Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
BÁO CÁO KHOA HỌC
Khảo sát các đơn vị thành ngữ
trong một số truyện ngắn của Nam Cao
giai đoạn 1930-1945
SV thực hiện:
Lớp :
- Hà Nội -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nam Cao được coi là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn học
Việt Nam thế kỉ XX. Ông đã để lại cho chúng ta một kho tàng to lớn những tác
phẩm như tiểu thuyết( Sống mòn), truyện ngắn( Chí phèo, Một đám cưới…) cả
trước và sau cách mạng. Qua những tác phẩm của mình, đặc biệt là truyện ngắn
ông đã khắc họa thành công thế giới nhân vật cùng sự miêu tả tâm lí điêu luyện
tạo nên một phong cách riêng cho văn xuôi Nam Cao. Và chính vì thế, tác phẩm
của ông trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà phê bình Văn học, của các
nhà ngôn ngữ học và ngày càng thu hút đông đảo lực lượng nghiên cứu.
“Nam Cao toàn tập” là một bộ sách gồm ba tập: Tập I và II gồm những
truyện ngắn Nao Cao viết trước cách mạng tháng 8 và truyện dài “Người hang
xóm”. Tập III gồm những truyện viết sau cách mạng cùng tiểu thuyết “Sống
mòn”. Đây là một tác phẩm có thể nói đã thống kê được khá đầy đủ các tác
phẩm của Nam Cao và nó trở thành một nguồn tư liệu đáng quý cho các nhà
nghiên cứu về Nam Cao, về tác phẩm của Nam Cao. Thông qua những truyện
ngắn này người đọc cũng phần nào thấy rõ được những quan điểm sống, quan
điểm sang tác, quan điểm nghệ thuật cùng với cách sử dụng ngôn ngữ trong việc
Trong khi đó cách sử dụng thành ngữ của tác giả lại chưa được chú ý đúng mức.
Đó chính là lí do chúng tôi chọn đề tài cho báo cáo của mình là: Khảo sát các
đơn vị thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-1945
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt nói chung có thể nói đến giai đoạn
hiện nay đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công trình nghiên cứu đầu
tiên trong tiếng Việt là “Về tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh được công bố
năm 1921. Tuy nhiên, đến những năm 60 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu thành
ngữ mới có được cơ sở khoa học nghiêm túc. Cái mốc quan trọng trong việc
nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là việc xuất bản từ điển “Thành ngữ tiếng
3
Việt” (1976) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đam. Công trình này tuy còn chưa
bao quát được hết tất cả các thành ngữ tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các
nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến vấn đề này một tài liệu bổ ích, có
giá trị to lớn. Tiếp đó là năm 1989 xuất bản cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam” của Nguyễn Lân và “Kể chuyện về thành ngữ tục ngữ” (1988-1990)
do Hoàng Văn Hành chủ biên. Các công trình khác sau đó đều đi sâu vào nghiên
cứu với mục đich tìm ra sự khác biệt giữa thành ngữ với các đơn vị khác có liên
quan, tức là khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa thành ngữ với ngữ định
danh, giữa thành ngữ với cụm từ tự do. Có thể kể đến các công trình đó như
“Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành ngữ” (1973) của Cù Đình Tú, “Từ và
vốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976) của Nguyễn Văn Tu, “Vấn đề cấu tạo từ của
tiếng Việt hiện đại” (1976) của Hồ Lê, “Tục ngữ Việt Nam” (1975) của Chu
Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri và gần đây nhất là “Phân biệt thành
ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc” (2006) của Triều Nguyên. Tuy nhiên,
các công trình nêu trên vẫn chưa thực sự thuyết phục được các nhà nghiên cứu.
Vậy nên thành ngữ cho đến hiện nay vẫn đang được tiếp cận theo từng khía cạnh
khác nhau để có thể lập nên một tiếng nói chung về thành ngữ cho tất cả những
ai quan tâm.
Một trong những khía cạnh nghiên cứu thành ngữ đó chính là nghiên cứu
các đơn vị thành ngữ trong toàn bộ các tác phẩm của ông. Chính vì thế, với đề
tài này chúng tôi chỉ hi vọng sẽ đóng góp một phần rất nhỏ trong công việc
nghiên cứu thành ngữ ở giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
Phương pháp chúng tôi sử dụng để hoàn thành bài báo cáo này chủ yếu là
phương pháp thống kê, sau đó so sánh và đối chiếu theo khuôn mẫu của cấu trúc
thành ngữ.
Tư liệu nghiên cứu của chúng tôi là các truyện ngắn của Nam Cao giai
đoạn 30-45 in trong cuốn “Nam Cao toàn tập”, Nxb Hội Nhà văn. Cụ thể là 51
truyện ngắn dưới đây:
5
1. Tình già
2. Hai người ăn tết lạ
3. Nửa đêm
4. Đón khách
5. Điếu văn
6. Lang Rận
7. Nhìn người ta sung sướng
8. Một truyện Xú vơ nia
9. Rình trộm
10. Rửa hờn
11. Ở hiền
12. Tư cách mõ
13. Mua danh
14. Thôi, đi về
15. Trẻ con không biết đói
16. Làm tổ
17. Từ ngày mẹ chết
18. Một bữa no
19. Quái dị
49. Nước mắt
50. Bài học quét nhà
51.Xembói
6
5. Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của
báo cáo gồm ba chương:
Chương I: Giới thiệu chung về Nam Cao - tác giả và tác phẩm.
Chương II: Phân tích, phân loại thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam
Cao.
Chương III: Các sử dụng thành ngữ của Nam Cao qua các truyện ngắn của
ông
Ngoài ra báo cáo còn bao gồm phần phụ lục: Danh sách thành ngữ và các
biến thể của chúng trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 30-45.
7
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NAM CAO - TÁC GIẢ
VÀ TÁC PHẨM
Nam Cao là một nhà văn hiện thực. Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiện
thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng 8, một xã hội mà ở đó số
phận của những người nông dân chất phác hồn hậu đã bị bần cùng trong đói khổ,
quằn quại trong sự chèn ép và thông qua việc sử dụng ngôn ngữ tài tình, tinh tế với
những tình huống điển hình Nam Cao đã làm được một việc lớn lao hơn hẳn một số
nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu cùng thời là “sự tổng hợp của nhiều tiếng nói,
nhiều giọng điệu, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều màu sắc thẩm mỹ, gợi sự suy ngẫm, liên
tưởng” của người đọc khi đọc tác phẩm của ông và qua tác phẩm của ông thấy yêu
quý, trân trọng ông – một nhà văn đầy nhân ái, đầy tình người
Có thể nói rằng sẽ có một khoảng trống không nhỏ nếu vì một lý do nào đấy
dòng văn học của Việt Nam không có Nam Cao. Không chủ quan khi chúng ta
cái nhìn không thiện chí. Lòng nhân ái, tình người còn bao trùm ở Làng Vũ Đại của
người nông dân nghèo khổ, của anh thả ống lươn nhặt Chí Phèo xám ngoét từ lò
gạch bỏ không mang về, là bát cơm của bác Phó Cối, là bát cháo hành tình nghĩa
của Thị Nở, là những người bạn tế nhị xử sự vô cùng nhân ái khi đến nhà người
bạn nghèo của mình, chứng kiến những vũng bùn đứa con đau bụng thổ ra từ đêm,
chứng kiến cái nhà dột nát, nghèo túng khốn cùng “Anh nào cũng làm ra dễ tính.
Sự cố gắng ấy do lòng quý bạn. Cái nhà thật không đáng cho lòng tôi phải bận...”
(truyện ngắn “Mua nhà” – năm 1943).
Truyện ngắn Nam Cao nói nhiều đến thân phận người phụ nữ. Truyện
“Nghèo”, “Dì Hảo”, “Ở hiền”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”..., tất cả họ đều
nghèo khổ, đói khát và bất hạnh và dẫu cơ hàn người nông dân sống với nhau thật
nhân ái, họ quan tâm đến nhau, yêu thương nhau. Hãy nghe người mẹ nhắc con
“Khe khẽ cái mồm một chút! réo mãi bố mày nó nghe thì nó chết! Nó đã ốm đấy,
thuốc không có, mà còn bực mình thì chết”; thân phận Dì Hảo: “Dì Hảo chẳng nói
năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì
Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước
mắt”. Dì Hảo, người phụ nữ đẹp, cô đơn âm thầm, vẻ đẹp đáng quý của nội tâm.
Tâm hồn Dì vừa đơn côi vừa bao dung, trắc ẩn. Giọng điệu của truyện ngắn này đã
được nhà văn viết ra: buồn phiền, tiếc nuối và xót xa.. Người phụ nữ trong các
truyện của Nam Cao thường gặp phải những ông chồng chết yểu, say rượu, theo gái
hoặc gặp tai ương, hoạn nạn...và họ phải chịu đựng, nhà văn hiểu thấu nỗi đau của
họ, ông đã đánh động vào tâm linh người đọc qua những mảnh đời muốn vùng
thoát mà không sao thoát ra được.
Hiện thực cuộc sống luôn là chất liệu để nhà văn phản ánh hay nói như
Bandăc “Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại”. Làng Vũ Đại của Nam Cao
chỉ là một làng quê như bao làng quê khác, ta thấy có dòng sông hiền hoà hai bên
bờ là những vườn chuối thấm đẫm ánh trăng, thấy tiếng dệt cửi và tiếng lao xao của
các bà, các chị đi chợ sớm, thấy những vườn trầu không, những vườn mía tả tơi sau
bão....và trên mảnh đất ấy là những người nông dân chất phác, nhân hậu. Họ bần
cùng mỗi người một kiểu. Người mẹ và bầy con nhỏ lê la trên nền nhà vũng nước
hơn?.
Như vậy,có thể khẳng định một lần nữa rằng Nam Cao đã tạo cho mình một
lối văn mới đậm đà bản sắc bình dân nhưng không rơi vào chỗ thô tục trong khi
văn lãng mạng tư sản đã xa rời lời ăn tiếng nói của nhân dân, viết lai Tây như văn
dịch, càng ngày càng trống rỗng, hình thức.
Nam Cao có nhiều sáng tác cả trước và sau cách mạng. Mặc dù Nam Cao
viết ít nhưng trước sau đã để lại cho chúng ta một mẫu mực nhà văn, cho văn học
một số lượng tác phẩm giá trị.
Nam Cao khai thác tối đa ngôn ngữ nhân vật. Truyện ngắn của ông không
dài trừ Chí Phèo, Nửa Đêm… chỉ dăm trang. Số trang ngắn, lượng chữ ít, nên tình
huống truyện phải thật cô gọn, tiết kiệm trong ngôn ngữ, khi vào truyện thì phải
vào ngay
Câu ngắn và cộc dường như không thể rút ngắn hơn
Nam Cao có một phong cách ngôn ngữ riêng, một phong cách nghệ thuật
riêng và một phong cách nhà văn riêng. Tất cả những cấp độ phong cách này
xuyên thấm vào nhau và bộc lộ ra cùng một lúc, thống nhất và vận động. Trong ba
cấp độ phong cách thì phong cách nghệ thuật trội hơn hẳn so với phong cách ngôn
ngữ và phong cách tác giả. Tuy nhiên phong cách ngôn ngữ của Nam Cao cũng là
một nét đặc sắc trong phong cách Nam Cao. Đối với các tác phẩm của mình, Nam
Cao luôn cố gắng lựa chọn từ ngữ cũng như phương thức diễn đạt sao cho đạt được
hiệu quả cao nhất. Và có thể thấy rằng thành ngữ- đơn vị ngôn ngữ gần gũi với
nhân dân lao khổ xuất hiện khá ổn định trong các tác phẩm của Nam Cao. Ông sử
dụng các thành ngữ khá đa dạng cả những thành ngữ nguyên dạng, cả những thành
ngữ gốc Hán, và sáng tạo trên cơ sở những thành ngữ đã có sẵn.
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH, PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO GIAI ĐOẠN
1930 - 1945
I. Những vấn đề chung về thành ngữ tiếng Việt
1. Thành ngữ trong tiếng Việt
của mình.
Đặc trưng thứ hai đó chính là tính hoàn chỉnh về nghĩa và có sức gợi cảm
cao… Nó biểu thị những khái niệm hay biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá
trình hay sự vật. Nói cách khác,thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ.
Thí dụ: “Nước mẳt cá sấu” là nước mắt giả dối…. Tuy nhiên nội dung của thành
ngữ ngụ ý điều gì đó đằng sau các từ ngữ tạo nên thành ngữ chứ không hướng tới
điều được nhắc đến trong nghĩa đen.
Như vậy, “Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những khái
niệm một cách bóng bẩy( Hoàng Văn Hành, thành ngữ học tiếng Việt, 2004, Nxb
KHKT)
2. Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do, với tục ngữ
2.1. Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Cả thành ngữ và cụm từ tự do đều là những tổ hợp do từ cấu tạo nên và hoạt
động với tư cách là những bộ phận cấu thành câu. Sự khác nhau giữa chúng có thể
được cụ thể hoá qua bảng so sánh sau:
Cụm từ tự do Thành ngữ
Là một kết hợp tạm thời, mỗi lần dùng
đều được cấu tạo mới và chỉ tồn tại
trong phạm vi một văn cảnh nhất định
Những bộ phận cấu thành cụm từ tự do
có thể được thay thế bằng những từ khác
cùng loại, chỉ làm tăng giảm nghĩa của
từ cụ thể còn nghĩa của cụm từ không bị
phá vỡ
Là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, có cấu trúc
bền vững luôn được tái hiện dưới dạng
có sẵn với cùng một thành phần yếu tố
cố định.
Thành ngữ không thể bỏ đi hay thay thế
bất kì yếu tố nào mà không phá vỡ nghĩa
ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi
tên sự vật, tính chất, hành động. Tục ngữ thông báo một nhận định, một kết luận về
một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy, mỗi một câu tục ngữ đọc
lên là một câu hoàn chỉnh về diễn đạt, trọn vẹn về ý tưởng. Hoàng Văn Hành và
một số tác giả ở Viện Ngôn Ngữ học trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” đã
nhận xét thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ nhưng khác tục ngữ về
bản chất. Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu hiện những khái niệm một
cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu-ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán
đoán một cách nghệ thuật
Và chúng ta có thể tóm tắt sự khác biệt giữa chúng thông qua bảng sau:
Thành ngữ Tục ngữ
Thường thể hiện chức năng định
dạng giống như từ và trong câu
chúng hoạt động như những định
vị điểm danh
Là một thông báo đầy đủ, trong
câu chúng hoạt động như những
đơn vị thông báo
Làm một bộ phận cấu thành câu Làm một câu độc lập hoàn chỉnh.
Ví dụ:Thay da đổi thịt Ví dụ:Ăn vá học hay
*)Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ
+ Thành ngữ và tục ngữ là những đơn vị có sẵn với cấu trúc rất bền chặt, cố
định, trong đó không thể dễ dàng thay đổi trật tự các yếu tố
+ Cả thành ngữ và tục ngữ đều có nội dung ngữ nghĩa mang tính khái quát
hình ảnh và nghĩa bóng. Tính hình ảnh của tục ngữ cũng xuất hiện nảy sinh bằng
con đường phát triển nghĩa mới, kết quả- trìu tượng giống như thành ngữ
+ Tục ngữ ngắn gọn về hình thức, phương pháp về nội dung, có vần điệu
uyển chuyển giống như thành ngữ.
Rừ rng ranh gii gia thnh ng v tc ng l khụng rừ rng, khụng d nhn
bit bi vỡ bao gi cng cú nhng n v quỏ , trung gian. Tuy nhiờn cú th núi
đối xứng
Thành ngữ
Phi đối xứng
Thành ngữ
Phi đối xứng
dạng miêu tả
Thành ngữ
Phi đối xứng
dạng so sánh
Kết cấu cú pháp của thành ngữ có một số khuôn mẫu nhất định đó là: quan
hệ cụm chủ vị, quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập và quan hệ đề thuyết. Trong
báo cáo này chúng tôi sẽ tiến hành phân loại, phân tích các thành ngữ trong truyện
ngắn của Nam Cao theo sự phân loại thành ngữ thành hai loại thành ngữ đối xứng
và phi đối xứng như đã nói ở trên và đi sâu vào các kết cấu của thành ngữ.
II. Phân tích, phân loại các đơn vị thành ngữ tiếng Việt trong các truyện ngắn
của Nam Cao giai đoạn 30-45
1. Phân loại một cách khái quát
Thành ngữ Tiếng Việt nói chung thường được chia thành 2 loại thành ngữ
lớn đó là thành ngữ đối xứng và thành ngữ phi đối xứng hay còn được gọi là thành
ngữ ẩn dụ hoá đối xứng và ẩn dụ hoá phi đối xứng. Trong mỗi loại lại chia thành
nhiều dạng thành ngữ nhỏ hơn, chủ yếu là được phân chia theo đặ trưng cú pháp,
đặc biệt là các mô hình. Trong báo cáo này chúng tôi xin theo cách phân loại đó để
tiến hành phân tích các thành ngữ được Nam Cao sử dụng trong các truyện ngắn
của ông.
2. Phân tích
2.1. Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng
Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng
Việt. Theo thống kê của chúng tôi, trong các truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn
30-45 loại thành ngữ này là 115/291 thành ngữ, chiếm 39,52%. Đặc điểm nổi bật
của loại thành ngữ này về mặt cấu trúc đó là có tính chất đối xứng giữa các bộ phận
Mồ hôi nước mắt
Đầu xuôi đuôi ngược
Bữa bưng bữa vực (Bữa lưng bữa vực)
Hán phù hộ độ trì
Con sâu cái kiến
Cờ bạc/ rượu chè
Chết đói chết khát
Trong các ví dụ trên hai vế của thành ngữ tương ứng về cấu trúc từ vựng.
Chẳng hạn như ở thành ngữ “mồ hôi nước mắt” thì “mồ hôi” và “nước mắt” là hai
danh từ, ở thành ngữ “cờ bạc rượu chè” thì “cờ bạc” và “rượu chè” cũng đều là hai
danh từ chung,… còn ở thành ngữ “phù hộ độ trì” cũng như “chết đói chết khát” thì
hai vế tương ứng của mỗi thành ngữ đều là nội động từ.
+ Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chính phụ.
Trong số 105 thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố có tới 88 thành ngữ
thuộc loại này, tức là chiếm 83,81%. Như vậy có thể nói loại thành ngữ này chiếm
đại đa số và có vai trò rất lớn trong nghệ thuật sử dụng của nhà văn. Phân tích loại
thành ngữ này chúng tôi xin đi sâu vào các mô hình thường gặp cụ thể như sau:
*) Mô hình 1: động từ- danh từ + danh từ- tính từ.
Loại thành ngữ thuộc mô hình này chiếm 39,77% tổng số thành ngữ đối
xứng bốn yếu tố có mỗi vế là một kết cấu chính- phụ.
Có thể kể ra một số ví dụ như:
Cãi chày cãi cối.
1 2 3 4
Thắt lưng buộc bụng.
1 2 3 4
Giận cá chém thớt.
1 2 3 4
Trong thành ngữ thứ nhất, những yếu tố 1 và 3 -cãi - là động từ, 2 và 4 -
chày- và cối là danh từ.
Trong thành ngữ thứ hai, những yếu tố thứ 1 và 3 - thắt và buộc- là động từ,
do phạm vi nghiên cứu của chúng tôi hẹp nên kết quả thu được là chưa khả quan
nhưng số lượng này lại cho thấy rằng Nam Cao trong tác phẩm của mình rất ít sử
dụng loại thành ngữ này. Và đó cũng là một điểm quan trọng trong cách sử dụng
thành ngữ của Nam Cao- một phần mục đích thực hiện đề tài này của chúng tôi.
Cụ thể số thành ngữ này ở số liệu mà chúng tôi thu được chỉ có 7 thành ngữ, tức là
chỉ chiếm 7,95%. Một số ví dụ là:
Đầu bù tóc rối.
Nay ốm mai đau.
Chân yếu tay mềm.
Lời hay ý đẹp.
Cũng như ở mô hình thứ nhất, trong số thành ngữ thuộc mô hình này có
những thành ngữ mang yếu tố lặp. Yếu tố lặp lại thường là ở yếu tố thứ nhất. Ví
dụ: Ống thấp ống cao.
Từ ghép có vai trò quan trọng trong việc tạo nên loại thành ngữ thuộc dạng
này. Chẳng hạn như:
Thành ngữ “đầu bù tóc rối” được tạo nên bởi từ ghép“ đầu tóc” kết hợp với
từ đơn “bù” và “rối”.
Thành ngữ “nay ốm mai đau” được tạo nên bởi sự xen ghép giữa hai từ ghép
“nay mai” và “ốm đau”.
Thành ngữ “chân yếu tay mềm” được tạo nên bởi sự xen ghép giữa hai từ
ghép “chân tay” và từ “yếu mềm”.
*) Mô hình 3: danh từ- động từ + danh từ- động từ.
Loại thành ngữ có cấu trúc “danh từ- động từ + danh từ- động từ” chỉ chiếm
5,68% (5 trong số 88) thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố được sử dụng trong
truyện ngắn Nam Cao. Ví dụ:
Tiền mất tật mang
Đầu trộm đuôi cướp
Cơm bưng nước rót
Thập tử nhất sinh
Người ghét của ưa
mặt ngữ nghĩa, chúng cùng thuộc một trường nghĩa: “năm, bẩy”, “một, hai” ,
“nắng, sương”…. Các yếu tố thuộc thành ngữ loại này đều thuộc về một loại từ
loại. Danh từ có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc thành ngữ bốn yếu tố đối
xứng.
Nghĩa của các yếu tố danh từ trong thành ngữ loại này rất đa dạng: liên quan
đến thiên nhiên, con người và hoạt động của con người, động vật, sự vật… tức là
nó liên quan đến nhiều hiện tượng khách quan của thế giới bên ngoài. Số lượng
những thành ngữ có yếu tố 1, 3 là số từ chiếm khá lớn. Ví dụ như:
Năm bè bảy bối
Một nắng hai sương
Có trường hợp yếu tố 2, 4 là số từ như: “mồm năm miệng mười”
Loại thành ngữ này có thể có yếu tố lặp. Danh từ ở vị trí 1 và 3 có sự lặp lại.
Ví dụ: “đầu bò đầu bướu” . Trong số liệu của chúng tôi không có trường hợp yếu
tố ở vị trí 2 lặp lại ở vị trí 4.
*) Mô hình 6: tính từ-danh từ + tính từ-danh từ.
Loại thành ngữ này có số lượng không lớn, chỉ thu được 4 đơn vị, chiếm
4,54% tổng số thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố
Tím ruột tím gan
Mát lòng mát dạ
Mát lòng mát ruột
Trơn lông đỏ da
Trong các loại thành ngữ này chúng tôi nhận thấy có hai đặc điểm nổi bật
nhất đó là cấu trúc lặp yếu tố 1, 3 và cách đảo ngược trật tự từ. Cũng như nhiều mô
hình đã nói ở trên thành ngữ có thể có yếu tố lặp.
Chẳng hạn:
Mát lòng mát dạ
Tím ruột gan
Yếu tố lặp ở đây vẫn là ở vị trí 1 và 3.
Đặc điểm thứ hai có thể nói đến đó là thông thường những từ như “ruột tím”,
“gan tím” là chỉ màu sắc bộ phận của cơ quan người khi bị thương chẳng hạn, đó là