa và
dịch vụ để trao đổi, mua bán trên thị trường, tức là sản xuất theo nhu cầu của xã hội thể
hiện trên thị trường; là một hình thức tổ chức kinh tế - xã hội trong đó các mối quan hệ
kinh tế cơ bản được thể hiện thông qua quan hệ mua bán trên thị trường; chi phối các mối
quan hệ kinh tế cơ bản ấy là các quy luật của kinh tế hàng hóa: quy luật giá trị, quan hệ
cung - cầu, quan hệ cạnh tranh Kinh tế hàng hóa có nhiều ưu thế, như: thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển, mở rộng phân công lao động xã hội, thúc đẩy tăng năng suất lao
động xã hội; là hình thức thể hiện và thực hiện xã hội hóa lao động và sản xuất; kích thích
bước tiến bộ của lịch sử, một nấc thang phát triển của nền văn minh nhân loại.
1.1.2. Nội dung phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
1.1.2.1. Xây dựng cơ cấu sản phẩm, kinh tế nông nghiệp hàng hóa hợp lý
Nông nghiệp hàng hóa hiểu theo nghĩa rộng sản phẩm của nó đa dạng bao gồm sản
phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Mỗi ngành lại chia thành
những phân ngành nhỏ hơn, chẳng hạn như ngành nông nghiệp phân thành ngành trồng
trọt, chăn nuôi. Đến lượt ngành trồng trọt lại chia thành cây lương thực, cây rau đậu ngắn
ngày, cây công nghiệp, cây ăn quả Đi liền với sự phân công lao động sâu sắc là sự phân
ngành càng chi tiết, đa dạng hơn. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không
những đã coi phân công lao động là một trong hai
điều kiện ra đời và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa nói chung và nông nghiệp hàng hóa nói
riêng, mà còn đặt nó trong mối quan hệ với cách 8
mạng kỹ thuật, với quy mô trao đổi, với quy mô thị trường. Không phải ngẫu nhiên mà
C.Mác và V.I.Lênin đã nói về quan hệ giữa phân công lao động xã hội với khái niệm thị
trường nói chung và thị trường nông thôn
nói riêng: "Thị trường của những hàng hóa đó phát triển nhờ sự phân công lao động" [34].
Xét thuần túy về mặt kỹ thuật của lao động thì phân công lao động là sự chuyên
môn hóa lao động trong quá trình tái sản xuất xã hội. Phân công lao động xã hội là kết quả
của sự phát triển lực lượng sản xuất và của việc ứng dụng những tiến bộ khoa học công
nghệ vào sản xuất và thị trường là hệ quả tất yếu của phân công lao động xã hội ngày càng
trở nên sâu sắc. Phân công lao động xã hội càng phát triển, tiến bộ khoa học công nghệ
càng được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất, thì quy mô dung lượng của thị trường theo đó
cũng được mở rộng. Hay nói một cách khác tổng quát, quy mô, dung lượng của thị trường
do tác động của nền kinh tế quyết định.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ nói chung và
chuyên môn hóa lao động nói riêng, làm cho năng suất lao động xã hội ngày càng tăng, số
lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao, chủng loại ngày càng
phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có những quan hệ sản xuất, thành phần kinh
tế cũng như hình thức tổ chức kinh tế tương ứng.
Mặc dù mỗi thành phần kinh tế có bản chất, lợi ích và đặc trưng riêng. Song chúng
không biệt lập với nhau, mà ngược lại có mối quan hệ tác động với nhau, vì chúng cùng
tham gia vào hệ thống phân công xã hội, chúng vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau để
cùng tồn tại và phát triển.
Nhận thức đúng đắn sự tồn tại khách quan, tính đa dạng về hình thức sở hữu và
thành phần kinh tế là cơ sở để đa dạng hóa các hình thức tổ chức nông nghiệp hàng hóa.
1.1.2.2. Nâng cao tỷ suất và chất lượng nông sản hàng hóa
Thực chất của việc phát triển kinh tế hàng hóa nói chung, nông nghiệp hàng hóa
nói riêng là tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều về số lượng, phong phú đa dạng về
chủng loại và chất lượng hàng hóa tốt, giá cả được người tiêu dùng chấp nhận.
Hiểu theo nghĩa đơn giản, tỷ suất hàng hóa là tỷ lệ phần trăm số lượng sản phẩm của
một ngành được đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường. 10
Tỷ suất hàng hóa nông nghiệp hàng hóa thấp hơn trong kinh tế công nghiệp thành
thị. Vì đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp, về mặt tự nhiên có thể tiêu dùng trực tiếp và
thiết yếu nên nó được giữ lại một phần cho tiêu dùng của người sản xuất, ở đây có tính
chất hàng hóa, có tính tự cấp tự túc hòa trộn với nhau. Tất nhiên nông nghiệp hàng hóa
nông thôn càng phát triển thì tính thứ nhất (hàng hóa) càng tăng lên. Lênin viết: "Ngay bản
thân quá trình hình thành nền nông nghiệp thương phẩm đã diễn ra không hoàn toàn giống
như trong nền công nghiệp nhà máy, trong nền công nghiệp quá trình ấy diễn ra dưới hình
thức giản đơn và theo đường thẳng, còn trong nông nghiệp chúng ta thấy khác hẳn; ở đây
hiện tượng chủ yếu là sự hỗn hợp giữa nông nghiệp có tính chất thương nghiệp với nông
nghiệp không có tính chất thương nghiệp, ở đây những hình thức khác nhau đã được kết
hợp lại. ở từng địa phương, chủ yếu mang ra thị trường là một thứ sản phẩm nào đó. Một
mặt, nền sản xuất của địa chủ mà đặc biệt là của nông dân là nền sản xuất hàng hóa, mặt
khác nền sản xuất đó còn giữ tính chất tiêu dùng" [33].
nước, hợp tác xã, công ty tư nhân, nông trại gia đình Các hình thức tổ chức kinh tế này ra
đời và phát triển tùy thuộc vào tính chất của mỗi ngành và do yêu cầu sản xuất.
Trong nông nghiệp hàng hóa thì hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản và là tế bào
của xã hội. Hộ nông dân đóng vai trò quyết định trong việc phát triển sản xuất và mở rộng
thị trường. Phát triển hộ nông dân theo xu hướng sản xuất hàng hóa và ngày càng có nhiều
hộ sản xuất kinh doanh giỏi trở thành trang trại là một tất yếu khách quan trong quá trình
phát triển nông nghiệp hàng hóa.
1.1.2.5. Phát triển nông nghiệp hàng hóa tạo nên sự biến đổi đời sống kinh tế -
xã hội nông thôn
Ngày nay, khái niệm phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp hàng hóa
nói riêng, chứa đựng một ý niệm về sự tiến bộ kinh tế - xã hội, về sự tăng thu nhập và cải
thiện đời sống nông dân, và tăng cả phúc lợi kinh tế, phúc lợi xã hội của cộng đồng dân cư
nông thôn. Đồng thời, phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp hàng hóa còn có ý nghĩa là
sự gia tăng sản lượng của nền nông nghiệp
Theo ý tưởng trên, thì việc phát triển nông nghiệp hàng hóa còn bao hàm các vấn
đề: 12
- Đưa tiến bộ kinh tế - xã hội về cho nông dân và nông dân sản xuất hàng hóa
được hưởng những tiến bộ kinh tế - xã hội tạo ra trong quá trình phát triển nền nông
nghiệp hàng hóa.
- Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nông dân.
- Giảm khoảng cách giàu nghèo trong nông dân.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần cho nông dân.
- Xây dựng nông thôn ngày càng phát triển theo con đường tiến bộ, văn minh.
1.2. Vai trò của nông nghiệp hàng hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội ở
đồng bằng sông cửu long
Kinh tế nông nghiệp ở nông thôn là khu vực sản xuất vật chất duy nhất cung ứng
cho xã hội những sản phẩm lương thực, thực phẩm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nuôi
công nghiệp chế biến.
Cả sản xuất lương thực, chăn nuôi và cây công nghiệp phát triển làm cho nông sản
hàng hóa nói chung và việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp tăng lên, thúc đẩy công
nghiệp phát triển. Và khi nông nghiệp hàng hóa phát triển đến một mức nào đó nhất là sản
xuất lương thực, năng suất lao động tăng lên thì sẽ rút bớt được lao động trồng cây lương
thực để phát triển ngành nghề trong nông thôn và cung cấp lao động cho công nghiệp và
các ngành dịch vụ.
Nếu không có nguồn lao động từ nông thôn thì công nghiệp và dịch vụ không thể
phát triển được, nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay nông thôn ở khu vực ĐBSCL
chiếm hơn 75% lực lượng lao động xã hội. Hồ Chủ tịch đã nói: "Muốn phát triển công
nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm
chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp, vì
nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của
công nghiệp làm ra" [38, 180]. Tất nhiên, khi nói đến lao động ở nông thôn cung cấp sức
lao động cho công nghiệp điều đó là đúng, song không nhất thiết phải chuyển lao động từ
nông thôn lên thành thị, nếu như công nghiệp chế biến và các ngành dịch vụ khác được
phân bổ ở nông thôn gắn với nông nghiệp theo hướng "ly nông bất ly hương". ở ĐBSCL
hiện nay, tỷ trọng hộ nông nghiệp khoảng 70%, hộ phi nông nghiệp 30%. 14
Một điều kiện nữa để phát triển công nghiệp là vấn đề thị trường nông nghiệp,
nông thôn. Công nghiệp càng phát triển thì nhu cầu thị trường càng phải được mở rộng, cả
thị trường tư liệu sản xuất lẫn thị trường tư liệu tiêu dùng. Trong quá trình phát triển, công
nghiệp sẽ tự tạo ra thị trường cho mình nhưng nó cũng phụ thuộc vào sự phát triển của các
ngành kinh tế khác, trong đó có nông nghiệp nông thôn. Trong điều kiện nước ta hiện nay
nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng, nền kinh tế còn chậm phát triển, nông thôn chiếm
trên 80% dân số cả nước thì đây chính là thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm của
công nghiệp. Nhưng nông nghiệp, nông thôn chỉ trở thành thị trường rộng lớn cho công
nghiệp thật sự khi dân cư ở đây có mức thu nhập bằng tiền tương đối ổn định, tức sức mua
181,65đ 221,96đ 242,96đ [30, 33].
- Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân trong vùng dần dần được cải thiện
và nâng cao. Đặc biệt là việc nâng cao chất lượng cuộc sống đang được các cấp chính
quyền quan tâm: như xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch, phong trào xóa bỏ "cầu khỉ",
xây dựng các tụ điểm văn hóa
Cùng với sự cải thiện đời sống vật chất, đời sống tinh thần dân cư nông thôn cũng
thay đổi. Sản xuất hàng hóa vừa đòi hỏi vừa tạo điều kiện nâng cao trình độ mọi mặt của
người nông dân, làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm, phong tục, tập quán canh tác cũ kỹ, lạc
hậu đã từng ăn sâu từ đời này sang đời khác. Nông nghiệp hàng hóa với môi trường cạnh
tranh khơi dậy tính năng động sáng tạo của người nông dân, hướng hoạt động sản xuất
kinh doanh của họ vào thị trường, thích ứng với sự biến động của cơ chế thị trường. Nông
nghiệp hàng hóa còn góp phần xóa bỏ tình trạng chia cắt khép kín trong từng địa phương,
từng đơn vị, hình thành và phát triển các mối quan hệ hợp tác và phân công giữa các vùng,
thúc đẩy việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa thành thị và nông thôn ngày càng phát triển
theo con đường văn minh tiến bộ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong tư duy của Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế cũng như đối với việc nâng cao đời sống của nhân dân Việt Nam.
Trong thư gửi các điền chủ gia Việt Nam ngay sau ngày đất nước giành được độc lập
(1946) Người viết: "Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy
canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông 16
dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông
nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh" [49].
Tuy vậy, sự phát triển nông nghiệp hàng hóa cũng làm nảy sinh những vấn đề kinh
tế - xã hội bức bách cần giải quyết, như:
* Sự phân hóa giàu nghèo, sự khác nhau về mức thu nhập và mức sống giữa các hộ
nông dân. "Chênh lệch thu nhập của nhóm cao nhất so với nhóm thấp nhất ở ĐBSCL: năm
1994 là: 6,1 lần; năm 1996 là: 6,4 lần [29, 44].
Kông, Singapor, Nhật Bản Nhờ vậy, nó đã kích thích sản xuất nông nghiệp hàng hóa
phát triển.
- Địa hình đất đai:
So với đồng bằng sông Hồng, ĐBSCL về cơ bản tương đối bằng phẳng, rộng, thổ
nhưỡng tốt. Có 3 loại đất chính: Đất phù sa khoáng 1.200.000 ha, có độ phì nhiêu rất cao,
nằm trải dọc theo sông và các nhánh sông, rất thích hợp cho nhiều loại cây trồng; Đất
nhiễm phèn các loại khoảng 1.600.000 ha, được phân bổ ở những vùng đất trũng xa sông,
đang ngày càng được ngọt hóa và được phù sa tự nhiên bồi đắp hàng năm, thích hợp cho
trồng lúa; Đất nhiễm mặn khoảng 750.000 ha nằm ở rìa ven biển, trong đó có 150.000 ha
nhiễm mặn thường xuyên và 600.000 ha nhiễm mặn định kỳ vào mùa khô. Loại đất này
trồng lúa 1 vụ vào mùa mưa, nuôi 1 vụ tôm nước lợ vào mùa khô và thích hợp cho cây
dừa, xoài, chuối, mía khi được cải tạo. Ngoài ba loại đất chính trên, ĐBSCL còn có
khoảng 350.000 ha đất than bùn, rừng tràm, rừng ngập mặn, đất trên phù sa cổ, đất đồi núi,
đất dòng cát thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày như cây điều, cây tiêu và cây
lạc
Nhìn chung, cấu trúc địa hình đất đai ở ĐBSCL có đặc trưng là những sống đất
ven sông và đất vùng duyên hải cao ráo, với mạng lưới kênh rạch dày đặc kết nối với
thượng nguồn sông Mêkông thông ra biển tạo thành vùng kinh tế hỗn hợp nông - lâm -
ngư nghiệp rất hiếm có. Từ đặc điểm đất đai như vậy, cùng một vùng châu thổ nhưng đất
đai có nhiều loại khác nhau, được phù sa bồi đắp hàng năm, thích hợp cho nhiều loại cây 18
trồng. Song muốn cho sản xuất nông nghiệp phát triển có hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi việc bố
trí cây trồng thích hợp với điều kiện đất đai ở từng tiểu vùng.
- Thời tiết khí hậu:
Do ảnh hưởng của chế độ gió mùa khiến cho thời tiết ở ĐBSCL chia thành hai
mùa rõ rệt. Mùa mưa với gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng (khô) từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trong mùa thường chiếm trên 80% tổng lượng
mưa cả năm. ĐBSCL là vùng ít chịu tác động của bão, tần suất thiên tai khác thấp so với
lục 2). Trong đó 13,3 triệu người (chiếm 82%) ở nông thôn, 2,75 triệu người (chiếm 18%)
ở thành thị. Dân số trong độ tuổi lao động trung bình một hộ nông dân ở ĐBSCL có 5,1
nhân khẩu, cao hơn mức bình quân chung của cả nước 0,5 nhân khẩu/hộ.
ở ĐBSCL dân cư phân bố không đều; sự chênh lệch giữa các tỉnh khá rõ nét. Hiện
nay, mật độ dân số bình quân của vùng là 410 người/km
2
, trong khi đó ở phía Đông thì dân
số tập trung khá đông, Tiền Giang 692 người/km
2
, Vĩnh Long 687 người/km
2
, ở phía Tây
dân số lại thưa hơn Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang dưới 240 người/km
2
. Chính sự phân
bố không đều về dân cư gây ra hiện tượng thừa, thiếu lao động giữa các địa phương trong
vùng. So với năm 1989, cơ cấu lao động ở ĐBSCL chuyển dịch không đáng kể, tỷ trọng
lao động trong ngành nông, lâm và công nghiệp giảm nhẹ, lao động ngành dịch vụ tăng
chậm.
- Cơ cấu kinh tế ở ĐBSCL có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 1999, cơ cấu kinh tế vùng (theo giá trị sản
xuất, giá thực tế) nông nghiệp chiếm 67,24% GDP, công nghiệp 11,72% GDP, dịch vụ
21,01% GDP, điều này nói lên cơ cấu kinh tế vùng này tuy có chuyển biến nhưng vẫn
phản ánh hiện trạng kinh tế với nông nghiệp là cơ bản, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ
trọng nhỏ, xu hướng tăng chậm. Nhiều vùng nông thôn sản xuất còn mang nặng tính thuần
nông, kinh tế tự cấp, tự túc còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế. Sản xuất ở nông
thôn phân tán theo quy mô hộ gia đình, với lao động thủ công là phổ biến. Do vậy phần
lớn dân cư và lao động vẫn tập trung ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, giờ lao động
trong ngày thấp, còn mang nặng tính mùa vụ. Lao động thừa ở nông thôn tràn ra thành thị
làm gay gắt thêm tình trạng thừa lao động ở thành thị.
21
động của nó chủ yếu là một vài khâu dịch vụ hộ nông dân trong quá trình sản xuất như:
bảo lãnh vay vốn tín dụng, làm đất, bơm nước, tuốt lúa
Lực lượng sản xuất nông phẩm hàng hóa lớn nhất, chủ yếu ở ĐBSCL hiện nay là
kinh tế hộ gia đình nông dân, lực lượng này chiếm tới 99,10% lao động nông nghiệp,
99,51% máy kéo, 99,89% máy bơm nước, 99,95% máy tuốt lúa và 99,75% phương tiện vận
tải; đã sản xuất ra 98,66% sản lượng lúa, 99,20% sản lượng lợn và hơn 80% lượng lúa giống
toàn vùng.
Về sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt. Mức sử dụng điện ở ĐBSCL hiện nay
chỉ đạt khoảng 38 kwh/đầu người/năm (thấp nhất nước), tỷ lệ hộ dùng điện 24,8% (bằng
50% mức trung bình toàn quốc), tỷ lệ xã có điện lưới 67% (chỉ đứng hàng thứ tư trong 7vùng
kinh tế cả nước). Trong tương lai, việc cung cấp điện cho phát triển sản xuất, chế biến hàng
nông phẩm và sinh hoạt ở ĐBSCL được xem là một trong những chiến lược ưu tiên hàng
đầu.
Nhìn chung, khả năng sản xuất ra nông phẩm hàng hóa ở vùng này đã có một bước
phát triển đáng kể, cả về trình độ, kinh nghiệm sản xuất, về kỹ thuật canh tác và cả về tiềm
lực Tuy nhiên, công cụ sản xuất của các doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã và của hộ
nông dân ở những khâu làm lao động nặng nhọc hầu hết được thao tác bằng máy móc như:
90% khâu tưới tiêu và tách hạt, 80% khâu làm đất và vận chuyển Còn các khâu khác của
sản xuất nông nghiệp đến nay chủ yếu vẫn là công cụ thủ công dựa vào sức người là chính.
1.3.3. Lưu thông (thị trường và giao thông)
Vấn đề thị trường. Cũng như sản xuất thành phần tham gia vào thị trường nông
sản cũng hết sức phong phú, đa thành phần kinh tế. Tham gia thị trường nông phẩm ở
ĐBSCL hiện nay có những chủ thể là người bán, người lưu thông và người tiêu dùng thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau.
Người bán hầu hết là hộ nông dân thuộc thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và một
số ít thành phần kinh tế khác. Họ tham gia thị trường với tư cách là người bán sản phẩm do
mình làm ra như lúa, mía, trái cây, cá, tôm, gia súc, gia cầm
Hệ thống giao thông thủy lợi ở ĐBSCL hết sức thuận lợi, ngoài các tuyến sông
chính (sông Hậu, sông Tiền) còn có hàng chục kênh rạch lớn như: kênh Cái Sắn (Rạch Giá 23
- Long Xuyên), kênh Vĩnh Tế (Hà Tiên - Châu Đốc), rạch Cái Tàu, Quản Lộ Phụng Hiệp
cho phép các loại tàu thuyền 200 - 300 tấn lưu thông dễ dàng.
ĐBSCL có 7 cảng lớn như cảng Cần Thơ, Mỹ Thới, Vĩnh Thái, Cao Lãnh, Mỹ
Tho với tổng công suất trên 1,5 triệu tấn/năm hàng hóa ra vào. Đặc biệt cảng Cần Thơ có
thể tiếp nhận tàu có trọng tải 20.000 tấn.
Mạng lưới giao thông đường bộ rất yếu kém, khó khăn. Toàn bộ tuyến giao thông
đường bộ vùng này bao gồm cả đường quốc lộ, đường liên tỉnh, liên huyện và liên xã chỉ
với tổng chiều dài 30.044 km, thì đã có 20.107 chiếc cầu lớn nhỏ, chiếm 51% tổng số cầu
cả nước. Hệ thống đường bộ chưa được phát triển, lại bị tàn phá nặng nề sau mỗi mùa lũ
lớn. Tỷ lệ đường ô tô đến được UBND xã chưa đạt 75%, thấp nhất trong 7 vùng kinh tế
của cả nước. Các tuyến giao thông nông thôn liên các ấp với nhau trong xã hầu như chưa
có. Điều đáng mừng tháng 4/2000 đã thông xe cầu Bắc Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền, điều
này đã cải thiện đáng kể tình hình giao thông vận tải trong vùng. Trong khi đó, nông sản
phẩm hàng hóa, đặc biệt là các sản phẩm tươi sống có một đặc tính đặc thù là thời gian bảo
quản chất lượng sản phẩm sau thu hoạch rất ngắn. Từ đó cho ta thấy ngoài phát huy thế
mạnh về hệ thống bến cảng và tuyến giao thông đường thủy, để đáp ứng cho nhu cầu phát
triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL, đòi hỏi phải có kế hoạch khả thi khắc phục
tốt tình trạng yếu kém của giao thông đường bộ. Đồng thời giải quyết tốt vấn đề này không
chỉ là điều kiện, là cơ sở nhằm đảm bảo thông suốt, nhanh chóng quá trình lưu thông của
đầu vào lẫn đầu ra của ngành nông nghiệp nông thôn, mà còn mang một ý nghĩa to lớn
góp phần cải thiện đời sống của dân cư nông thôn, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, từng bước
xóa dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
1.3.4. Ngoài 3 điểm nêu trên về tiềm năng có tính chất điều kiện, để phát triển
nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL nói riêng, cả nước nói chung, thì điều kiện cơ bản và bao
trùm có tính quyết định là đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. ở đây cụ thể và
tiền tệ làm thước đo, công cụ hạch toán, nông dân hoàn toàn tự chủ lựa chọn phương án
nào đem lại thu nhập bằng tiền nhiều nhất, lựa chọn phương án sản xuất, chọn cây trồng,
vật nuôi có năng suất, hiệu quả Tất cả những điều đó đã làm chấn hưng sản xuất nông
nghiệp, làm biến đổi nền nông nghiệp hiện vật sang nông nghiệp hàng hóa. 25
1.3.6. Đặt sự phát triển nông nghiệp hàng hóa trong tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp hàng hóa ở nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng. Muốn phát triển
có hiệu quả không thể không đặt nó trong mối quan hệ gắn bó với sự phát triển của các
ngành trong nền kinh tế, đây là vấn đề mang tính tất yếu khách quan. Đó là mối quan hệ
giữa nông nghiệp với công nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng đó là các mối quan hệ giữa nông
nghiệp với công nghiệp và dịch vụ; giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí
thức; quan hệ giữa nông dân, cư dân nông thôn với Đảng, Nhà nước thông qua việc thực
hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển nông nghiệp hàng
hóa với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Thực chất các mối quan hệ nói trên được biểu hiện ở các nội dung sau:
Một là, gắn phát triển nông nghiệp hàng hóa với phát triển công nghiệp, nhất là
công nghiệp chế biến nông sản ở nông thôn.
Trong thực tế lịch sử cho thấy, công nghiệp ra đời từ cái nôi của nông nghiệp,
nhưng khi trở thành ngành kinh tế độc lập thì mối quan hệ giữa chúng đã có sự biến đổi về
chất, nghĩa là công nghiệp và nông nghiệp đã trở thành những thực thể kinh tế độc lập gắn
bó mật thiết với nhau và quan trọng hơn là chúng tác động qua lại và quyết định sự phát
triển của nhau. Khi đề cập về mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn đề cao ý nghĩa to lớn của việc kết hợp đúng đắn sự phát triển của nông
nghiệp với sự phát triển của công nghiệp. Người luôn đặt nông nghiệp và công nghiệp
trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau, Người nói: "Công nghiệp
và nông nghiệp như hai chân của nền kinh tế. Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì hai ngành
đó đồng thời phát triển như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh