Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Khóa luận tốt nghiệp Thực trạng xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam sang EU trong những
năm qua
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I 5
Tổng quan về ngành thủy sản và các thị trường xuất khẩu lớn của thủy sản
Việt nam
I. Đặc điểm và vai trò của ngành thủy sản Việt Nam 5
1. Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam 5
2. Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân 7
II. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam trong thời gian gần đây. 14
1. Về giá trị và tốc độ phát triển 14
2. Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 15
3. Giá cả và hiệu quả xuất khẩu của thủy sản Việt Nam 17
1. Định hướng phát triển xuất khẩu thuỷ sản 72
2. Mục tiêu phát triển xuất khẩu thủy sản 75
II. Những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang EU trong những
năm tới. 79
1. Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU 79
2. Một số giải pháp tài chính tín dụng khuyến khích XKTS sang EU 84
3. Các giải pháp khác nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU 87
KẾT LUẬN 91
PHỤ LỤC 01 92
Danh mục tài liệu tham khảo 96
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên Bảng
Số trang
Bảng 1: Cơ cấu đóng góp của các ngành trong GDP qua các năm 8
Bảng 2: Kim ngạch XKTS của Việt Nam qua một số năm 10
Bảng 3: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2002 11
Bảng 4: Lao động nghề cá 12
Bảng 5: Số lượng lao động trong ngành thủy sản giai đoạn 1996-2010 12
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng XKTS của Việt Nam từ 1997 đến 2002 14
Bảng 7: Các sản phẩm XKTS chính năm 2001 – 2002 16
Bảng 8: So sánh một số chỉ tiêu của ngành tôm XK của Việt Nam với
Thái Lan năm 2000
18
Bảng 9: Thị trường XKTS chính của Việt Nam (2001-2002) 26
1 EU European Uninon- Liên minh Châu Âu
2 EC European Communication – Cộng đồng Châu Âu
3 ASEAN
Association of South Eest Asia Nations- Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam á
4 WTO World Trade Organisation- Tổ chức thương mại thế giới
5 DANIDA
Danish International Development Agency- Cơ quan tài trợ
phát triển chính phủ Đan Mạch
6 APEC
Asia- Pacific Economic Cooperation – Tổ chức kinh tế
Châu á - Thái Bình Dương
7 AFTA Asean Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do Asean
8 GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội
9 ODA
Official Development Assistance – Quỹ hỗ trợ phát triển
chính thức
10
FDI Foreign Direct Invesment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
11
NAFIQACEN
The national Fisheries Inspection and Quanlity Assurance
Center – Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thủy sản.
12
GMP Good Hygiene Pratices
13
20
XDCB Xây dựng cơ bản
21
NKTS Nhập khẩu thủy sản
22
TGHD Tỷ giá hối đoái
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với mọi quốc gia, dù trình độ phát triển kinh tế và khoa học kỹ
thuật đạt đến mức độ nào đi chăng nữa, dù tài nguyên thiên nhiên phong phú và
giàu có đến đâu thì hoạt động xuất khẩu vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng. Có thể
nói, xuất khẩu đã trở thành yếu tố sống còn và không thể thiếu của mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển kinh tế. Xuất khẩu là tiền đề vững chắc để công nghiệp hoá đất
nước và là mũi nhọn ưu tiên trong nền kinh tế quốc dân. Đảng ta đã nhiều lần
khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động xuất khẩu và coi đó là một
trong ba chương trình kinh tế lớn. Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thị trường
thế giới mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
và ổn định đời sống nhân dân.
Trong nhiều năm trở lại đây, thủy sản luôn là một trong những mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu của ngành này đóng góp không
nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nói riêng và sự tăng trưởng kinh
tế của cả đất nước nói chung. Văn kiện đại hội đảng IX đã khẳng định rõ: “Phát
tích, kết hợp những kết quả thống kê với vận dụng lý luận làm sáng tỏ các vấn đề
nghiên cứu. Đồng thời, khoá luận vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách
phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước nhằm khái quát hoá, hệ thống hoá các
kết quả nghiên cứu.
Khoá luận kết cấu gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về ngành thủy sản và các thị trường xuất khẩu lớn của
Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong
những năm qua.
Chương 3: Định hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sang EU trong những năm tới.
Do trình độ cũng như thời gian nghiên cứu có hạn, nên khoá luận khó tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong có được sự đóng góp của các thầy cô giáo
cùng bạn đọc để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ Ban nghiên cứu thị
trường thuộc Viện nghiên cứu Thương mại đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành
khoá luận này, đặc biệt là sự hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình, qúy báu của
Thạc sĩ – Phạm Thị Hồng Yến để khoá luận được hoàn chỉnh hơn.
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Ngày 15 tháng 12 năm 2003
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ CÁC THỊ
TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN CỦA THỦY SẢN VIỆT NAM
I. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
1. Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam
Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh
Ngoài cá biển, Việt Nam còn có nhiều nguồn lợi tự nhiên khác như: trên
1600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn/năm, có giá trị
cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ… và khoảng 2500 loài động vật
thân mềm, trong đó có ý nghĩa cao nhất là mực và bạch tuộc, cho phép khai thác
60-70 nghìn tấn/năm. Hằng năm, biển còn có thể cho phép khai thác từ 45-50
nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ. Bên cạnh có, còn có
rất nhiều loài đặc sản quý như bào ngư, vích, đồi mồi, tổ yến, chim biển và có thể
khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai
Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản lượng khai thác
không đồng đều ở các vùng. Theo ước tính, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt
Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá, 50.000- 60.000 tấn tôm, 30.000- 40.000
tấn mực.
Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác thủy sản giữa các vùng
như sau:
- Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng 681.166 tấn, khả năng khai thác 271.467 tấn (16,3%)
- Biển Trung Bộ: trữ lượng 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560
tấn(14,3%)
- Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng 2.075.889 tấn, khả năng khai thác 830.456 tấn
(chiếm 49,3%).
- Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác 202.272 tấn
(chiếm 12,1%).
Từ tính chất đặc thù của vùng biển Việt Nam, là vùng biển nhiệt đới, nguồn
lợi thủy sản rất đa dạng, phong phú về chủng loại với nhiều loài thủy sản quý
hiếm có giá trị kinh tế cao. Hơn nữa, với vị trí địa lý nằm gần những thị trường
tiêu thụ thủy sản lớn như Trung Quốc, Nhật Bản lại có khả năng giao lưu bằng
đường bộ, đường thủy, đường không đều rất thuận lợi nên ngành kinh tế thủy sản
Việt Nam có điều điều kiện để phát triển nhanh và bền vững.
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngành kinh tế thủy
sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những
hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Ngành thủy sản được xác định là giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước, bởi vì nó khai thác và phát triển một trong những
nguồn tài nguyên có thể tái sinh của đất nước.
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
2.1. Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân và sự
tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay, thủy sản được coi là một ngành hàng thiết yếu và được ưa chuộng
ở khắp nơi trên thế giới. Với tiềm năng thiên nhiên rộng lớn, ngành thủy sản Việt
nam đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Theo thống kê của Bộ Thương Mại, thì sự đóng góp của ngành Nông Lâm
Nghiệp và Thủy sản trong GDP qua các năm như sau:
Bảng 1. Cơ cấu đóng góp của các ngành trong GDP qua các năm
Năm Cơ cấu (tính theo giá thực tế)
Tổng số
Nông lâm
nghiệp-
thủy sản
Công
nghiệp –
Xây dựng Dịch vụ
1990 100,00 38,74 22,67 38,59
1991 100,00 40,49 23,79 35,27
1992 100,00 33,94 27,29 38,80
1993 100,00 29,87 28,90 41,23
- Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ
thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp
hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ. Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công
nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập
nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ.
- Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn
nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ. Từ cơ chế
“lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác
và nuôi trồng”, qua các thời kỳ Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay,
sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 60 nước và vùng lãnh thổ với một số
sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng.
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Theo Bộ Thủy sản, dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với
nền kinh tế quốc dân sẽ tăng từ mức hiện nay năm 2003 là 30.628 tỷ đồng lên
40.000 tỷ đồng vào năm 2010 với tốc độ phát triển trên dưới 20%/năm. Tỷ trọng
tương ứng của ngành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh
trong các ngành khác của nền kinh tế. Song sự đóng góp của ngành thủy sản đối
với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng phân phối thu
nhập của ngành thủy sản ở các vùng nông thôn. Một bộ phận dân cư ở nông thôn,
thường là các vùng nghèo vẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng thủy
sản, bao gồm cả thiểu số ở vùng cao.
Việc đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hóa nghề cá và nuôi trồng thủy
sản sẽ tăng cường năng lực của ngành này. Bằng cách đó sẽ tăng cường sự đóng
góp của ngành đối với xã hội. Hiện đại hóa và phát triển sẽ giúp thiết lập các
ngành công nghiệp mới và những ngành công nghiệp đã hoàn thiện tại các vùng
ven biển mà sẽ nâng cao vai trò của ngành thủy sản đối với việc phát triển kinh tế
- xã hội.
Giá trị XK thủy sản (tr
USD)
670
776,46
858,68
971,12
1480
1479
2021
Tỷ trọng XK thủy sản
so với cả nước (%)
9,23
8,72
9,18
8,9
10,3
10,24
Tóm lại, qua các năm, ngành thủy sản đã góp phần không nhỏ vào tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng thu ngoại tệ cho nước ta. Việc thực hiện
nghiêm chỉnh các chính sách bảo vệ môi trường và khai thác hợp lý các nguồn lợi
tự nhiên của đất nước cùng với việc sử dụng hợp lý về mặt sinh thái môi trường
sinh sống, sẽ đảm bảo việc đóng góp bền vững của nghề cá. Điều đó có tác dụng
rất lớn trong việc tăng sản lượng đánh bắt và sản lượng nuôi trồng thủy sản, nhờ
đó mà tăng được kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong những năm tới.
2.3. Vai trò của ngành thủy sản trong việc tạo công ăn việc làm
Theo thống kê của Bộ Thủy Sản, công nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản đảm bảo việc làm thường xuyên cho khoảng hơn 3 triệu lao động chiếm 10%
tổng lao động xã hội, lao động nghề cá nhiều nhất là nuôi trồng thủy sản có
khoảng 2.219 nghìn người, đánh bắt 435 nghìn người, chế biến khoảng hơn 250
nghìn người. Đặc biệt là năm 1996, số lao động thủy sản tăng lên là 3,03 triệu
người. Khoảng 3,8 triệu người sống trong các hộ gia đình làm nghề đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản. Như vậy, khoảng 6,8 triệu người chiếm 8,7% dân số sống
phụ thuộc vào ngành thủy sản như một nguồn sinh sống. Số lao động làm việc
trong ngành này không ngừng tăng lên qua các năm được thể hiện rõ qua Bảng 5
dưới đây:
Bảng 4. Lao động nghề cá
Đơn vị: 1000 người
Năm 1987 1991 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Số LD 1.270 1.860 3.030 3.120 3.210 3.320 3.390 3.450 3.550 Nguồn: Tạp chí Thông tin khoa học và công nghiệp thủy sản - số 3/2002
Tổng số lao động có thu nhập từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng như từ
các ngành và các hoạt động hỗ trợ thủy sản ước tính lên tới hơn 8 triệu người.
Ngoài ra, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản còn đảm bảo việc làm không thường
xuyên và thu nhập phụ cho hơn 20 triệu người.
Khoá luận tốt nghiệp
58.768
77.000
93.000
128.000
Lao động dịch vụ
nghề cá (người)
1991.868
2.171.000
2.541.400
2.855.700
Tổng
3.030.000
3.400.000
3.900.000
4.400.000Nguồn: Trung tâm khoa học kỹ thuật và kinh tế thủy sản – Bộ Thủy sản
Theo dự tính của Bộ Thủy Sản, số lao động trong ngành thủy sản năm 2003
Mức tiêu thụ bình quân toàn quốc hàng năm thường được sử dụng cho mục
đích lập kế hoạch là khoảng 12 - 14 kg/ người/ năm.
Dự kiến việc cung cấp cá và các sản phẩm thủy sản toàn quốc sẽ tăng từ hiện
nay là khoảng 13,5 kg lên 16 kg/ đầu người vào năm 2010. Mức tăng trưởng này
có tính đến nhu cầu dinh dưỡng của số dân sẽ tăng mà dự kiến sẽ tăng khoảng 1,2
triệu người vào năm 2010.
II. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN GẦN ĐÂY
Trong hơn mười năm qua, thủy sản luôn giữ được xu thế tăng trưởng không
ngừng về sản xuất và giá trị xuất khẩu. Mặt hàng này luôn nằm trong nhóm
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực bên cạnh gạo, cà phê, dệt may, giày dép và đã
có những đóng góp không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả
nước với mức tăng kim ngạch xuất khẩu tương đối cao (22-23%/năm). Sự tăng
trưởng này được biểu hiện cụ thể về một số mặt như sau:
1. Về giá trị và tốc độ phát triển
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Trong những năm qua, sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam tăng nhanh .
Bảng 6. Tốc độ tăng trưởng XKTS của Việt Nam từ 1997-2002 Nguồn: Số liệu thống kê - http://www.vneconomy.com
Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta chỉ đạt 109,2 triệu USD
thì đến 1996 xuất khẩu thủy sản đạt 670 triệu USD, tăng hơn 5 lần. Đến năm
1997, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 761 triệu USD, năm 1998 là 818 triệu USD và
năm 1999 đạt 938,87 triệu USD. Như vậy, trong vòng 10 năm 1986-1996 xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam đã tăng lên 5,13 lần, mức tăng xuất khẩu trung bình
7,42
1999
229.944
938.871.697
14,8
2000
291.923
1.478.609.549
57,5
2001
375.491
1.777.485.754
20,2
2002
458.658
2.022.820.916
13,8
giảm về giá trị
(±%)
Tôm đông
lạnh
87.151,18
777.820.214
114.579,98
949.418.477
+ 18,2
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Mực, bạch
tuộc đông lạnh
41.653,21
115.891.604
54.878,81
140.220.912
+ 20,1
Cá đông lạnh 74.093,14
384.865.163
- 14,4
Tổng cộng 375.490,73
1.777.485.754
458.657,99
2.022.820.916
+ 13,8
Nguồn: Báo cáo tổng kết Bộ Thủy sản 2001 - 2002
Như vậy, có thể thấy rằng, xuất phát từ nhu cầu của thị trường, từ tiềm
năng kinh tế thủy sản của Việt Nam, cá tôm và các hải sản thân mềm đã trở
thành sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam được ưa chuộng trên thị
trường thế giới. Trong đó, tôm luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm khoảng
trên dưới 50% giá trị xuất khẩu của thủy sản Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam
đang xếp thứ 3 trong các nước xuất khẩu tôm vào 2 thị trường Mỹ và Nhật Bản.
Nhiều doanh nghiệp chỉ kinh doanh mặt hàng tôm và thực tế cũng là những đơn
vị giành vị trí hàng đầu trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Ngoài ra, mặt hàng cá cũng chiếm một tỉ lệ tương đối ổn định và đáng kể
trong cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu . Năm 2002, cá là nhóm sản phẩm thu hút
nhiều nhất số doanh nghiệp xuất khẩu trong cả nước tham gia: 300/650 doanh
nghiệp. Đây cũng là năm chúng ta mở được nhiều thị trường tiêu thụ nhất, huy
động được nhiều nguồn nguyên liệu các loại cá để đưa vào chế biến xuất khẩu
hoặc xuất khẩu các sản phẩm tươi hoặc ướp đá.
Mặt hàng tươi sống trong thời gian gần đây có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt
Tất cả những phân tích về cơ cấu thị trường, cơ cấu sản phẩm và tình hình
giá sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đều dẫn đến nhận định rằng: hiệu
quả xuất khẩu thủy sản của nước ta là rất thấp. Nếu đem so sánh với xuất khẩu
thủy sản của Thái Lan, nước xuất khẩu thủy sản đứng đầu thế giới, chúng ta có
thể thấy rõ sự chênh lệch về trình độ công nghệ và mức giá xuất khẩu như thế nào
qua bảng số liệu 8 sau:
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Bảng 8. So sánh một số chỉ tiêu của ngành tôm xuất khẩu của Việt Nam với
Thái Lan năm 2000
Chỉ tiêu Việt Nam Thái Lan
Năng suất nuôi tôm bình quân (tấn/ha/năm) 0,36 2,744
Sản lượng tôm nuôi (tấn) 77.000 280.000
Giá bình quân sản phẩm tôm (USD/kg) 5,0 >10
Tổng kim ngạch xuất khẩu tôm (tỷ USD) 0,48 4,2
Nguồn: Bộ Thủy sản-2002
Năng suất nuôi tôm bình quân của Thái Lan cao gấp gần 8 lần năng suất tôm
nuôi của Việt Nam, bởi vì Thái Lan thực hiện 100% là nuôi tôm công nghiệp.
Còn ở Việt Nam thì ngược lại, có đến gần 90% sản lượng tôm nuôi được thu
hoạch qua nuôi quảng canh và bán thâm canh. Cũng nhờ vào phương pháp nuôi
tôm hiện đại cho thu hoạch tôm nguyên liệu hay tôm sống theo ý muốn và chủ
động được cỡ loại tôm mà giá xuất khẩu tôm của Thái Lan thường cao gấp đôi giá
xuất khẩu tôm của Việt Nam, nếu so với một số nước trung bình tiên tiến khác
như In-đô-nê-xia, năng suất nuôi thủy sản của Việt Nam cũng như thấp hơn
khoảng 60%.
Có thể thấy rằng, mặcdù ngành thủy sản nước ta có tiềm năng xuất khẩu rất
lớn nhưng nếu không biết tận dụng các nguồn lợi đó, không ngừng nâng cao hiệu
khi được cấp giấy phép khai thác và giảm 50% trong 5năm tiếp theo. Đối với sản
phẩm qúy khai thác là ngọc trai, bào ngư, hải sâm là 10% còn tôm, cá, mực và các
loại thủy sản khác là 2%.
Hiện nay để cạnh tranh với các nhà sản xuất xuất khẩu thủy sản của các nước
trên thế giới và đặc biệt đối với các nước khu vực ASEAN, ngày 2/6/1998, Bộ
Tài chính đã ký Quyết định số 103 QĐ/BTC về việc đánh thuế 0% đối với hàng
thủy sản xuất khẩu. Việc đánh thuế 0% này đã làm tăng sức cạnh tranh về giá cả
hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường thế giới, đồng thời với mức thuế này
là sự phù hợp của nó với công nghệ sản xuất và chất lượng hàng thủy sản xuất
khẩu hiện nay của nước ta so với các nước xuất khẩu thủy sản khác.
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương 4.2. Chính sách đầu tư và quản lý vốn
Trong thời gian hơn 10 năm vừa qua, ngành thủy sản có mức tăng trưởng
bình quân hàng năm về tổng sản lượng khoảng 4% và giá trị kim ngạch xuất khẩu
tăng từ 10-15%. Nhưng, nếu so với tiềm năng lớn của vùng biển đặc quyền kinh
tế rộng trên 1 triệu km
2
thì con số này mới chỉ là biểu hiện bước đầu, chưa đáng
kể. Muốn thủy sản có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế đất nước, cần phải tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh của ngành,
đồng thời Nhà nước cần ban hành những chính sách mới để khuyến khích, kêu
gọi đầu tư vào lĩnh vực thủy sản, nhất là trong khu vực nuôi trồng và đánh bắt xa
bờ.
Xem xét cả giai đoạn 1986-1998, thì vốn trong nước vẫn giữ vai trò chủ đạo,
chiếm đến 83,56% trong tổng vốn đầu tư (tổng vốn đầu tư cả 3 giai đoạn là