Báo cáo nghiên cứu khoa học: "PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CÚ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA CẤU TRÚC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SO SÁNH NGANG BẰNG VỚI “AS...AS” TRONG TIẾNG ANH ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT" - Pdf 19

PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CÚ PHÁP, NGỮ NGHĨA
CỦA CẤU TRÚC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SO SÁNH
NGANG BẰNG VỚI “AS AS” TRONG TIẾNG ANH
ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
AN ANALYSIS OF THE SYNTACTIC AND SEMANTIC FEATURES OF THE
ENGLISH COMPARISON STRUCTURE EXPRESSING THE EQUALITY
MEANING WITH "AS AS" AND ITS VIETNAMESE EQUIVALENTS LƯU QUÝ KHƯƠNG
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Bài viết phân tích, đối chiếu đặc điểm kết học và nghĩa học của cấu trúc so sánh ngang bằng
với cặp từ tương liên “as as” trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt; đồng thời,
mô hình hoá và thống kê tần số xuất hiện của các biến thể giúp khắc phục những chuyển di
tiêu cực khi dịch cấu trúc này từ Anh sang Việt và ngược lại, nâng cao năng lực sử dụng
ngôn ngữ cho người học.
ABSTRACT
This paper analyses and compares the syntactic and semantic features of the English
comparison structure expressing the equality meaning with “as as” with its Vietnamese
equivalents; all the variants of the structure and their Vietnamese equivalents are modellised
and their occurrence frequency is counted. The findings help language learners overcome
difficulties caused by the interference when translating this structure into Vietnamese. 1. Giới thiệu
Ý nghĩa so sánh, theo Trần Hữu Mạnh [22,1] “là một khái niệm được sử dụng thường
nhất trong mọi ngôn ngữ từ trước tới nay”. Mặc dù là một phổ niệm, các phương tiện biểu
hiện ý nghĩa so sánh trong các ngôn ngữ lại không hoàn toàn như nhau. Ở Ngữ học trẻ [10,

(Khi bạn đủ mười tám tuổi, bạn có thể bỏ phiếu).
Cần lưu ý rằng xét về mặt hình thức, (4) là một câu SSNB thang độ, nhưng thực chất
đây không phải là một câu so sánh. Rusiecki [18, 146] gọi là câu so sánh giả (pseudo-
comparative sentence). Tính từ “old” không đánh dấu, nó chỉ nói đến tuổi tác (age) mà thôi.
Cặp từ “as as ” trong các ví dụ trên có một yếu tố khác biểu thị thang độ so sánh
chêm xen vào giữa. Yếu tố đó có thể là một tính từ (câu 1) hoặc trạng từ (câu 2). Ngoài ra, sau
chỉ tố so sánh “as” còn có thể là một từ chỉ số lượng (quantifier) như “much” (câu 2), “many”,
“few”, “little”
(5) Isabelle has as many books as her brother (has). [18, 1137]
(Isabelle có nhiều sách như em trai cô).
Thành tố so sánh trong cấu trúc này có thể nhận bổ ngữ là các trạng từ như “not
nearly” (hầu như không), “almost” (hầu như), “just” (cũng), “nothing like” (hoàn toàn
không), “không hề”, “very bit” (chẳng thua gì, chẳng kém gì), “exactly” (chính xác), “not
quite” (không hoàn toàn) Ví dụ:
(6) She's very bit as beautiful as her sister. [21, 70]
(Cô ta đẹp chẳng kém gì chị mình).
(7) Her cooking is nothing like as good as yours. [23, 1142]
(Cách nấu nướng của cô ấy hoàn toàn không ngon như cách của chị).
Có thể lược từ “as” thứ nhất trong cặp tương liên “as as” trong các trường hợp sau:
a. Khi động từ trong mệnh đề chính là động từ “to be” (là), đặc biệt là trong văn phong
trang trọng. Ví dụ:
(8) Walking down the garden towards Greg, Stephanie was beautiful as she had never
been before. (Thay vì nói: “Stephanie was as beautiful as ”) [12, 38]
(Bước xuống vườn về hướng Greg, Stephanie trông đẹp hơn bao giờ hết).
b. Trong lời nói thân mật, nếu bổ ngữ của chủ ngữ được đưa ra đầu câu, sự vắng mặt
của từ “as” này làm cho sự nhấn mạnh ý nghĩa so sánh bị yếu đi. Ví dụ:
(9) White as snow, it was. (Thay v×: “It was as white as snow”). [17, 1138]
(Nó trắng như tuyết).
c. Trong các mệnh đề bổ sung không có động từ và chủ ngữ (verbless and subjetless
suplementive clause) khi câu xuất hiện trong văn phong văn học. Ví dụ:

(Bill không thông minh như Jill).
Phương tiện của tiếng Việt tương đương với dạng phủ định của “as as ” là “không
như; bằng; giống”, “chẳng bằng; giống”, “chả bằng; giống; như”. Tuy vậy, nghĩa
của những câu được cải biến không hoàn toàn như nhau. Chẳng hạn, với câu (15), nếu người
nói có niềm tin dứt khoát hơn sẽ nói là “Bill chẳng thông minh như Jill” [7, 14], [5, 25].
Trong lời nói thân mật, có thể thay thế từ “không” bằng từ “chả”: “Bill chả thông minh như
Jill”.

3. Đặc trưng ngữ nghĩa của cấu trúc SSNB với "as as " trong tiếng Anh và
tương đương trong tiếng Việt
Khi xét đến đặc trưng ngữ nghĩa của cấu trúc “as as ”, Allan [1, 17] cho rằng câu
“John is as tall as Al” (John cao như Al) hàm chỉ là “Chiều cao của John lớn hơn hoặc bằng
chiều cao của Al”. Mitchell [11: 59] cũng cho rằng không có sự mâu thuẫn nào trong các cặp
câu sau đây:
(16) Mary is as tall as her father. In fact, she's taller than him. [11, 59]
Mary cao như bố. Thật ra là cô cao hơn ông ta.
(17) Mary is as tall as her father. In fact, they are identical in height. [11, 59]
(Mary cao như bố. Thực ra, họ cao giống nhau).
Vậy, về mặt ngữ nghĩa, cấu trúc SSNB thang độ “as as ” diễn tả ý nghĩa “lớn hơn
hoặc bằng” hoặc “ít nhất là tương đương” [9, 1100]. Nói cách khác, ý nghĩa so sánh biểu đạt
bằng cấu trúc so sánh "as as " có tính tương đối. Điều này cũng phù hợp với cấu trúc so
sánh tương đương với “as as ” trong tiếng Việt. Sự tương đồng này chứng tỏ rằng nhu cầu
giao tiếp và các ý nghĩa được biểu hiện qua giao tiếp giữa các dân tộc là như nhau, chỉ có
phương tiện ngôn ngữ cụ thể là khác nhau. Tuy nhiên, câu “John is as tall as Al” khi dịch sang
tiếng Việt còn có thêm một biến thể nữa là “John cao ngang Al”. Từ “ngang” nói lên rằng
“chiều cao của John và Al là giống nhau”, sự tương đối bị mất đi. Do đó, tuỳ theo ngữ cảnh,
người nói sẽ chọn “như” hay “ngang” khi giao tiếp.

4. Mô hình hoá cấu trúc SSNB với "as as " trong tiếng Anh và tương đương
trong tiếng Việt

Như, y như
Mệnh đề
Động từ Trạng từ
Từ chỉ số lượng
Từ chỉ số lượng + cụm
danh từ


Tựa như
Cũng như
Tày, hệt
Bằng, ngang
Hao hao
Không kém
Chẳng khác gì
Chẳng kém gì
(cụm) danh từ
Trạng từ
Đại từ nhân xưng
(cụm) động từ

Trong tổng số 299 mẫu câu có cấu trúc “as as ” thu thập được, câu với mô hình “as
as + (cụm) danh từ” có tần số xuất hiện cao nhất là 142, chiếm tỉ lệ 47,49%. Câu “as
as + mệnh đề” có 70 mẫu, tần số xuất hiện 23,41%.
Cũng theo bảng trên, cấu trúc với “as as ” trong tiếng Anh có ít nhất là 11 biến thể
tương đương trong tiếng Việt. Trong đó, yếu tố “như” có tần số cao nhất là 125 mẫu, tiếp theo
là “giống như” và “bằng”. Yếu tố có tần số thấp nhất là “chẳng kém gì”.
Trong số 70 câu thu thập được có chứa cấu trúc phủ định của “as as ”, có 18 câu
(25,71%) là “as” được thay bằng “so”, trong 52 câu còn lại (74,29%) “as” vẫn được giữ
nguyên. Sự khác biệt này cho thấy, tiếng Anh có khuynh hướng càng ngày càng đơn giản hoá

[7] Hoàng Trọng Phiến, Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt, TokyoUniversity of Foreign
Language Studies, Tokyo, 1991.
[8] Hồ Chí Minh, Nhật ký trong tù (Nhà xuất bản Ngoại Văn Hà Nội dịch năm 1983:
"Prison Diary"), Nxb Phổ Thông, Hà Nội, 1971.
[9] Huddleston, R. & Pullum, G.K, The Cambridge Grammar of the English Language,
CUP, 2002.
[10] Lưu Quý Khương, "Khảo sát một số cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
trong tiếng Anh và tiếng Việt", Ngữ học trẻ 2001, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, tr.
246 – 252, 2001.
[11] Michell, Keith, “On Comparisons in a Notional Grammar”, Applied Linguistics 11, pp.
57-72, 1990.
[12] Miles, R., Return to Eden (Lê Xuân Sơn, Nguyễn Thị Kim Hiền dịch: Trở về Eden -
1993), Guild Publishing, London, 1984.
[13] Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng (Nhà xuất bản Ngoại Văn Hà Nội dịch năm
1983:"Impasse"), Nxb Văn Nghệ, Tp Hồ Chí Minh, 1999.
[14] Nguyễn Huy Thiệp, Như những ngọn gió, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999.
[15] Nguyễn Mạnh Suý (dịch Anh-Việt), Tuyển tập truyện ngắn của Irving Washington,
Nxb Giáo dục, 1998.
[16] Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Cát Tiên (dịch Anh-Việt), 20 truyện ngắn Anh - Việt, Nxb Tp.
Hồ Chí Minh, 1995.
[17] Quirk, R., A Comprehensive Grammar of the English Language, Longman, 1985.
[18] Rusiecki, Jan, Adjectives and Comparison in English: A Semantic Study, Longman,
1985.
[19] Soars, J. & L., Headway: pre-intermediate, OUP, 1995.
[20] Steinbeck, J, The Grapes of Wrath (Phạm Sông Hồng biên tập bản dịch: Chùm nho
phẩn nộ), The Millenium Library, 1993.
[21] Swan, M., Practical English Usage, Oxford University Press, 1995.
[22] Trần Hữu Mạnh, Nhận xét tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn "Các phương thức biểu hiện
ý nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt"của NCS Lưu Quý Khương, Đại học
Ngoại ngữ, ĐHQG Hà Nội, 2004.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status