Luận văn: PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC NHĂM TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI KHI DẠY CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƢỜNG” (VẬT LÝ 11 – CƠ BẢN) - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
…… *&*……….

LÊ THỊ BẠCH

PHỐI HỢP CÁC PHƢƠNG PHÁP VÀ PHƢƠNG TIỆN
DẠY HỌC NHĂM TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC
CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI KHI DẠY CHƢƠNG
“DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƢỜNG”
(VẬT LÝ 11 – CƠ BẢN) Chuyên ngành: Lí luận và PPGD vật lí
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên.
Tác giả luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC TƢ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1. DH : Dạy học
2. ĐC : Đối chứng
3. CĐ : Chuyển động
4. GV : Giáo viên
5. HS : Học sinh
6. PT : Phổ thông
7. HĐNT : Hoạt động nhận thức
8. PPDH : Phương pháp dạy học
9. PTDH : Phương tiện dạy học
10. KL : Kim loại; dd: Dung dịch
11. LTKT : Lý thuyết kiến tạo.
12. SGK,SBT : Sách giáo khoa, sách bài tập
13. STK, SGV : Sách tham khảo, Sách giáo viên
14. THPT : Trung học phổ thông.
15. TN : Thí nghiệm
16. T/NSP : Thực nghiệm sư phạm
17. TTC : Tính tích cực
18. TTCNT : Tính tích cực nhận thức
19. KT : Kiểm tra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Lời cảm ơn Trang

học trong các trường THPT miền núi khi dạy một số kiến thức “Dòng
điện trong các môi trường” 46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.4.1. Mục đích điều tra 46
1.4.2. Phương pháp và nội dung điều tra 46
1.4.3. Kết quả điều tra 47
1.4.3.1. Những khó khăn của giáo viên và học sinh 52
1.4.3.2. Những hiểu biết quan niệm sai mà học sinh gặp phải khi học một
số kiến thức về “ Dòng điện trong các môi trường” 53
1.4.3.3. Nguyên nhân dẫn đến các quan niệm sai hoặc chưa đầy đủ 56
1.4.3.4. Hướng khắc phục khó khăn trong việc dạy học Vật lí và kiến nghị 57
Kết luận chƣơng 1 59
Chƣơng 2: Xây dựng tiến trình dạy học một số bài chƣơng “Dòng điện
trong các môi trƣờng”( Vật lí 11-cơ bản) theo hƣớng phối hợp các
phƣơng pháp và phƣơng tiện dạy học để tích cực hoá hoạt động nhận
thức của học sinh 60
2.1. Cấu trúc, vai trò và các mục tiêu dạy học của chương “Dòng điện
trong các môi trường” 60
2.1.1. Cấu trúc của chương “Dòng điện trong các môi trường” 60
2.1.2. Vai trò, vị trí của chương “Dòng điện trong các môi trường” 60
2.1.3. Kiến thức, kĩ năng và thái độ cần đạt được của chương “Dòng điện
trong các môi trường” 61
2.2. Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học, xây dựng tiến
trình dạy học một số kiến thức về chương “Dòng điện trong các môi
trường” 63
2.2.1. Định hướng chung của xây dựng tiến trình dạy học một số bài cụ
thể theo hướng nghiên cứu của đề tài 63
2.2.2. Thiết kế tiến trình dạy học bài 1 “Dòng điện trong kim loại” 66
2.2.3. Thiết kế tiến trình dạy học bài 2 “Dòng điện trong chất điện phân” 78

Phụ lục 1 144
Phụ lục 2 145
Phụ lục 3 147
Phụ lục 4 148
Phụ lục 5 150
Phụ lục 6 151
Phụ lục 7 152
Phụ lục 8 153
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học là hoạt động đặc trưng chủ yếu ở nhà trường phổ thông đã có
từ lâu, song chủ yếu dạy học (DH) theo lối truyền thụ kiến thức một chiều,
nhồi nhét kiến thức cho học sinh. Người dạy chỉ chú trọng giảng giải minh
hoạ thông báo kiến thức một cách định sẵn, còn học sinh cứ việc nghe, tiếp
thu, ghi nhớ nhắc lại một cách thụ động. Cách dạy học này không phát huy
được tính tự giác, chủ động, tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh. Vì thế
không đáp ứng được mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ ngành
giáo dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phương pháp (PP) và
phương tiện dạy học (PTDH). Hiện nay sách giáo khoa (SGK) đã được Bộ
Giáo dục và Đào tạo biên soạn theo hướng dạy học tích cực: Dạy học lấy học
sinh làm trung tâm, còn giáo viên (GV) đóng vai trò tổ chức, định hướng cho
học sinh (HS) hoạt động nhận thức (HĐNT).
Trong quá trình DH thì PTDH đóng vai trò hết sức quan trọng, góp
phần hình thành kiến thức mới, làm rõ các sự vật, hiện tượng Vật lý, làm tăng
thêm hứng thú trong quá trình HĐNT cho HS. Hiện nay ngoài các PTDH
truyền thống còn các phương tiện hiện đại hỗ trợ DH khác như máy chiếu, tập
phim, các phần mềm, máy chiếu đa năng…. Nếu vận dụng một cách phù hợp

các môi trường”(Vật lý11) có ý nghĩa khoa học kĩ thuật quan trọng, gắn liền
với cuộc sống, song cũng trừu tượng và khó đối với HS. Vì vậy, nếu GV chỉ
chú ý truyền thụ kiến thức mà không dạy HS cách tìm ra kiến thức thì chất
lượng dạy và học ở các trường THPT miền núi sẽ rất thấp, không đáp ứng
được nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội trong giai đoạn hiện nay. Nhằm khắc
phục phần nào những mặt hạn chế trong quá trình DH ở các trường THPT
miền núi hiện nay thì việc phân tích các PPDH, chỉ ra cách lựa chọn, sử dụng
phối hợp các PPDH và PTDH hợp lí cho từng đối tượng, từng bài dạy để phát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
huy được hoạt động nhận thức tích cực của HS trở nên quan trọng và cần thiết
đối với mỗi GV Vật lý PT. Vì vậy chúng tôi lựa chọn vấn đề “Phối hợp các
phƣơng pháp và phƣơng tiện dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận
thức của học sinh trung học phổ thông miền núi khi dạy chƣơng “Dòng
điện trong các môi trƣờng”(Vật lý 11- cơ bản) làm đề tài nghiên cứu.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm
tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
1. Khách thể: Quá trình dạy học một số kiến thức phần “Dòng điện trong
các môi trường” ở trường THPT miền núi
2. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học vật lý ở trường THPT miền núi
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học một cách hợp
lý thì có thể nâng cao hoạt động nhận thức của học sinh góp phần nâng cao
chất lượng dạy học.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận về hoạt động nhận thức của học sinh
- Nghiên cứu lý luận về các hình thức phương pháp dạy học tích cực và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHỐI HỢP CÁC
PHƢƠNG PHÁP VÀ PHƢƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỂ TÍCH CỰC HOÁ
HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
* Những nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học
Các PPDH là một ngành của khoa học giáo dục, nó nghiên cứu quá trình
DH của các môn học. Nhiệm vụ lí luận DH môn là nghiên cứu, áp dụng các
PPDH chung đã được nghiên cứu trong lí luận DH vào thực tiễn của môn học cụ
thể, có tính đến các đặc điểm nội dung và PP khoa học đặc trưng cho khoa học
tương ứng, trong đó có môn Vật lý. Như vậy PPDH luôn là vấn đề hạt nhân quan
trọng của nền giáo dục của tất cả các nước trên thế giới, có tầm quan trọng đối
với sự phát triển khoa học của nhân loại. Song cho đến nay PPDH vẫn là vấn đề,
hiện tượng gây nhiều tranh luận chưa có ý kiến thống nhất cụ thể.
Lịch sử phát triển của lí luận DH chứng tỏ đã có nhiều ý kiến phân loại
các PPDH theo các cách khác nhau. Tuy nhiên vẫn chưa đạt được phân loại
các PPDH được mọi người thừa nhận. Trong những năm gần đây, cùng với
việc đề cao nhiệm vụ phát triển khả năng sáng tạo của HS khi DH các môn ở
các trường PT người ta đã chú ý đến phân loại các PPDH dựa vào đặc trưng
hoạt động của GV và HS. M N. Scatkin và I.I.Lecner (Nga) đã phân ra năm
PPDH: PP thông báo- thu nhận; PP tái hiện; PP trình bày nêu vấn đề; PP tìm

nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS THPT miền núi khi dạy
chƣơng “Dòng điện trong các môi trƣờng” (Vật lý 11- cơ bản) làm một đề
tài nghiên cứu mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
1.2. HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ VẤN ĐỀ TÍCH CỰC HOÁ HOẠT
ĐỘNG NHẬN THỨC HỌC SINH
1.2.1. Hoạt động nhận thức
* Nhận thức là gì?
Theo Tâm lí học hiện đại: Trong việc nhận thức thế giới, con người có
thể trải qua những cấp độ nhận thức khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp. Mức độ nhận thức thấp là nhận thức cảm tính bao gồm cảm
giác và tri giác. Nhờ có cảm giác và tri giác mà con người thiết lập được mỗi
quan hệ trực tiếp giữa nhận thức của con người với thế giới bên ngoài. Mức
độ nhận thức cao là nhận thức lí tính (tư duy), trong đó có những thuộc tính
bên trong của sự vật hiện tượng, những mỗi quan hệ có tính quy luật được
phản ánh vào óc con người. Dựa trên những dữ kiện thu được con người thực
hiện các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát…và rút ra những tính
chất chủ yếu của hiện tượng và xây dựng thành khái niệm.
Lịch sử Vật lí học cho thấy rằng: Quá trình nhận thức Vật lí không phải
luôn diễn ra suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuấn, những sự đấu
tranh quyết liệt giữa những tư tưởng, những quan điểm, những PP cũ và mới
nhờ đó mà các nhà khoa học xây dựng được những khái niệm những định luật,
những mô hình, những lí thuyết Vật lí phản ánh ngày càng chính xác hơn các
hiện tượng Vật lí, bao quát hơn các lĩnh vực khác nhau của Vật lí học [30].
* Hoạt động nhận thức
Quá trình học tập là hoạt động nhiều mặt của HS, trong quá trình này
HS phải thực hiện nhiều thao tác trí tuệ và chân tay, áp dụng nhiều phép suy
luận lôgíc. Trong quá trình DH có hai hoạt động đồng thời xảy ra đó là hoạt

sự nhận thức khái quát và gián tiếp của con nguời những sự vật và hiện tượng
của thực tế khách quan trong những tính chất, những mỗi liên hệ bản chất của
chúng. Ở trình độ nhận thức này HS khái quát hoá các dữ liệu mà họ đã tiếp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
thu một cách cảm tính bằng cách hệ thống hoá chúng, đi đến thiết lập mỗi
quan hệ giữa chúng, đi đến hiểu được mỗi quan hệ bản chất các hiện tượng
nghiên cứu, thiết lập các định luật, các thuyết, rút ra những hệ quả của những
thuyết đó có thể kiểm tra được bằng thực nghiệm. Trong quá trình hình thành
khái niệm, những suy luận, phân tích, tổng hợp, quy nạp và diễn dịch luôn
được sử dụng, giữa chúng có mỗi quan hệ hữu cơ. Trong bước đầu học tập vật
lí HS đi từ những kiến thức cảm tính cụ thể của các sự kiện, bằng phép quy nạp
đi đến nhận thức những quy luật của tự nhiên, tức là đi từ cụ thể đến trừu
tường.
Trong quá trình HĐNT Vật lí, muốn cho hoạt động đạt kết quả, HS cần
phải rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hiện các thao tác chân tay như tác động
vào đối tượng (làm TN), bố trí các phép đo, sử dụng các dụng cụ đo, sử dụng
các mô hình, hình vẽ, biểu đồ và các thao tác tư duy như so sánh, khái quát
hoá, định nghĩa, hệ thống hoá. Đồng thời HS cũng phải biết sử dụng các PP
suy luận như quy nạp, diễn dịch, phân tích và tổng hợp.
1.2.2. Tích cực hoá hoạt động nhận thức và các biểu hiện của tính
tích cực nhận thức
* Tích cực hoá hoạt động nhận thức
Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí
của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang
chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Tích cực hoá hoạt
động nhận thức của HS là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người thầy
trong quá trình DH [36].
Học tập là một quá trình của nhận thức, thực hiện dưới sự chỉ đạo, tổ

TTC của HS có mặt tự giác và mặt tự phát [36]:
- Mặt tự phát của TTC là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở
tính tò mò, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
mức độ khác nhau. Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, cần nuôi dưỡng
và phát triển chúng trong DH.
- Mặt tự giác của TTC tức là trạng thái tâm lí có mục đích, có đối tượng
rõ ràng thể hiện ở quan sát, phê phán, trí tò mò khoa học…
TTCNT phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà cả từ nhu cầu sinh học,
đạo đức thẩm mĩ, giao lưu văn hoá. Hạt nhân cơ bản của TTCNT là hoạt động
tư duy của các cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa
dạng. TTCNT và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng
chúng không đồng nhất với nhau.
* Những biểu hiện của TTCNT
- Để giúp người thầy phát hiện được HS có tích cực hay không cần dựa
vào một số dấu hiệu sau [36]:
+ Các em có tập trung chú ý không?
+ Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập không
(thể hiện ở giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép, thái độ học tập…)
+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không
+ Có hiểu bài không, có trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ
riêng của mình không?
+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
+ Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không, tốc độ học tập có
nhanh không?
+ Có hứng thú trong học tập không hay vì một điều kiện nào đó mà phải học.
+ Có quyết tâm, có ý chí vượt khó trong học tập không?

thân, vận dụng được kiến thức vào cuộc sống, biết phân tích so sánh và rút ra
kết luận chính xác. Khi đó không những HS thu được kết quả cao trong học tập
mà GV còn thực hiện tốt việc giảng dạy và đáp ứng được mục tiêu DH đề ra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Như vậy có thể nói TTCNT là nhân tố cần thiết trong quá trình hoạt động học
tập của HS, có vai trò quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ
năng, kĩ xảo, phát triển tư duy, năng lực sáng tạo trong học tập của HS.
1.2.4. Các biện pháp phát huy hoạt động nhận thức của học sinh
- Dạy học là hoạt động đã có từ rất lâu đời, từ nhà cổ đại các nhà sư
phạm tiền bối như Khổng tử, Aritxtôt… đã nêu lên tầm quan trọng to lớn của
việc DH. Đó là, DH là phải phát huy được TTC, chủ động, tự giác của HS
trong quá trình học tập [36].
- Song thực tế giảng dạy và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm cho
thấy [2]: Để phát huy TTCNT của HS trong học tập, người GV phải biết kích
thích và phát triển hứng thú nhận thức của HS bởi những động cơ xuất phát từ
chính bản thân hoạt động học tập, bởi vì qua quá trình nắm vững kiến thức
không phải là tự phát mà là hoàn toàn tự giác. Đây là quá trình có mục đích rõ
ràng, có kế hoạch tổ chức chặt chẽ trong đó HS phát huy đến mức tối đa TTC,
sáng tạo dưới sự tổ chức điều khiển của GV. Và nhiệm vụ của GV là:
+ Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của HS.
+ Tiến hành DH ở mức độ thích hợp với trình độ phát triển của HS.
Nếu nội dung quá dễ sẽ gây nhàm chán cho HS, không phát huy được mặt
tích cực của HS, nếu nội dung quá khó cũng không phát huy được TTC và
còn làm cho HS phó mặc cho đến đâu thì đến. Do vậy cần biết dẫn dắt HS
luôn phát hiện thấy cái mới, nhu cầu cần thiết phải giành lấy, cảm thấy bản
thân từng ngày được trưởng thành thêm.
+ Tạo không khí thuận lợi cho lớp học, làm cho HS thích được đến lớp,
yêu môn học, chờ đợi giờ học. Đồng thời phải tạo ra môi trường giao tiếp

 Vai trò của người GV là phải khéo léo tạo nên mâu thuẫn giữa cái đã biết
và cái chưa biết, tạo nên những tình huống có vấn đề, kích thích sự tò mò của
HS từ đó sẽ nảy sinh nhu cầu nắm vững kiến thức.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
* Hứng thú: Là sự phản ánh thái độ của chủ thể đối với thực tiễn khách
quan. Hứng thú là yếu tố dẫn đến sự tự giác, tự lực, tích cực. Hứng thú và tự
giác là những yếu tố tâm lí đảm bảo TTC, độc lập, sáng tạo trong học tập.
 Vai trò GV ở đây là phải kích thích được hứng thú của HS, phải để HS độc
lập, tìm tòi giải quyết vấn đề. GV chỉ là người thiết kế, tổ chức, định hướng
cho hoạt động của HS.
* Động cơ: Theo tâm lí học và giáo dục học thì động cơ là cái thúc đẩy
con người hoạt động đạt mục đích. Là cái làm nảy sinh TTC của chủ thể và
quyết định tính chất tâm lí của việc làm. Vì động cơ thúc đẩy mà con người ta
quyết tâm hành động.
Động cơ học tập là những sự vật, hiện tượng trở thành cái kích thích,
thúc đẩy TTC học tập của HS nhằm đạt kết quả nhận thức. Các nhà nghiên
cứu khoa học đã phân động cơ học tập thành hai loại: Động cơ bên trong và
động cơ bên ngoài.
+ Động cơ bên trong xuất hiện do những yếu tố kích thích xuất phát từ
mục đích học tập, sự hứng thú, lòng ham muốn lĩnh hội kiến thức, kĩ năng…
+ Động cơ bên ngoài (động cơ quan hệ xã hội) xuất hiện do những yếu
tố kích thích bên ngoài tác động như: Động viên, khen thưởng, thi đua, yêu
cầu của GV, nhà trường, của gia đình, của xã hội.
 Vai trò của người GV trong quá trình DH phải biết kết hợp động cơ bên
ngoài phù hợp, kích thích làm nảy sinh nhu cầu bên trong của HS trong học
tập. Đến lúc nào đó HS hiểu rằng học tập là nhu cầu không thể thiếu trong
cuộc sống và lúc đó HS sẽ tự giác, tích cực trong học tập
Vậy: Trong việc phát huy TTCNT của HS thì vai trò, nhiệm vụ của GV vô

Mặc dù có rất nhiều ý kiến về định nghĩa PPDH, song các tác giả đều
thừa nhận rằng PPDH có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
- Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của HS nhằm đạt được
mục đích đặt ra.
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa GV và HS.
-Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: kích thích và xây
dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức, KT và đánh giá kết quả hoạt động.
* Phƣơng pháp dạy học Vật lí ở trƣờng THPT hiện nay
a) Đặc điểm của bộ môn Vật lí ở trƣờng phổ thông
+ Vật lí nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản của vật chất, nên
những kiến thức Vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên nhất là
Hoá học và Sinh học.
+ Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là Vật lí thực nghiệm, PP của
nó chủ yếu là PP thực nghiệm. Đó là PP nhận thức có hiệu quả trên con
đường đi tìm chân lí khách quan. PP thực nghiệm xuất xứ từ Vậy lí học nhưng
ngày nay cũng được dùng rộng rãi trong nhiều ngành tự nhiên khác.
+ Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên
nhiều kiến thức Vật lí có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề cơ bản khác của
triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan ở HS.
+ Vật lí học là một môn khoa học chính xác đòi hỏi vừa phải có kĩ năng
quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm (TN) vừa
phải có tư duy lôgíc chặt chẽ, biện chứng, vừa phải thảo luận trao đổi tìm ra
chân lí [10], [18], [31].
b) Phƣơng pháp dạy học Vật lí ở trƣờng phổ thông
Quá trình DH là một chuỗi những hành động, hoạt động liên tiếp của
GV và HS, những hành động này nhằm làm cho HS tự lực tự giác nắm vững

hiệu quả, đó là phải tính đến phát huy TTC hoạt động nhận thức của HS, loại
bỏ những mặt không phù hợp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và qua thực tiễn giảng dạy Vật lí
ở phổ thông, chúng tôi xin đề cập đến một số PPDH có khả năng tích cực hoá
hoạt động nhận thức của HS trong DH môn Vật lí.
1.3.2. Các phƣơng pháp dạy học có khả năng tích cực hoá hoạt
động nhận thức của học sinh
1.3.2.1. Phƣơng pháp dạy học thế nào đƣợc coi là phƣơng pháp dạy
học tích cực [2], [9], [19].
Khi nói đến PPDH tích cực là nói tới một nhóm PPDH theo hướng phát
huy TTCNT của người học, vì không có một PPDH nào là chuyên biệt, tích
cực để giải quyếtt mọi vấn đề của bài học. Tích cực trong “PP tích cực” được
dùng với nghĩa là chủ động, hoạt động trái nghĩa với thụ động, không hoạt
động. TTC biểu hiện trong hoạt động, nhưng đó phải là những hoạt động của
chủ thể. Vì vậy PPDH tích cực thực chất là cách thức hướng tới việc học tập
chủ động chống lại thói quen học tập thụ động.
Các dấu hiệu cơ bản của phƣơng pháp dạy học tích cực .
* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS.
Tâm lí học cho rằng nhân cách của trẻ hình thành thông qua các hoạt
động chủ động, các hành động có ý thức. Trong PP tích cực HS được cuốn
hút vào những hành động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo thông qua đó tự
lực khám phá những tri thức chưa biết, từ những tình huống thực tế HS quan
sát, thảo luận, làm TN giải quyết vấn đề đặt ra theo những suy nghĩ của mình,
từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới, nắm được PP làm ra những kiến thức,
kĩ năng đó. DH theo cách này không chỉ cung cấp tri thức mà còn hướng dẫn
cho HS biết cách hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động
của cộng đồng. Trong PP tích cực học chữ và học làm phải luôn gắn liền với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status