Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn trong tập truyện ngắn “Đêm tái sinh” của tác giả Trần Thuỳ Mai" - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
93
Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn
trong tập truyện ngắn Đêm tái sinh
của tác giả Trần Thuỳ Mai

Nguyễn Thị Hải Yến
(a)Tóm tắt. Cấu trúc câu ở dạng mô hình không có mối liên hệ nào với ngữ nghĩa,
nhng khi tham gia hành chức, cấu trúc câu văn sẽ có t cách là một tín hiệu nghệ
thuật, bởi nó biểu đạt ngữ nghĩa mang tính mã hoá của ngôn ngữ nghệ thuật. Thông
qua việc khảo sát cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn tập truyện Đêm tái sinh chúng tôi
nhận thấy cấu trúc câu hội thoại trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai có vai trò biểu đạt
ngữ nghĩa, thể hiện tính hình tợng nhân vật, tính thẩm mĩ, tính sáng tạo mang phong
cách tác giả.

1. Đặt vấn đề
Cấu trúc câu văn và việc biểu đạt
ngữ nghĩa luôn có quan hệ biện chứng.
Tuy không qui định đợc sự tơng ứng
một cách cố định bất biến, tất yếu giữa
câu trúc câu và nội dung ngữ nghĩa của
nó, nhng xuất phát từ đặc điểm của

ngắn trong tập Đêm tái sinh và so sánh
với một một số truyện ngắn của hai tác
giả cùng thời Nguyễn Huy Thiệp và
Nguyễn Thị Thu Huệ (số trang viết
tơng đơng), kết quả khảo sát nh
Bảng 1.
Qua bảng thống kê, ta thấy câu
đơn bình thờng chỉ có một kết cấu Chủ
Vị làm nòng cốt câu xuất hiện nhiều
nhất (từ 37,7% trở lên) và có tỉ lệ đồng
đều giữa 3 tác giả. Sự khác biệt về các
kiểu câu thể hiện chủ yếu ở câu đơn
đặc biệt, câu đơn mở rộng thành
phần và câu ghép. Vì vậy chúng tôi
dừng lại phân tích ở ba nhóm này.

Nhận bài ngày 04/12/2006. Sửa chữa xong 20/12/2006.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
94

Bảng 1. Thống kê cấu trúc câu hội thoại ở một số truyện ngắn của các tác giả
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ và Trần Thuỳ Mai

Câu đơn

40
33,3%

54
45%
9
7,5%
17
14,1%

120
2

Thể Cúc
27
17,7%

72
47%
15
9,8%
39
25,4%

153
3

Gió thiên đờng
48
29,9%

98
59,8%
7
4,3%
11
6,7%

164
6

Thập tự hoa
10
12,6%

43
54,4%
8
10,1%
18
22,8%

79

Nguyễn Huy Thiệp 1

Tớng về hu
87


Nguyễn Thị Thu Huệ 1

Một nửa cuộc đời
73
38,3%

99
51,8%
5
2,6%
14
7,3%

191
2

Ngời xa
33
62,2%

20
37,7%
0 0
53
3


2.1. Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ
nghĩa trong câu tĩnh lợc
Trong câu đơn đặc biệt, có thể có ba
tiểu nhóm: câu đơn đặc biệt tự thân,
câu tách biệt và câu tĩnh lợc. Câu tách
biệt, nh:

Hua Tát, mọi ngời đều có
một gia đình nề nếp của mình. Thật
cha bao giờ có một gia đính nào quái
gỡ nh thế này. Vợ không chồng. Con
không bố. Chín đứa con. Chín đứa
mà chẳng đứa nào giống đứa nào.
(Nguyễn Huy Thiệp, Nh những ngọn
gió Hua Tát, tr.489) có liên quan đến
cấp độ văn bản, gắn với ý đồ nghệ thuật
riêng của tác giả, nên trong phần câu
hội thoại này, chúng tôi không đi sâu
phân tích. Câu đặc biệt tự thân luôn tồn
tại nhờ ngữ cảnh nên chúng tôi cũng
không đề cập đến trong bài viết này.
Chúng tôi chỉ dừng lại phân tích ở kiểu
câu tĩnh lợc.

Bảng 2. Phân loại câu đặc biệt ở một số truyện ngắn của các tác giả
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ và Trần Thuỳ Mai

TT

Kiểu câu

13,7
3 Gió thiên đờng
160 1
0,6
47
29,3
4 Lên phố
132
1
0,8%
3
2,3%
43
32,6%
5
Huyền thoại về chim
phợng
164
14
8,5%
1
0,6%
33
20,1%
6 Thập tự hoa
79
2
2,5%
8
10,1%

12
6,3%
7
3,7%
54
28,3%
2 Ngời xa
53
6
11,3%
2
3,8%
25
47,1%
3 Mại
129
16
12,4%
1
0,8%
41
31,8%
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
96

Thuỳ Mai thể hiện những nội dung ngữ
nghĩa sau:
a. Biểu hiện cao trào xúc cảm của
nhân vật
Trong các câu mà tác giả Trần
Thùy Mai sử dụng, chúng tôi nhận thấy
kiểu câu tĩnh lợc thờng xuất hiện
trong những đoạn thoại nhân vật có
những xáo trộn, dằn vặt về tâm trạng.
ái Duy trong Nàng công chúa lạc loài
mồ côi mẹ từ nhỏ và em rất yêu ba, gần
nh tôn thờ nhng khi đối mặt với một
sự thật phũ phàng rằng ba cô có quan
hệ bất chính với một phụ nữ cùng cơ
quan và còn trù dập ngời ta thì lời cô
bé nh nghẹn lại:
(1) - Tại sao? Cô xé của ba tôi
Nhng lúc nào?
- Lúc ông ấy nằm trên bụng
tôi [5, tr. 336].
Bàng hoàng, đau đớn, những con
ngời trong gia đình Khôi trong truyện
Chuyện cũ quê nhà lại sử dụng lời thoại
rời rạc đứt đoạn:
(2) - Một lát sau, bà tôi hỏi, run
run:
- Mấy tháng rồi?
Mẹ tôi vẫn cúi gục đầu.
- Ba.
- Ai?

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
97
câu nói ý nhị, để nói lên lời của trái tim
đang thổn thức vì tình yêu, gửi gắm
những điều khó diễn đạt, vì vậy chúng
tạo nên nét riêng của truyện:
(3) - Thì bây giờ cũng không hề
khác. Em biết, chính vì em mà anh trở
về.
- Muộn quá rồi!
- ít ra cũng phải gặp nhau để nói
rằng đã muộn [5, tr.505].
(4) - Khách hàng là thợng đế, anh
đã đóng vai trò thợng đế, cho nên mới
giữ đợc em ở đây, giờ này, trên sông
này.
- Và chỉ có thế thôi Trang lạnh
lẽo đáp [5, tr.509].
Trong Gió thiên đờng Mi trả lời
Hiếu khi cô biết anh ta không chung
thuỷ trong tình yêu, một cách nói ý nhị,
sâu sắc: Mi đi đâu vậy?. Đi để nhìn.
Để thấy con ngời không đơn giản
Câu chứa nghĩa hàm ngôn xuất
hiện trong những đoạn thoại ngời nói
muốn diễn đạt những nội dung ý nhị có
khi để né tránh, cũng có khi gửi gắm

(5) - Ngời nhà của cô đâu?
- Anh ấy đi công tác.
- Có ai ở đây không? Giọng bà
hơi gắt. ánh mắt bà nhìn My nh nhìn
con mèo hoang.
- Không kịp báo cho ai biết.
- Nếu phải mổ đẻ thì ai là ngời
kí biên bản? [6, tr. 322].
Trong truyện ngắn của Trần Thuỳ
Mai có hiện tợng đặc biệt là câu tĩnh
lợc không nhằm hớng đến biểu đạt
quan hệ xa cách giữa các nhân vật.
Ngợc lại trong các đoạn thoại, câu tĩnh
lợc đợc sử dung thể hiện không khí
thân mật gắn kết của con ngời trong
quan hệ tình bạn, tình yêu, tình ngời.
Lời thoại giữa Chị Trúc và Hiệp,
nghe có vẻ gắt gỏng nhng trong đó
tràn ngập tình thơng:
(6) - Trời đất, có sao không, Hiệp
ơi!
- Thôi mặc xác tôi [5, tr. 8].
Nhân vật trẻ tuổi Tý và Dũng
trong Lên phố dùng câu tĩnh lợc trong
hội thoại với ý nghĩa thể hiện sự thân
mật, gần gũi, sự thông cảm và thấu
hiểu nhau:
(7) - Chị Sanh cời: Có anh sinh
viên mô cùng lớp làm mai cho hắn một
anh. T í háy chị Sanh một cái Mình

điểm của mẹ [5, tr. 446].


Đêm tái sinh sự xuất hiện câu
tĩnh lợc làm cho ngôn ngữ hội thoại tự
nhiên, gần với ngôn ngữ cuộc sống hơn
và đặc biệt nó thể hiện đợc đặc điểm
về tâm lí lứa tuổi của nhân vật. So sánh
với ngữ cảnh có câu tĩnh lợc trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta
thấy có sự khác biệt ở chỗ, câu tĩnh lợc
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
đợc dùng phổ biến ở hầu hết ở các
nhân vật, không phân biệt về tuổi tác
và vị thế. Ví dụ nh lời thoại giữa ngời
cha và ngời con:
(10) - Lão Kiền bảo: Làm ngời
nhục lắm. Đoài hỏi: Thế sao không lấy
vợ lẽ? [5, tr.100].
- Lão Kiền bảo: Tìm thấy
nhẫn rồi. Cấn hỏi: ở đâu? Lão Kiền
bảo Vợ mày dấu trong cạp quần chứ
đâu [5, tr.101].
d. Liên kết các đoạn thoại, chú
trọng biểu đạt thông tin chính
Một trong những vai trò của câu
tĩnh lợc là liên kết các đoạn thoại. Câu
tĩnh lợc xuất hiện khi đã có câu trớc
hoặc sau đầy đủ thành phần, nó tồn tại
dựa vào câu trớc hoặc sau nó, sự xuất

về lý thuyết gắn với các quan niệm về
thành phần phụ mà chúng tôi chỉ chọn
cách quan niệm về thành phần chính và
thành phần phụ của câu để phân loại
theo Ngữ pháp tiếng Việt của tác giả
Diệp Quang Ban (TLTK 1).
Khảo sát câu văn của Nguyễn Huy
Thiệp, chúng tôi nhận thấy ông thờng
dùng câu đơn chỉ có một kết cấu C -V
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
99
không có thành phần phụ, nên độ dài
của phát ngôn thờng ngắn gọn:
(12) - Vừa may lúc Khảm về. Cấn
bảo: Thằng bạn mày lấy cắp nhẫn của
chị Sinh. Khảm tái mặt hỏi: Ai bảo
thế? Cấn bảo: Mắt tao trông thấy [8,
tr. 99]. Câu đơn không có thành phần
phụ nh ở ví dụ trên khi đợc sử dụng
liên tiếp trong đoạn thoại tạo nên
không khí căng thẳng, thiếu sự giao
thoa tình cảm trong giao tiếp. Đây là
dụng ý của ngời viết.
Trái lại, trong truyện ngắn Trần

ngời, tình đời tận đáy lòng mà trớc
đây anh đã đánh mất lại trở về trong lời
thoại của nhân vật:
(14) - Vâng. Hôm nay, nếu đồng ý,
anh sẽ đa em đi chơi để nhìn trời đất
giáng sinh [5, tr. 340].
Kiều Dung thổn thức trớc cuộc
gặp gỡ bất ngờ với ngời cô yêu thơng
và chờ đợi, cô bày tỏ lòng mình qua lời
nói, bằng trạng ngữ tạo điểm nhấn về
ngữ điệu mời sáu năm nay:
(15) - Anh biết không, mời sáu
năm rồi, em luôn mong gặp lại anh. Em
muốn hỏi anh một câu thôi!
- Em muốn biết ngày ấy có
đúng là anh đã ghi nguyện vọng khác
với nguyện vọng của em không? Mời
sáu năm nay em cứ trăn trở hoài vì câu
nói ấy [5, tr. 45].
2.2.2. Thành phần liên ngữ kết nối
các lời thoại tạo nên đoạn thoại liên kết
chặt chẽ thể hiện thái độ mong muốn
đạt mục đích giao tiếp các nhân vật
Lời thoại nhân vật trong Đêm tái
sinh ít có hiện tợng đứt gãy, chuệch
choạc dù trong trờng quan hệ giữa các
nhân vật đã có những rạn nứt nhờ sự
xuất hiện của thành phần liên ngữ, ví
dụ:
(16) - Em muốn ở lại đây vài hôm

[5, tr. 416].
2.2.3. Thành phần phụ tình thái
ngữ trong câu đơn có vai trò thể hiện
tình cảm, cảm xúc nhân vật
Thành phần phụ tình thái đợc sử
dụng trong ngôn ngữ hội thoại thể hiện
tình cảm, xúc cảm nhân vật, thờng là
quan hệ thân mật và mong muốn xích
lại gần nhau. Lời hội thoại thờng
hớng tới tính lịch sự, chứa đựng tình
cảm và mong muốn thiết lập quan hệ
gần gũi với ngời nghe:
(18) - Này Nh Nh, - Stéphacô bảo
tôi - trớc đây tôi cứ tởng Máccô chỉ
đơn giản đi tìm sự giàu có. Còn giờ đây
tôi tin là anh ta đã bị sự huyền ảo của
một thế giới khác thu hút.
- Thế nhng cuối cùng ông ấy
cũng rời Trung Hoa, trên một con
thuyền.
- Nh Nh, ông ấy thật hạnh
phúc, đã ra đi cùng một nàng công chúa
[5, tr. 416].
2.3. Câu đơn mở rộng thành phần
Câu đơn mở rộng thành phần là
câu có thành phần mở rộng là một kết
cấu C-V [3, tr.119]. Tác giả Diệp
Quang Ban gọi tên loại câu này là Câu
phức, theo tác giả ở câu phức, tuy có
hai (hoặc hơn hai) kết cấu chủ vị, nhng

không quá 2%. Tác giả Nguyễn Thị Thu
Huệ có sử dụng loại câu này, nhng số
lợng hạn chế, chỉ chiếm 2,6%.
Đối với Trần Thuỳ Mai, tác giả sử
dụng câu đơn mở rộng thành phần
trong câu hội thoại với tỉ lệ cao so với
các tác giả khác, có tới 10,1% . Câu mở
rộng thành phần bao gồm ba loại: câu
mở rộng thành phần phụ bổ ngữ, câu
mở rộng thành phần phụ định ngữ và
câu mở rộng thành phần phụ chú thích.
Trong đó câu mở rộng thành phần phụ
bổ ngữ có tỷ lệ sử dụng cao nhất, chiếm
60,1% trong 10,1%.
(20) - Biết đâu cô có thể giúp tôi
đợc nhiều hơn ngời ta // tởng [5,
tr.478].
2.4. Câu ghép
Có một xu hớng đổi mới văn xuôi
hiện nay là tạo ngôn ngữ xù xì góc cạnh
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
101
nhằm thể hiện mặt trái của cuộc sống,
một lĩnh vực mà trớc đây văn học ngại

số lợng là: Tớng về hu có 26 câu,
chiếm 10,2%; Không có vua có 33 câu,
chiếm 8,6% và ở Nguyễn Thị Thu Huệ
có số lợng là: Một nửa cuộc đời có 14
câu, chiếm 7,3%; Mại có 7 câu, chiếm
5,5%. Con số này cho thấy Trần Thuỳ
Mai sử dụng câu ghép trong hội thoại
nhiều nhất. Lý giải điều này có thể có
nhiều lý do, ở đây chúng tôi dừng lại ở
nhân tố cảm xúc, tâm lý nhân vật, nội
dung cần diễn tả đã chi phối đến việc sử
dụng câu ghép với sự kéo dài lời thoại
nhân vật.
Trong một số ngữ cảnh nếu sử
dụng câu đơn một kết cấu C-V hay câu
tĩnh lợc thì không thể chuyển tải đợc
tâm trạng cảm xúc của nhân vật. Ngân
trong Đêm tái sinh có tình yêu tha thiết
với nghệ thuật xiếc, nhng cuộc sống
vốn không đơn giản đã tớc đi của cô sự
nghiệp, và khát vọng cống hiến. Câu hội
thoại đợc kéo dài bằng cấu trúc câu
ghép, thể hiện nỗi niềm của ngời nói:
(21) - Tự nhiên sức//xuống hẳn,
em // không thể múa thêm nổi nữa, tim
em // đập ghê quá, cơ bắp // y nh
nhão ra, em // sợ rơi vòng mất không
hiểu vì sao [5, tr. 236].
Câu ghép hội thoại có khả năng
chuyển tải nhiều nội dung thông tin với

3. Kết luận
Thông qua việc sử dụng đa dạng
các kiểu cấu trúc câu, câu văn hội thoại
trong tập truyện Đêm tái sinh không
còn giới hạn ở nghĩa trao đổi thông tin,
mà đã vợt lên biểu lộ nỗi lòng nhân
vật, thể hiện một thế giới nhận vật có
chiều sâu nội tâm, coi trọng những giá
trị tinh thần cũng nh các quan hệ liên
nhân.
Tìm hiểu cấu trúc câu trong quan
hệ với ngữ nghĩa là một hớng nghiên
cứu ngôn ngữ từ bình diện ngữ dụng học
cần đợc quan tâm. Cấu trúc câu ở dạng
mô hình không có mối liên hệ nào với
ngữ nghĩa, nhng khi tham gia hành
chức, cấu trúc câu văn là một tín hiệu
nghệ thuật biểu đạt ngữ nghĩa mang
tính mã hoá của ngôn ngữ nghệ thuật. Tài liệu tham khảo
[1] Diệp Quang Ban, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Đại học Huế, 2004.
[2] Phan Mậu Cảnh, Câu đơn phần trong tiếng Việt, NXB Trờng ĐHSP Hà Nội,
2005.
[3] Đinh Trọng Lạc, 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục,
2005.
[4] Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2002.
[5] Trần Thuỳ Mai, Đêm tái sinh, NXB Thuận Hoá, 2004.
[6] Nhiều tác giả, Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học, 2002.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status