Tính sinh động của sự miêu tả nhân vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao - Pdf 29



1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tính nghệ thuật là hướng nghiên cứu các loại hình nghệ thuật nói
chung và văn chương nói riêng xuất hiện ở Nga và ở Việt Nam mới từ nửa thế
kỷ trước đếnnay. Tính nghệ thuật đặc trưng bởi sự thuyết phục, chiều sâu
nhận thức, sức hấp dẫn lôi cuốn. Tiêu chuẩn cuối cùng của nó là sự thống
nhất hoàn mĩ của nội dung và hình thức nghệ thuật, là sức gây ấn tượng mang
tính tư tưởng của hình tượng đời sống, phản ánh được hiện thực nhiều mặt và
vận động biến hóa không ngừng. Khi nghiên cứu cấu trúc tính nghệ thuật,
nhiều nhà lý luận thường xuyên nhắc đến tính sinh động, xem đó như là dấu
hiệu tổng hợp và đặc trưng nhất thuộc chất lượng nghệ thuật tác phẩm.“ Sự
nghiên cứu tính sinh động đem lại khả năng hiểu sâu hơn bản chất của sự tác
động qua lại của tính tư tưởng, tính chân thật, tính tạo hình, tính biểu hiện,
tính hấp dẫn và những dấu hiệu khác của tác phẩm, do đó khai thác đầy đủ
chínhbản chất của tính nghệ thuật [25,8]. Theo đó, ta có thể xem tính sinh
động là phẩm chất tiêu biểu của văn nghệ với tư cách là một hình thái ý thức
xã hội thẩm mỹ.
1.2. Với tính chất như thế, chúng tôi nhận thấy sự nghiên cứu tính nghệ
thuật nhất là tính sinh động ở một nhà văn hiện thực xuất sắc như Nam Cao là
việc làm vô cùng cần thiết. Tuy sự nghiệp sáng tác của Nam Cao không dài,
chỉ gói gọn trong 15 năm (1936 - 1951) nhưng “giá trị văn chương của nhà
văn luôn tỏa sáng và không vơi cạn” [69,11]. Xuất phát từ quan điểm tính
sinh động của sự miêu tả, vận dụng vào tìm hiểu những truyện ngắn tiêu biểu
của Nam Cao chắc hẳn sẽ giúp người tiếp nhận khám phá được sự độc đáo
trong cấu thành sự sống nghệ thuật từ chất liệu, trong sự nhìn nhận khai thác
tạo nên giá trị nghệ thuật riêng và do đó tạo nên sức hấp dẫn nghệ thuật riêng.



3
[25] của PGS.TS Phùng Minh Hiến có thể coi là một bước ngoặt trong việc
phân tích tính nghệ thuật của tác phẩm từ quan điểm tính sinh động của sự
miêu tả. Trong chuyên luận này, vấn đề tính sinh độngtrong văn chương đã
giành được sự quan tâm xác đáng.Nhà nghiên cứu không những thuyết minh
nguồn gốc vấn đề, lý giải bản chất khái niệm tính sinh động của sự miêu tả
trên các phương diện cụ thể mà còn xác định những dấu hiệu của tính sinh
động trong loại tác phẩm tự sự.Theo hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng
này, quan điểm về tính sinh động thực sự đã trở thành một lý thuyết có giá trị
khoa học - thực tiễn, mang đến chiều sâu mới cho sự thụ cảm tác phẩm văn
chương.
1.5. Về Nam Cao, đây là nhà văn hiện thực xuất sắc giai đoạn 1930 -
1945, là một tên tuổi lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Đến với làng
văn từ năm 1936, cái tên Nam Cao thật khiêm nhường bên cạnh những tên
tuổi như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng…
Trải qua nhiều năm, sáng tác của Nam Cao dần được giới nghiên cứu phê
bình văn học quan tâm. Đến nửa cuối thế kỉ XX, ông trở thành “một trong
những nhà văn lớn của thế kỷ được nghiên cứu nhiều nhất, liên tục nhất”. Cho
đến nay, đã có hơn hai trăm công trình, bài báo nghiên cứu sáng tác của Nam
Cao trước và sau Cách mạng tháng Tám, tập trung trên nhiều phương diện.
Riêng về nhân vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao cũng đã có
nhiều ý kiến. Có thể khái quát những nét chung trong các bài nghiên cứu ấy
trên hai khía cạnh cơ bản.
1.5.1. Làm rõ nội dung xã hội, ý nghĩa phản ánh hiện thực, giá trị nhân
đạo của những tác phẩm Nam Cao viết về đề tài trí thức tiểu tư sản.
Ngay từ đầu những năm 1960, trong bài Đọc truyện ngắn của NamCao,
tác giả Nguyên Hồng có đề cập đến sức chứa và sức mở của thế giới nhân vật
truyện Nam Cao như những điển hình sống động phản ánh đời sống con



5
Nam Cao’’ và đặc biệt quan tâm đến tính chân thực của hình tượng này.
“Nhân vật trí thức của Nam Cao được phản ánh tập trung một số nét điển hình
và chân thật về tâm lý và sinh hoạt của các tầng lớp thành thị trong thời kỳ đại
chiến thế giới thứ hai. Đó là thời kỳ bản thân họ đang phải phấn đấu tìm
đường thoát khỏi tư tưởng bế tắc của đời sống để vươn tới lý tưởng tốt đẹp
hơn” [69, 85].
GS.TS Trần Đăng Xuyền trong công trình nghiên cứu Chủ nghĩa hiện
thực Nam Cao cho rằng: “Đề tài người trí thức tiểu tư sản khá quen thuộc với
văn học Việt Nam 1930 – 1945. Nhưng đến Nam Cao, với ngòi bút hiện thực
tỉnh táo, nghiêm ngặt, hình ảnh những nhân vật trí thức tiểu tư sản mới hiện
lên cụ thể và sinh động qua những tấn bi kịch và bi hài kịch cùng với những
cuộc đấu tranh tư tưởng đầy căng thẳng nhưng bế tắc” [78,152].
Ngoài những ý kiến đã điểm trên, còn nhiều người nghiên cứu khác cho
rằng nhân vật trí thức tiểu tư sản là một trong hai nguồn đề tài lớn trong sáng
tác của Nam Cao. Nhiều ý kiến đặc biệt nhấn mạnh sức nặng biểu hiện giá trj
hiện thực của mảng đề tài này.Có thể nói, đây là hướng nghiên cứu chú ý khai
thác nội dung xã hội của mảng đề tài trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn
Nam Cao.
1.5.2. Xác định đặc sắc phong cách Nam Cao qua truyện ngắn nói
chung và truyện về người trí thức tiểu tư sản nói riêng
Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 80, GS Nguyễn Đăng Mạnh trong
bài Nhớ Nam Cao và những bài học của ông đã nhận định: sức hấp dẫn của
truyện ngắn Nam Cao còn ở những trang phân tích tâm lý sắc sảo của ông
[69, 92].
Sau này, khi tìm hiểu Phong cách truyện ngắn Nam Cao, tác giả Vũ
Tuấn Anh cho rằng: Nam Cao được coi là đại diện cuối của văn học hiện thực
phê phán và chính ông là người đặt những mảng màu hoàn chỉnh bức tranh



7
vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao từ nhiều phía, đã nói đến
loại hình nhân vật kiểu Nam Cao, đã gắn loại hình nhân vật với phong cách
tác giả. Nhưng góc độ nhìn nhận, đánh giá còn thiên về nội dung xã hội, ít
thành tựu nghiên cứu loại nhân vật này từ góc độ tính sinh động áp dụng vào
đặc điểm thể loại. Đó là những tiền đề phong phú để từ đó chúng tôi có thể
tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn về phương diện tính sinh động của sự miêu tả
nhân vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao (so sánh với đặc tính
tương ứng trong truyện ngắn viết về người nông dân của ông).
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Khóa luận nhằm mục đích xác lập và củng cố vững chắc thêm
hướng nghiên cứu văn chương từ góc độ tính nghệ thuật là hướng nghiên cứu
có nhiều triển vọng, có khả năng đi sâu khám phá bản chất và các quy luật của
nghệ thuật ngôn từ.
2.2. Khẳng định tính sinh động là dấu hiệu quan trọng nhất và là yếu tố
tổng hợp mang tính đặc trưng nhất của chất lượng, nghệ thuật tác phẩm.
2.3. Chỉ ra những dấu hiệu cụ thể biểu hiện tính sinh động của sự miêu
tả nhân vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao.
2.4. Qua sự đối sánh với đặc tính tương ứng trong truyện ngắn viết về
người nông dân, luận văn muốn chỉ ra những nét độc đáo về tính sinh động
của sự miêu tả nhân vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao.
2.5. Trên cơ sở đó, luận văn tạo thêm cơ sở vững chắc trong việc đưa ra
những nhận định xác đáng về tài năng, vị trí và những đóng góp quan trọng
của Nam Cao đối với văn học hiện thực 1930 - 1945 nói riêng và văn học Việt
Nam hiện đại nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Xem xét bản chất khái niệm tính sinh động đặt trong cấu trúc tính
nghệ thuật để thấy được tính sinh động là một trong những yếu tố quan trọng
nhất biểu hiện mặt chất lượng của văn chương nghệ thuật.
9
4.2.5. Những truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao viết về đề tài trí thức
tiểu tư sản được tác giả luận văn lựa chọn là:
Cái chết của con mực
Nhỏ nhen
Trăng sáng
Mua nhà
Một chuyện Xú - vơ - nia
Lão Hạc
Đời thừa
Cười
Quên điều độ
Nước mắt
Xem bói
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phát sinh lịch sử
5.2. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
5.3. Phương pháp so sánh hệ thống
6. Dự kiến đóng góp mới
6.1. Khẳng định bản chất khái niệm tính sinh động và tính khả thi của
việc nghiên cứu tác phẩm văn chương từ góc độ này.
6.2. Chỉ ra những yếu tố thể hiện tính sinh động của sự miêu tả trong
truyện ngắn Nam Cao.
6.3. Phát hiện và phân tích những nét độc đáo của tính sinh động trong
miêu tả nhân vật trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao trên cơ sở đối
sánh với truyện ngắn viết về người nông dân.
6.4. Góp phần làm sáng tỏ tài năng và phong cách nghệ thuật Nam Cao
cũng như những cống hiến to lớn của ông cho văn học nước nhà nói chung và

động như một tiêu chí xác định chất lượng tác phẩm thi ca. Ông viết: “Nếu 11
nhà thơ không biết rằng con hươu cái không có sừng thì đó là (một sai lầm)
không đáng kể bằng việc nhà thơ không miêu tả nó một cách sinh động”
[1,120]. Nghĩa là, với Aristôt, nhà thơ là người “mô phỏng” nhưng nếu chỉ
dừng lại ở mô phỏng đối tượng như thực tế vốn có thì chưa đủ để tạo nên sức
hấp dẫn cho tác phẩm. Nghệ sĩ có thể không trung thành với hiện thực nhưng
phải biết cách miêu tả đối tượng một cách sinh động, làm cho đối tượng tác
động mạnh mẽ đến các giác quan và cảm xúc thẩm mĩ của người tiếp nhận.
Tuy không luận giải gì thêm về vấn đề này nhưng ý kiến của Aristôt có thể
coi như viên gạch đặt nền móng đầu tiên cho một hướng tiếp cận nghệ thuật
mới cần khám phá.
1.2.1.2. Nhận xét của G.E. Lessing
Bước sang thế kỷ XVIII, Lessing- đại biểu xuất sắc nhất của phong trào
Ánh sáng Đức cũng dùng từ sinh động để chỉ chất lượng nghệ thuật đặc sắc
của tác phẩm văn chương. Theo Lessing, văn chương là loại hình nghệ thuật
ngôn từ có khả năng đi sâu miêu tả, thể hiện đời sống sinh động và gợi cảm
hơn cả. Lessing khẳng định: “Cái đẹp hoà điệu trong thi ca đều tràn ngập sức
sống và sự biến đổi rất linh hoạt” [Dẫn theo 25, tr.19]. Quan niệm này trái với
quan niệm của Secnưsepxki, coi tính sinh động của tác phẩm văn chương
“thua kém xa tác phẩm hội hoạ” [Dẫn theo 25, tr.19].
1.2.1.3. Nhận xét của F. Hêghen
Cùng thời với Lessing, Hêghen - nhà triết học cổ điển Đức khi xây
dựng cơ sở triết học cho hệ thống các nghệ thuật trong công trình Những bài
giảng mĩ học đồ sộ đã rất nhiều lần nhắc đến kết hợp từ tính sinh động. Tính
sinh động, theo quan niệm của Hêghen gắn liền với tính cách nhân vật. Bàn
về tính cách nhân vật, Hêghen chú ý nhiều đến các nhân vật trong anh hùng
ca của Hôme.Ông cho rằng: “Mỗi anh hùng ca của Hômerơ làm thành một

W. Sêchxpia, lược bỏ bớt những đoạn độc thoại nội tâm quá dài để “lối đối 13
thoại trở nên linh hoạt và sinh động” [44,376]. Mặt khác, cần tạo cho động cơ
hành động của nhân vật được “đẩy lên hàng đầu một cách sinh động, linh
hoạt, có thể nói là một cách tự nhiên cũng như phải gia tăng thêm thành phần
bình dân, nâng cao nghệ thuật đặc trưng hoá các nhân vật” [44,376] để vở
kịch thêm sinh động. Qua những lý giải sâu sắc ấy, Engels cũng đã cho thấy
nhận thức nghệ thuật của mình về vấn đề tính sinh động: Với Engels, tính
sinh động được xác định như một dấu hiệu quan trọng của hình thức nghệ
thuật và chất lượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương.
1.2.1.5. Nhận xét của M. Gorki
Đại văn hào Nga M.Gorki cũng rất chú ý đến tính sinh động của tác
phẩm văn chương nhưng ở một khía cạnh khác. Do những đỉnh cao nghệ
thuật trong bất kỳ một nền văn học nào cũng đều được xây cất trên nền tảng
vững chắc của thực tại đời sống nên theo Gorki, nếu vốn sống của nhà văn
quá đơn giản, nghèo nàn thì không thể tạo ra hình thức nghệ thuật sinh động.
M.Gorki quan niệm: “Chỉ riêng đặc trưng giai cấp thôi chưa đủ để tạo nên
một con người sinh động, hoàn chỉnh, một tính cách được hoàn thành qua
nghệ thuật” [Dẫn theo 25, tr.20]. Ý kiến ấy của nhà văn đã chỉ ra rằng, tính
sinh động, dù biểu hiện dưới dạng thức nào, của bức tranh chung toàn tác
phẩm hay từng nhân vật thì cũng đều liên quan mật thiết đến sự nhận thức
phong phú, nhiều mặt của người nghệ sĩ về cuộc sống.
1.2.2. Ở trong nước
1.2.2.1. Ý kiến của Trường Chinh
Ở Việt Nam, một trong những người đưa ra quan niệm khá rõ ràng, xác
định về tính sinh động của tác phẩm là nhà nghiên cứu Trường Chinh. Trong
sách Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam, ông đã chỉ ra rằng: chất
lượng nghệ thuật cao xa lạ với những “quái thai của tưởng tượng”. Nghệ thuật

con người thực ngoài đời. 15
1.2.2.4. Ý kiến của Nguyễn Lương Ngọc
Trước vấn đề xây dựng những hình tượng con người sống động trong
tác phẩm, GS. Nguyễn Lương Ngọc đặc biệt chú ý đến cách thức thể hiện
sinh động những con người sống đó. Tác giả cho rằng: “Văn học nhất định
phải miêu tả con người sống. Mà miêu tả con người sống là xuyên qua những
sự kiện xung đột nhất định. Nói cách khác, trong quá trình quan hệ lẫn nhau
và phát triển tuần tự của những sự kiện, hành động, xung đột, tính cách của
những nhân vật tham dự được biểu hiện một cách sinh động” [56, 55]. Như
thế, điều GS. Nguyễn Lương Ngọc muốn nhấn mạnh ở đây là để sáng tạo
được những nhân vật sinh động thì cần đặt chúng trong sự phát triển tuần tự
của sự kiện, xung đột, hành động, tính cách và nhìn nhận tất cả các yếu tố đó
trong mối liên hệ hữu cơ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau.
Như vậy, xét về nguồn gốc, kết hợp từ tính sinh động đã xuất hiện từ
khá sớm và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
mà phần phân tích trên đây mới chỉ điểm qua được những ý kiến được xem là
tiêu biểu nhất. Tuy rằng, với mỗi tác giả, từ sinh động còn được dùng theo
kinh nghiệm riêng của mỗi cá nhân nhưng nhìn chung cách hiểu về thuật ngữ
tính sinh động lại khá thống nhất. Với tư cách là một bình diện nghệ thuật,
vấn đề tính sinh động của tác phẩm văn chương đã được các nhà nghiên cứu
đánh giá, nhìn nhận trên nhiều khía cạnh: từ sự miêu tả sinh động đối tượng
đến sự miêu tả sinh động tính cách nhân vật, xây dựng những hình tượng
nhân vật sống động Sâu hơn nữa, các tác giả cũng đã thấy được “mối liên hệ
của tính sinh động với tư tưởng tác phẩm, với kinh nghiệm nghệ thuật quá
khứ để lại và với các yếu tố hình thức thể hiện” [25, 25]. Trên cơ sở đó, tính
sinh động được coi như thước đo trình độ nghệ thuật cao của tác phẩm văn
chương. Nhưng xét một cách một cách tổng quát, kết hợp từ tính sinh động

tính nhân dân tuy cùng là những mặt giá trị của tác phẩm nhưng là những giá 17
trị khác do tính nghệ thuật đem lại. Còn tính sinh động - một trong hai yếu tố
của tính nghệ thuật như Dobroliubov đã xác định, được nhìn nhận trong tư
cách độc lập với tính hình tượng của tác phẩm. Điều đáng ghi nhận ở đây là
Dobroliubov đã có sự phân biệt rõ ràng giữa chất lượng nghệ thuật với đặc
trưng nghệ thuật. Sự phân biệt này là hoàn toàn cần thiết vì sẽ giúp người tìm
hiểu phân tích được những khía cạnh khác nhau của tính nghệ thuật đích thực.
1.3.1.2. Quan niệm của L.I. Timôphêev
Tiếp nhận những yếu tố tích cực trong quan niệm của Dobroliubov,
cuối những năm 50 của thế kỷ XIX, nhà nghiên cứu L.I. Timôphêev đã giành
hẳn một chương sách (chương III) trong công trình Nguyên lý lý luận văn học
để bàn về tính nghệ thuật. Theo Timôphêev, vấn đề tính nghệ thuật không chỉ
là vấn đề phân biệt tác phẩm văn học có nghệ thuật tính với tác phẩm văn học
không có nghệ thuật tính mà còn là vấn đề chất lượng của nó và ông khẳng
định: “khái niệm tính nghệ thuật là khái niệm chất lượng” [64,221]. Trên cơ
sở đó, Timôphêev chỉ ra những điều kiện quyết định tính nghệ thuật của tác
phẩm là: tính trung thực của sự khái quát hoá, tính sinh động của sự thể hiện,
tính khuynh hướng thẫm mỹ và tính nhân dân. Như thế, so với Dobroliubov,
quan niệm tính nghệ thuật của Timôphêev được mở rộng hơn, bao quát tất cả
các mặt của giá trị phản ánh cuộc sống bằng hình tượng tạo nên. Ngoài tính
khái quát hoá (tính sinh động của sự miêu tả) giống như Dobroliubov đã xác
định, Timôphêev đưa thêm tiêu chuẩn “tính khuynh hướng thẩm mỹ và mối
liên hệ của tác phẩm với cuộc sống con người” vào cấu trúc tính nghệ thuật.
Quan niệm đó được ông nhấn mạnh như sau: “Những biểu hiện căn bản của
tính nghệ thuật không phải là cái gì khác mà chính là sự thực hiện trong tác
phẩm nghệ thuật cụ thể những đặc tính chủ yếu của sự phản ánh cuộc sống
bằng hình tượng: tính cá thể hoá, tính khái quát hoá, khuynh hướng thẩm mỹ,

tổ chức tác phẩm như ba thước đo giá trị thẩm mỹ và sự hoàn thiện nghệ thuật 19
là: tính tổ chức của tổ chức, tính chất mô hình hoá nghệ thuật về đời sống của
tổ chức, tính mục đích thống nhất của tổ chức.
Không dừng lại ở đó, Gei tiếp tục phát triển quan niệm của mình về
tính nghệ thuật trong công trình Tính nghệ thuật của văn chương ra đời gần
mười năm sau. Trong nhận thức của Gei lúc này, tính nghệ thuật không phải
chỉ là “vấn đề chất lượng của tổ chức nghệ thuật phần nào tách rời đặc trưng
nghệ thuật” mà còn là “vấn đề bản chất, đặc trưng và tính tích cực thẩm mỹ
của nó nữa” [25, 31]. Nghĩa là: Gei muốn tìm hiểu sâu hơn về bản chất đặc
trưng của tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ của nó đối với người tiếp
nhận. Mở rộng hơn, Gei xác định ba đặc tính thẩm mỹ của tính nghệ thuật là
“tính không lặp lại”, “tính toàn vẹn” và “tính hàm súc”. Gei gọi chúng là các
“đặc tính thẩm mỹ của thực tế thẩm mỹ đã được thực hiện” [25, 31].
Vậy là, với công trình Tính nghệ thuật của văn chương, quan niệm về
tính nghệ thuật của Gei đã có sự điều chỉnh lại so với mười năm trước đó. Gei
có uốn lại quan niệm chất lượng phần nào tách rời đặc trưng của mình nhưng
ông vẫn khác Dobroliubov và Timôfêev. Hầu hết các yếu tố cơ bản trong cấu
trúc tính nghệ thuật của họ nằm ngoài cấu trúc các thước đo nghệ thuật của
ông. Riêng thước đo tính sinh động được giữ lại nhưng bị ông hạ xuống xếp
vào loại “các yếu tố riêng biệt”. Qua đó, có thể thấy, Gei có quan điểm khác
với những người đi trước ở chỗ ông đi tìm tính nghệ thuật chủ yếu ở các
nguyên tắc cơ bản của tổ chức nghệ thuật tác phẩm.
1.3.1.4. Quan niệm của P.Nicolaev
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học, P.Nicolaev cũng
đưa ra quan niệm về tính nghệ thuật của mình có phần gần gũi với quan niệm
của N.K.Gei. Nicolaev chỉ rõ: “tính nghệ thuật là chất lượng đặc trưng của tác
phẩm nghệ thuật, là hình thức của cái đẹp trong nghệ thuật” [25, 32]. Về cấu

Nam Mộc. Xuất phát từ đặc trưng: văn học phản ánh cuộc sống và tác động 21
đến cuộc sống theo cách riêng, với sức mạnh riêng mà các hình thái ý thức
xã hội khác không có được, Nguyễn Cương khẳng định văn học là một nghệ
thuật nên cần có tính nghệ thuật của nó. Tính nghệ thuật của văn học, theo
Nguyễn Cương biểu hiện ở “sự phản ánh đúng đắn, chân thật cuộc sống”
[70,375] và ông coi đây là “yêu cầu có tính chất quyết định đối với chất
lượng của tác phẩm” [70,375]. Xét ở phương diện này, Nguyễn Cương
dường như chưa có sự phân định rõ ràng giữa tiêu chuẩn cơ sở (tính chân
thật) khi xem xét một tác phẩm với yếu tố mang đặc tính chất lượng (tính
nghệ thuật). Nhưng khi bàn về cấu trúc tính nghệ thuật, Nguyễn Cương lại
mang đến một đóng góp mới, có giá trị. Nếu Nam Mộc chỉ gắn quan niệm
tính nghệ thuật với chất lượng của hình thức nghệ thuật, thì Nguyễn Cương
xem tính nghệ thuật là khái niệm bao hàm cả hai mặt nội dung và hình thức.
Ông viết: “Ngay trong bản thân khái niệm “tính nghệ thuật” cũng có phần
thuộc nội dung (cùng với tính tư tưởng làm thành nội dung tác phẩm) đồng
thời có phần thuộc hình thức” [70,386]. Mặt nội dung là “quan điểm thẩm
mỹ, lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn thể hiện một cách ẩn kín, thầm lặng trong
các tác phẩm” [70,378], còn mặt hình thức là “cách thức chọn lọc những
khía cạnh, những chi tiết, biện pháp phản ánh miêu tả, cách thức tổ chức tác
phẩm, lối sử dụng ngôn ngữ văn học” [70,379]. Tính nghệ thuật của tác
phẩm đạt hiệu quả cao nhất khi nhà văn diễn tả được “cho hay, cho cụ thể và
sinh động đến mức hấp dẫn, làm say mê được nhiều người” [70,375].
Nguyễn Cương mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những đặc trưng riêng lẻ của
tính nghệ thuật, chưa lý giải thêm gì về cách tổ chức những đặc trưng riêng
lẻ đó trong một chỉnh thể nhưng qua hệ thống lập luận của nhà nghiên cứu,
có thể thấy ông coi tính sinh động của sự miêu tả như một yếu tố thuộc cấu
trúc tính nghệ thuật và có vai trò quan trọng đối với việc quyết định chất

sơ sở kế thừa, tiếp thu những yếu tố tiến bộ từ quan niệm của những học giả 23
đó, đặc biệt là của N.K. Gei, Phùng Minh Hiến cũng nỗ lực tìm tòi, khám
phá, soi chiếu những khía cạnh mà người đi trước ông còn bỏ ngỏ để tạo
một hướng nghiên cứu cho riêng mình. Ông khẳng định: “tính sinh động là
phạm trù nghiên cứu văn chương quan trọng bởi vì nó là dấu hiệu tổng hợp
và có tính đặc trưng nhất thuộc chất lượng nghệ thuật tác phẩm. Nó kết hợp
sức mạnh của sự miêu tả và sự tác động của sự miêu tả này đến bạn đọc”
[25, 8]. Trong sự nhìn nhận của Phùng Minh Hiến, tính sinh động đang trở
thành thuật ngữ nghiên cứu văn chương độc lập, cái biểu thị khái niệm mỹ
học đặc biệt. Tính sinh động đặt trong cấu trúc tính nghệ thuật được ông
đánh giá rất cao: “Chính trong văn chương dẫn luận chung của hàng loạt
các nước Châu Âu hôm nay vẫn chưa có khái niệm nào đặc trưng hoá được
đủ chuẩn xác những đặc điểm nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm văn
chương. Chúng ta cảm thấy, dường như, thuật ngữ tính sinh động có thể
giành được vị trí này” [25,47].
Theo quan niệm đó, cách hiểu về tính sinh động của các các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước được tác giả chuyên luận phân tích, đánh giá một
cách sâu sắc, kĩ càng đồng thời ông cũng xác lập khái niệm tính sinh động của
sự miêu tả, những dấu hiệu biểu hiện cụ thể của nó và ứng dụng nghiên cứu
đối với loại tác phẩm tự sự.
Có thể nói, hướng nghiên cứu văn chương xuất phát từ quan điểm tính
sinh động của sự miêu tả đến Phùng Minh Hiến đã đạt được một chiều sâu
mới với những thành tựu đáng ghi nhận. Vì thế, hệ thống lý luận của ông về
vấn đề này được chúng tôi xem như nền móng cơ sở để ứng dụng vào việc
nghiên cứu những truyện ngắn viết về đề tài trí thức tiểu tư sản của nhà văn
Nam Cao. Những luận điểm khoa học của Phùng Minh Hiến về khái niệm
tính sinh động với những yếu tố cấu trúc của nó sẽ được chúng tôi kế thừa và

miêu tả. 25
1.4.2. Tính sinh động của sự miêu tả nhân vật trong mối liên hệ với các yếu
tố cấu trúc, các thành phần của hình tượng và của tác phẩm
Thế kỷ XIX, Biêlinxki- nhà lý luận phê bình nổi tiếng người Nga từng
đưa ra nhận định: “Nhà triết học nói về đời sống bằng phép tam đoạn luận,
còn nhà thơ nói về đời sống bằng những bức tranh [15, 26]. Điều đó chứng tỏ
rằng đối tượng và nội dung của văn học nghệ thuật đòi hỏi người sáng tác
nhận thức và thể hiện theo cách riêng. Các bộ môn khoa học nghiên cứu hiện
thực và giải nghĩa những tư tưởng khoa học bằng công thức, định lý, những
khái niệm trừu tượng. Nhà văn lại xây dựng hình tượng để khái quát hiện
thực, cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Dù có tư
tưởng đúng đắn, tình cảm mãnh liệt và trong sáng nhưng nếu không đủ tài
năng để xây dựng được những hình tượng nghệ thuật sinh động về cuộc sống
con người thì nhà văn vẫn không tạo ra được tác phẩm văn học. Nói như
G.N. Pospelov: “Hình tượng không giản đơn chỉ là sự phản ánh một hiện
tượng riêng biệt của đời sống vào ý thức con người mà là sự tái hiện một hiện
tượng đã được nghệ sĩ phản ánh vào ý thức bằng phương tiện và ký hiệu vật
chất nhất định, bằng lời nói, nét mặt, động tác, đường nét, màu sắc, hệ thống
âm thanh” [59, 63]. Về phía người tiếp nhận, hình tượng có khả năng tác động
tổng hợp đến tâm hồn bạn đọc. Và sự tác động đó phụ thuộc rất lớn vào cấu
trúc của hình tượng.
Trước hết, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống
nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lý trí và tình cảm,
cá biệt và khái quát, hiện thực và lý tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và
vô hình Hình tượng nghệ thuật chỉ có sức mạnh và tạo ra tính sinh động khi
ở nghệ sĩ - người sáng tạo nó có sự cân bằng hài hoà mãnh liệt các mặt trên.
Nhưng nó đặc trưng cho không phải hình tượng bất kỳ nào mà chỉ cho hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status