Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HÀ NGỌC YẾN ĐỐI CHIẾU CÁC PHƢƠNG TIỆN DÙNG ĐỂ XƢNG HÔ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM NGỌC THƢỞNG
Thái Nguyên, 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nào.
Tác giả luận văn Hà Ngọc Yến
Hà Ngọc Yến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Cấu trúc của luận văn 7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp 8
1.1.1. Nhân vật giao tiếp 8
1.1.2. Hoàn cảnh giao tiếp 12
1.2. Lý thuyết về hội thoại 15
1.2.1. Khái niệm hội thoại 15
1.2.2. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự 17
1.3. Phạm trù xưng hô 19
1.3.1. Khái niệm xưng hô 19
1.3.2. Các phương tiện dùng để xưng hô 21
1.4. Tiểu kết chương 1 26
Chƣơng 2: CÁC PHƢƠNG TIỆN DÙNG ĐỂ XƢNG HÔ TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP VÀ TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ 28
2.1. Các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp 28 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, xưng hô là yếu tố đầu tiên mà các vai
giao tiếp cần phải lựa chọn để xác lập vị trí của mình. Dựa vào xưng hô mà
quan hệ giữa các vai giao tiếp được thiết lập. Do đó, sử dụng từ xưng hô
không chỉ giúp cuộc thoại có thể tiến hành mà nó còn ảnh hưởng lớn đến
chiến lược và hiệu quả giao tiếp. Xưng hô đúng, hay sẽ góp phần thúc đẩy
giao tiếp phát triển. Ngược lại, xưng hô không hợp lý sẽ gây ra những hậu quả
không mong muốn trong giao tiếp. Qua cách sử dụng từ xưng hô người ta có
thể biết được tình cảm, thái độ, mối quan hệ, trình độ học vấn của các nhân
vật tham gia giao tiếp.
Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Ngọc Tư là hai tác giả lớn và đã khẳng
định được vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại. Mỗi tác giả
ở một vùng miền, mang một phong cách nghệ thuật khác nhau Do đó, cách
lựa chọn và sử dụng ngôn từ nghệ thuật cũng khác nhau, đặc biệt trong cách
dùng các phương tiện dùng để xưng hô cũng mang đậm đặc điểm của phương
ngữ hai vùng Nam - Bắc.
Lý thuyết giao tiếp và hội thoại đã được đưa vào giảng dạy ở nhà
trường phổ thông. Để hiệu quả giảng dạy cao, người giáo viên văn ngoài việc
nắm vững tri thức cần tạo sức hút cho học sinh thông qua những tác phẩm văn
học đặc sắc, cụ thể.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu đề
tài: "Đối chiếu các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện ngắn của
- Các công trình luận văn, luận án nghiên cứu về xưng hô:
+ Hồ Thị Lân (1989), Tìm hiểu vai trò của từ xưng hô trong giao tiếp
và các nhân tố tác động đến từ xưng hô, Luận văn sau đại học, Trường
ĐHSP Hà Nội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
+ Phạm Ngọc Thưởng (1998), Cách xưng hô trong tiếng Nùng, Luận án
tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội.
+ Lê Thanh Kim (2000), Từ xưng hô và cách xưng hô trong các
phương ngữ tiếng Việt từ góc nhìn của lý thuyết xã hội ngôn ngữ học, Luận án
tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.
+ Bùi Minh Yến (2001), Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài
xã hội của người Việt, Luận án tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.
Điểm qua một số công trình trên, chúng ta thấy xưng hô được nghiên
cứu dưới những góc nhìn khác nhau trong đời sống. Tuy nhiên, theo khảo sát
ban đầu của chúng tôi thì các phương tiện dùng để xưng hô trong một tác
phẩm chưa được đề cập nhiều, đặc biệt là hầu như chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các phương tiện dùng để xưng hô
trong các tác phẩm của các tác giả ở những vùng miền khác nhau. Kế thừa
thành quả các công trình của những nhà nghiên cứu trước đây, chúng tôi hi
vọng luận văn này sẽ có hướng đi mới trong việc tìm hiểu các phương tiện
dùng để xưng hô của người Việt nói chung và các tác phẩm văn học nói riêng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung, nghiên cứu, tìm hiểu các
phương tiện dùng để xưng hô trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Do yêu cầu của đề tài, chúng tôi tìm hiểu các phương tiện dùng để xưng hô
trong 15 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: Chảy đi sông ơi, Tướng về hưu,
- Phương pháp thống kê - phân loại: phương pháp này giúp tập hợp các
phương tiện dùng để xưng hô đã khảo sát được rồi phân loại chúng theo
những tiêu chí đã định sẵn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: phương pháp này được dùng để
miêu tả đối tượng nghiên cứu và bước đầu tổng kết những kết quả đã nghiên
cứu được.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: phương pháp này được dùng để so
sánh, đối chiếu các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục,…
luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
- Chương 3: Sự đồng nhất và khác biệt giữa các phương tiện dùng để
xưng hô trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
Theo Các Mác thì : “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” và
tiếp xúc lần đầu thì các thành viên tham gia giao tiếp phải có bước thăm dò
đối tượng thông qua cách giao tiếp, trình độ văn hoá ứng xử của mình để có
thể thu thập thông tin về đối phương.“Vai giao tiếp chính là cương vị xã hội
của một cá nhân nào đó trong một hệ thống các quan hệ xã hội. Vai được
hình thành trong quá trình xã hội hoá các nhân”. [15, 30]
Mỗi cá nhân trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp nhất định lại đóng một vai
khác nhau hợp thành một bộ vai cho mình trong hệ thống giao tiếp chung,
chẳng hạn: khi đi học là sinh viên, khi đi xem phim là khán giả, khi ở nhà là
con đối với bố mẹ, là anh đối với các em, là cháu đối với ông bà, Sự phong
phú trong các vai giao tiếp từ đó cũng tạo nên sự phong phú trong cách xưng
hô cho mỗi cá nhân.
Các nhân vật trong một cuộc giao tiếp thường có sự phân vai khá rõ
ràng: vai phát ra diễn ngôn tức là vai nói (viết) và vai tiếp nhận diễn ngôn (vai
nghe). Khi giao tiếp trực tiếp, hai vai này thường luân chuyển, đổi vai cho
nhau. Việc đổi vai không chỉ thúc đẩy giao tiếp phát triển mà đôi khi còn kết
thúc giao tiếp: “Trong quá trình giao tiếp, người nhận có thể đóng vai trò tích
cực hay tiêu cực. Người nhận tích cực khi anh ta luôn thay đổi vai trò người
nhận - người phát, khi giao tiếp diễn ra ở hai chiều. Người nhận tiêu cực khi
anh ta luôn giữ vai trò người nhận trong suốt quá trình giao tiếp, nghĩa là khi
giao tiếp chỉ diễn ra một chiều”. [5, 43]
Trên cơ sở có được thông tin về đối tượng giao tiếp mà nhân vật giao
tiếp lựa chọn từ xưng hô thích hợp. Trong nhiều trường hợp, tuỳ thuộc vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
ngữ cảnh mà nhân vật giao tiếp lại giữ một vị thế giao tiếp nhất định. Không
phải cứ nhiều tuổi, địa vị xã hội cao, chức vụ lớn, thì sẽ giữ vị thế giao tiếp
cao hơn đối tượng còn lại mà chúng ta phải xác định trong ngữ cảnh đó yêu
cầu gì của cuộc giao tiếp là nổi bật, giá trị nào là ưu tiên để từ đó lựa chọn các
phương tiện xưng hô thích hợp. Cách xưng hô trong quan hệ gia tộc khác
cách xưng hô ngoài xã hội. Do đó nhân vật phải xác định đúng vị thế giao
Quan hệ vị thế xã hội
(quyền uy)
Quan hệ khoảng cách
(thân cận)
Khái niệm
- Là quan hệ ứng xử xã
hội dựa trên những quy
tắc giao tiếp nhất định.
- Là quan hệ ứng xử giữa
các cá nhân thể hiện thái
độ, tình cảm của các vai
giao tiếp.
Cơ sở xác lập
- Dựa vào tuổi tác, nghề
nghiệp, chức quyền, thứ
bậc,
- Dựa theo mức độ hiểu
biết lẫn nhau, thân thiện
với nhau.
Quan hệ giữa các
nhân vật giao tiếp
- Phi đối xứng, nghĩa là
sẽ giữ nguyên không
thay đổi trong quá trình
giao tiếp.
- Đối xứng, có thể tạo sự
thân tình hoặc xa lạ với
những mức độ khác nhau.
Qua thương lượng có thể
thay đổi khoảng cách.
Thực ra, trong đời sống thường ngày thì giao tiếp trong gia đình, tiêu
biểu là trong cách lựa chọn từ xưng hô đã cho chúng ta thấy đây không chỉ là
biểu hiện của việc tôn trọng quan hệ thân cận mà còn là biểu hiện của quan hệ
quyền uy trong việc tạo ra không khí vừa tôn nghiêm vừa thân mật trong gia
đình. Chẳng hạn, thay bằng cách xưng ông (bà) và hô cháu thì các nhân vật
giao tiếp ở đây chuyển thành cách xưng ông (bà) và hô con, em, Thay bằng
cách gọi bố (mẹ) thì người con (đã có con) chọn cách xưng con thông thường
nhưng chuyển cách hô mà đứng ở vị trí con mình gọi bố (mẹ) là ông (bà),
1.1.2. Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố chủ đạo chi phối hoạt
động giao tiếp của con người. Đó là thế giới thực tại mà chúng ta đang sống
với tất cả những nhân tố xã hội - ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử
dụng các phương tiện ngôn ngữ, như: hiểu biết về thế giới xã hội, văn hoá, tôn
giáo, lịch sử, ; phong tục, tập quán; trình độ học vấn; kinh nghiệm xã hội;
thói quen sử dụng ngôn ngữ; phạm vi giao tiếp (công sở, gia đình, ngoài xã
hội, trong các vùng lãnh thổ riêng, ); đề tài, chủ đề hay hình thức giao tiếp
Chẳng hạn, trong đoạn đối thoại sau đây:
- Chỉ qua bến Cốc thôi nhá - Ông chủ hào hiệp của tôi mặc cả - Thằng
ngu như chó, trời rét thế này về mà nằm ổ. Mày định học đánh cá mòi để làm
gì thế?
- Nó định lớn lên lập hợp tác xã! - Một gã béo lẳn và đen trùi trũi ở
chiếc thuyền bên mỉm cười thâm hiểm - Giêsuma! Ông lỏi đã sành đi đánh cá
đêm thì ta chỉ còn xương cá mà ăn thôi đấy!
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Quẳng nó xuống sông cho Hà Bá bắt! - Một gã nào đấy hăm doạ.
Thuyền gã lướt qua và gã dùng chiếc mái chèo thúc vào sườn tôi đau điếng.
- Ông cho nó đi xúi cả mẻ cá đêm nay là ăn đòn đấy! - Một lão mắt
chột gầm gừ. Lão giơ mái chèo vẻ chẳng có gì là đùa bỡn cả.
- Thôi mày xuống đi! - Ông chủ của tôi hốt hoảng - Cái lão trùm Thịnh
Tính quy thức/phi quy thức của hoàn cảnh giao tiếp còn ảnh hưởng lớn
đến việc lựa chọn và sử dụng các từ xưng hô, “nó có mối quan hệ rất chặt chẽ
với các chức năng của từ xưng hô cũng như vị thế xã hội và quyền uy của
nhân vật giao tiếp” [26, 43]. Do đó, có thể nói trong hệ thống từ xưng hô
chúng ta có thể xét đến từ xưng hô có tính quy thức và từ xưng hô không có
tính quy thức.
Ở những người có vị thế ngang bằng nhau như bạn - bạn thì việc sử
dụng từ xưng hô ít tính quy thức hơn. Ngược lại, xưng hô ở vị thế không
ngang bằng thì vai giao tiếp (nhất là vai thấp hơn) thường có lối xưng hô quy
thức, chuẩn mực, “xưng khiêm hô tôn”.
Các đại từ xưng hô thực thụ trong tiếng Việt (trừ đại từ tôi) phần lớn ít
có tính quy thức. Các danh từ thân tộc (ông, bà, cô, chú, anh, ) đang chiếm
ưu thế trong các giao tiếp xã hội cùng các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp
(giáo sư, bác sĩ, thầy giáo, ) mang tính quy thức cao trong hoạt động giao
tiếp. Trong khi đó danh từ chỉ tên riêng lại mang tính chất trung gian và
thường phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xác định tính quy
thức/không quy thức.
Chẳng hạn, trong các phát ngôn sau:
- Mời em Dung lên bảng!
- Dung lấy cho chị cái lọ hoa ở trên bàn nhé!
Cùng là hai nhân vật, mối quan hệ là chị em nhưng đặt trong hai hoàn
cảnh giao tiếp mỗi người lại đóng một vai khác nhau do đó tính quy thức cũng
được biểu hiện khác nhau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
+ Trong phát ngôn 1: có 2 vai giao tiếp cô giáo/học sinh. Trong môi
trường học tập yêu cầu tính nghi thức cao do đó cách hô bằng tên riêng (em)
“Dung” thể hiện tính quy thức cao hơn.
+ Trong phát ngôn 2: có 2 vai giao tiếp chị/em. Xét trong tương quan
thì vai giao tiếp là không ngang bằng nhưng ở đây hoàn cảnh giao tiếp chi
một không gian - thời gian cụ thể sẽ tương ứng với hình thức hội thoại phù
hợp với nó.
- Số lượng tham gia hội thoại cũng khiến hội thoại mang những tính
chất với những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, với hai người tham gia, chúng
ta đặt tên hình thức hội thoại là song thoại, ba người tham gia – tương ứng với
nó là hình thức tam thoại, nhiều người tham gia hội thoại hơn nữa thì có hình
thức đa thoại. Cách đặt tên này cũng chỉ mang tính chất tương đối.
- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại cũng sẽ ảnh
hưởng lớn đến cuộc thoại. Theo đó, vị thế giao tiếp sẽ trở thành nhân tố nhằm
duy trì, thúc đẩy hoặc kết thúc cuộc thoại.
- Các cuộc hội thoại đều có những “đích” cụ thể của mình. Để bắt đầu
cuộc thoại các đối tác hội thoại đã phải xác định mục tiêu giao tiếp mà mình
cần đạt được từ đó xây dụng chiến lược phù hợp. Tuy nhiên, đối với những
cuộc tán gẫu thì “đích” này thường không cụ thể và mang tính tự phát.
- Các cuộc hội thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có hình
thức. Căn cứ vào từng cuộc thoại mà hình thức thể hiện, quy trình tổ chức,
dẫn dắt, cũng khác nhau có khi không cần hình thức tổ chức hỗ trợ nào cả.
- Với những hình thức hội thoại khác nhau thì ngữ vực để thể hiện nó
cũng khác nhau.
[xem thêm 7, 201]
Hội thoại rất quan trọng trong cuộc sống, nhưng là ngôn ngữ, nó vẫn
chỉ là một công cụ. Cách sử dụng công cụ ấy sẽ góp phần vào kết quả của các
cuộc giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
1.2.2. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự
Hội thoại không phải diễn ra một cách tuỳ tiện mà theo những quy tắc
nhất định. Một cuộc thoại thông thường phải đảm bảo những quy tắc nhất
định sau: quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung
của cuộc thoại, quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại và quy tắc chi phối
và khá khó khăn đối với mỗi cá nhân trong việc tự hoàn thiện mình.
1.2.2.2. Hành vi đe doạ thể diện
Đại bộ phận các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại
đến thể diện. Tương ứng với các thể diện sẽ xuất hiện các hành vi đe doạ thể
diện như sau:
- Hành vi đe doạ thể diện âm tính của người thực hiện như: biếu, tặng,
thề thốt,
- Hành vi đe doạ thể diện dương tính của người thực hiện như: cảm ơn,
xin lỗi, thú tội,
- Hành vi đe doạ thể diện âm tính của người tiếp nhận như: khuyên
nhủ, nói chặn, dặn dò,
- Hành vi đe doạ thể diện dương tính của người tiếp nhận như: phê
bình, mắng mỏ,
[xem thêm 7, 267]
Mức độ đe doạ thể diện của một hành vi ngôn ngữ theo Brown và
Levinson được đánh giá theo các thông số: quyền lực, khoảng cách và mức độ
trầm trọng (mức độ áp đặt) của các hành vi đe doạ thể diện.
Do tiềm năng đe doạ thể diện như vậy nên lịch sự trong giao tiếp chủ
yếu là sự điều phối các thể diện bằng hành vi ngôn ngữ nhằm tôn trọng thể
diện của mình cũng như thể diện của người đối thoại. Xác định rõ điều này,
khi tiến hành hoạt động lịch sự, người nói nên cân nhắc hiệu lực đe doạ thể
diện ở hành vi tại lời mà mình sắp thực hiện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Lịch sự không chỉ giúp đạt hiệu quả giao tiếp cao, giúp tôn vinh bản
thân và đối tượng mà lịch sự còn là nét văn hoá, là đặc thù trong giao tiếp của
mỗi dân tộc. Do đó, lịch sự còn là vấn đề chung của loài người trên thế giới.
1.3. Phạm trù xƣng hô
1.3.1. Khái niệm xưng hô
Để cuộc thoại có thể tiến hành, đầu tiên chủ thể giao tiếp phải tìm cách
của luận văn.
Các nhà nghiên cứu phân chia thành biểu thức xưng hô và biểu thức gọi
trong giao tiếp.
- Về ý nghĩa, “Gọi là dùng một biểu thức hướng về một người nào đó
nhằm làm cho người này biết rằng người gọi muốn nói gì với anh ta”. [7, 78]
Do đó, biểu thức này còn có tên là “biểu thức lôi kéo”. Biểu thức xưng hô có
ý nghĩa thiết lập và duy trì cuộc thoại.
- Về tần số xuất hiện, trong giao tiếp, biểu thức gọi thường xuất hiện ít với
mục đích kéo đối tượng vào cuộc thoại. Việc sử dụng nhiều biểu thức gọi trong
một cuộc thoại cũng đồng nghĩa với việc giao tiếp gần như thất bại. Trong khi đó,
biểu thức xưng hô được dùng một cách thường xuyên để thúc đẩy giao tiếp.
Bằng cách lựa chọn từ “xưng” và “hô” mà chủ thể giao tiếp đã định ra
cho đối tượng giao tiếp và chính bản thân mình một khung quan hệ liên cá
nhân. Và để thay đổi khung giao tiếp này, người giao tiếp phải dùng từ xưng
hô để thương lượng dưới sự hợp tác của đối tượng tham gia giao tiếp.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra các yếu tố chi phối từ xưng hô bao gồm:
- Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp. Dựa vào việc dùng từ xưng hô
mà người nghe biết được người nói đặt mình trong quan hệ và vị thế xã hội
như thế nào.
- Xưng hô phải thể hiện được quan hệ quyền uy. Đó cũng là cách xưng
hô thể hiện được sự tôn trọng đối với vai có địa vị cao hơn mình hoặc thể hiện
vai trò, ảnh hưởng đối với vai thấp hơn mình trong giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
- Xưng hô phải thể hiện quan hệ thân cận. Chủ yếu cách xưng hô này
thể hiện trong giao tiếp gia đình hay những giao tiếp ngoài xã hội đã được
“thương lượng” dùng những từ xưng hô mang xu hướng “gia đình hoá”.
- Xưng hô phải phù hợp với ngữ vực. Mỗi một từ xưng hô nếu có một
ngữ điệu thể thể hiện cho phù hợp sẽ làm tăng hiệu lực giao tiếp.
- Xưng hô phải thích hợp với thoại trường. Yêu cầu này cho thấy, cùng