bút pháp xây dựng nhân vật trí thức trong truyện ngắn nam cao và lỗ tấn - Pdf 14



BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 5.04.33

Người thực hiện.: PHẠM PHƯƠNG THẢO
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TRẦN XUÂN ĐỀ Tp. Hồ Chí Minh tháng 04 năm 2000

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


1TDẪN NHẬP1T 5
1T1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:1T 5
1T1. Hiện tượng "gặp gỡ" ở Nam Cao và Lỗ Tấn1T 5
1T2. Nam Cao và Lỗ Tấn là những tác giả tiêu biểu của hai nền văn học1T 5
1T3. Nam Cao và Lỗ Tấn là những tác giả có nhiều sáng tác giảng dạy trong nhà trường.1T 8
1T2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:1T 9
1T1. Cơ sở lý luận1T 10
1T2. Cơ sở kiến thức khái quát1T 10
1T3. Cơ sở kiến thức trực tiếp1T 11
1T3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:1T 11
1T1. Mục đích nghiên cứu1T 11
1T2. Đối tượng nghiên cứu1T 11
1T3. Giới hạn đề tài1T 11
1T4. Cái mới của đề tài1T 12
1T4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:1T 12
1T1. Phương pháp so sánh loại hình1T 12
1T2. Phương pháp lịch sử1T 12
1T3. Các thủ pháp phối hợp1T 13
1T5. CÂU TRÚC LUẬN ÁN:1T 13
1TCHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ NAM CAO VÀ LỖ TẤN1T 15
1T1.1. Nam Cao (1917- 1951)1T 15
1T1.1.1. Thời đại Nam Cao:1T 15
1T1.1.2.Tư tưởng sáng tác nghệ thuật của Nam Cao:1T 15
1T1.1.3. Truyện ngắn của Nam Cao:1T 19
1T1.2. Lỗ Tấn (1881-1936)1T 25
1T1.2.1. Thời đại Lỗ Tấn:1T 25
1T1.2.2. Tư tưởng sáng tác nghệ thuật của Lỗ Tấn:1T 26
1T1.2.3. Truyện ngắn của Lỗ Tấn:1T 28
Xin chân thành cảm ơn tất cả.
Đầu xuân, năm Canh Thìn - 04/2000

PHẠM PHƯƠNG THẢO

BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 5

DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Lịch sử văn chương có nhiều hiện tượng "gặp gỡ". Trong văn chương Trung Quốc có
Kinh Thi và sở Từ, Lý Bạch "Thi tiên" và Đỗ Phủ "Thi thánh" , trong văn chương Pháp
cũng có bi kịch Corneille và bi kịch Racine Ở Việt Nam cũng có nhiêu hiện tượng văn
chương "gặp gỡ" như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Tất Tố và Nguyễn Công
Hoan Người ta còn thấy sự "gặp gỡ" văn chương ngoài biên giới quốc gia, trong khu vực và
ngoài khu vực.
Việt Nam và Trung Quốc có yếu tố địa lý "núi liền núi, sông liền sông" và hoàn cảnh
lịch sử hàng nghìn năm giao lưu văn hóa. Mặc dù có những yếu tố bị áp đặt, có những yếu tố
tiếp nhận tự giác, chọn lọc cho nên văn học Việt Nam rất gần gũi với văn học Trung Quốc.
Từ thể loại đến cấu tứ đề tài, điển tích, điển cố và chữ viết đều có thể vay mượn và sáng tạo.
"Truyện Kiều" của Nguyễn Du và "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân cuối đời
Minh Trung Quốc là sự vay mượn từ cốt truyện đến nhân vật, tình tiết. Nhà thơ thiên tài của
dân tộc ta đã mạnh dạn cắt bỏ những yếu tố rườm rà, non kém về nghệ thuật, không thích hợp
về nội dung tư tưởng. Ông đã xây dựng nên những nhân vật điển hình độc đáo, có cá tính cụ
thể, lại mang ý nghĩa khái quát cao, thể hiện bằng ngôn ngữ điêu luyện của dân tộc. "Truyện
Kiều" của Nguyễn Du và "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân là hiện tượng
văn chương "gặp gỡ" chung một nguồn gốc, có tương đồng và dị biệt.
1. Hiện tượng "gặp gỡ" ở Nam Cao và Lỗ Tấn
Lâu nay, người ta nói Nam Cao (Việt Nam) và Lỗ Tấn (Trung Quốc) là hiện tượng văn
chương song hành. Hiện tượng này tất nhiên cũng có nhiều nét tương đồng và dị biệt nhưng

mắt là những tuyên ngôn nghệ thuật, thể hiện những bước chuyển biến về tư tưởng nghệ
thuật trên chặng đường sáng tác của ông.
Qua tuyên ngôn nghệ thuật, chúng ta hiểu Nam Cao là một nhà văn chân chính, luôn
thấy rõ trách nhiệm của người cầm bút đối với con người, đối với xã hội, đất nước và dân tộc.
Từ một nhà văn tiến bộ trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng của cách
mạng, Nam Cao đã chiến đấu kiên định cho lý tưởng nghệ thuật cao cả của mình. Đóng góp
lớn nhất của Nam Cao là việc cách tân, hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Truyện ngắn của
ông là thành tựu xuất sắc về phương diện thể loại. Tiểu thuyết của ông đạt đến đỉnh cao về
thể loại mà vẫn đậm đà chất tự truyện. Ngôn ngữ, phong cách sáng tác của Nam Cao cũng là
những thành công độc đáo.
Có rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình .văn học đánh giá về Nam Cao.
Mỗi ý kiến nói về một khía cạnh khác nhau nhưng đều thừa nhận và khẳng định vai trò quan
trọng của Nam Cao trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Chúng tôi xin dẫn ra đây ý kiến
của tác giả Trần Đăng Xuyên để thay lời kết luận về Nam Cao:
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 7

" Nam Cao (1917-1951) là một trong số những nhà văn lớn nhất của nền vãn học hiện
đại Việt Nam. Sáng tác của ồng đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian,
càng thử thách lại càng ngời sáng. Thời gian càng lùi xa nhưng tác phẩm của ông lại càng
bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện
độc đáo."0TP0F
(1)
Nếu Nam Cao là cây bút xuất sắc số một của văn xuôi hiện đại Việt Nam thì Lỗ Tấn là
người thầy của nền văn học Cách mạng Trung Quốc Thời Ngũ Tứ. Tiểu thuyết và truyện
ngắn của ông khiến chúng ta phải ngạc nhiên thú vị bởi trong đó có những con người đời
thường đa dạng, với những tâm sự, những mảnh đời mang dấu ấn sáng tạo độc đáo. Thế giới
sáng tạo nghệ thuật của Lỗ Tấn trải rộng trên những thể tài: thơ, truyện ngắn, tạp văn, tiểu
thuyết và dịch thuật. Riêng truyện ngắn, ông xứng đáng bậc thầy, sánh ngang Sêkhop (Nga),
Mopaxang (Pháp), Ohenri (Mĩ) và Dich ken (Anh), cốt truyện, nhân vật, tư tưởng chủ đề đều

xúc của thời đại, thực hiện được ước mơ, khát vọng của quần chúng và phù hợp với yêu cầu
cách mạng. Từ lập trường tư tưởng tiến bộ đó, Lỗ Tấn đã trở thành người chiến sĩ kiên định
và là nhà văn hóa vô sản đứng ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu cho sự thắng lợi của cách
mạng văn hóa dưới lá cờ vẻ vang của Đảng. Từ 1930 trở đi, mỗi sáng tác của ông đều là
những sản phẩm trực tiếp của cuộc đấu tranh cách mạng.
Rôbe Diyanni, nhà nghiên cứu văn học Mỹ, đã đánh giá: "Lỗ Tấn đã đặt nền móng cho
văn học Trung Quốc hiện đại và ông được xem như là nhà văn lớn ở thế kỷ XX ở Cộng hòa
nhân .dân Trung Hoa. Tác phẩm của ông có mang tính hiện thực và tính châm biếm một cách
tuyệt diệu ở giọng điệu và phong cách" 0TP2F
(1)

3. Nam Cao và Lỗ Tấn là những tác giả có nhiều sáng tác giảng dạy trong nhà
trường.
Ở chế độ thực dân phong kiến, văn chương của Nam Cao chưa được đánh giá đúng
mức. Phải đến hàng chục năm sau khi ông mất, nhất là từ khi có chuyên luận Nam Cao, nhà
văn hiện thực xuất sắc của tác giả Hà Minh Đức (1961) và Tuyển tập Nam Cao ra đời (1975)
thì giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao mới được định vị vững chắc. Thử thách của
thời gian càng làm cho văn chương của Nam Cao sáng đẹp. Ngày nay, Nam Cao được đánh
giá xứng đáng hơn. ông là một trong chín tác giả được chọn giảng trong chương trình môn
văn ở trường phổ thông và đại học với tư cách một tác giạ lớn của văn học dân tộc.
Hơn nửa thế kỷ nay, người Việt Nam đã hiểu về Lỗ Tấn với nhân vật AQ cũng như
hiểu về Nam Cao với nhân vật Chí Phèo. Giới văn học, sinh viên, học sinh thì hiểu về Nam
Cao và Lỗ Tấn sâu sắc hơn. Mặc dù những biến động xã hội trên quê hương đất nước Lỗ Tấn
diễn ra liên miên, nhưng ở Việt Nam, tên tuổi và văn chương của ông vẫn được trân trọng.
Việc nghiên cứu học tập Lỗ Tấn vẫn là một nội dung lôi cuốn các thế hệ thầy trò trong nhà
trường chúng ta.
Như vậy, Lỗ Tấn và Nam Cao chẳng những là hiện tượng văn chương song hành ngoài
biên giới quốc gia mà còn là những tác gia lớn tiêu biểu trong nền văn học hiện đại của Việt
Nam và Trung Quốc. Cả hai ông đều thể hiện rõ thiên tài nghệ thuật, để lại cho đời nhiều kiệt
tác, được các thế hệ thầy trò trong nhà trường yêu thích, nghiên cứu và học tập. Do đó, ở luận

kiến nhận xét, đánh giá của ông về Lỗ Tấn, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
''Danh từ phổ thông, bút pháp tả chân, ấy là hai cái đặc sắc của văn nghệ Lỗ Tấn". Và
"Trong quan điểm của Lỗ, tiểu thuyết không phải lù một thứ sách tiêu khiển "nhàn thư" như
các nhà học giả Trung Quốc vẫn ngộ nhận. Tiểu thuyết sẽ có sứ mệnh phô bày cho người
trong nước biết những sự xấu xa của xã hội Trung Quốc, để buộc họ phải "tìm phương chạy
chữa".0TP3F
(1)

Các nhà văn, các nhà nghiên cứu nổi tiếng ở n ta như Nguyễn Tuân, Trương Chính,
Anh Đức, Phương Lựu, Lương Duy Thứ đều có công trình viết về Lỗ Tấn. ở nước ngoài

(1)
Giới thiệu AQ chính truyện - Đặng Thai Mai - NXB Thời đại - 1944. (Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam,
Tập V - NXB Vãn học, Hà Nội - 1997, trang 325)
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 10

cũng có nhiều nhà phê bình nghiên cứu vãn học viết về Lỗ Tấn như Lý Hà Lâm và nhóm tác
giả Đường Thao (Trung Quốc), Phađêép (nhà văn Xô Viết), Rômanh Rôlăng (Pháp), Panachi
(Ấn Độ) và Rôbe Diyanni (Mỹ) Người ta khẳng định "Lỗ Tấn là chủ tướng của cách mạng
văn hóa Trung Quốc'' (Chủ tịch Mao Trạch Đông) là "người đặt nền móng cho văn học
Trung Quốc hiện đại" (Rôbe Diyanni)0TP4F
(2)
P0T, là "bậc thầy truyện ngắn" (Anh Đức)0TP5F
(3)
P0T Cách xây
dựng hình tượng điển hình, các loại nhân vật, tính khái quát rất cao ở hình tượng nhân vật,
mục đích chữa bệnh tinh thần con người, ý nghĩa triết lý đều là những vấn đề được các nhà
nghiên cứu khám phá ở nhiều mức độ khác nhau.
Điều thú vị nhất là tên tuổi của Nam Cao và Lỗ Tấn được gắn với tên tuổi của nhân vật

Lương Duy Thứ
3. Cơ sở kiến thức trực tiếp
Các công trình nghiên cứu đi trước đã khai thác sâu vào thế giới nội dung, nghệ thuật
văn chương của Nam Cao và Lỗ Tấn. Mỗi chuyên luận chỉ bàn đến một vấn đề. Các kết luận
nhận định, đánh giá thường có cơ sở lý luận và thực tiễn, được lý giải phân tích thỏa đáng,
nội dung phong phú, xứng đáng là công trình nghiên cứu về tác giả lớn của một nền văn học.
Hướng nghiên cứu này có các tác giả Vũ Dương Quỹ, Phạm Xuân Nguyên, Trần Đăng
Xuyên, Vũ Tuấn Anh, Bùi Công Thuấn, Phạm Quang Long, Phùng Ngọc Kiếm, Phan Diễm
Phương viết về Nam Cao. Các tác giả Lý Hà Lâm, Đường Thao, Trương Chính, Lương
Duy Thứ viết về Lỗ Tấn.
Qua ba hướng nghiên cứu trên, chúng tôi đã có cơ sở lý luận và nhận thức đầy đủ về
Nam Cao và Lỗ Tấn. vừa khái quát vừa cụ thể. Đó chính là điều kiện cần thiết để đề tài tìm ra
những điểm "gặp gỡ" về bút pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật trí thức trong truyện ngắn
Nam Cao và Lỗ Tấn.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
1. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra bút pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trí thức trong truyện ngắn
Nam Cao và Lỗ Tấn để góp phần thẩm định những yếu tố giống nhau trong hiện tượng văn
chương "gặp gỡ" của hai tác giả là mục đích của luận án đề ra.
2. Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về bút pháp nghệ thuật và nhân vật văn học trong tác phẩm.
- Truyện ngắn Nam Cao và truyện ngắn Lỗ Tấn, đặc biệt là những truyện viết về người
trí thức.
- Những công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài.
3. Giới hạn đề tài
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, đề tài xác định phạm vi vấn đề chỉ nằm trong bút
pháp nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn. Nguyên tắc là đi từ cái chung đến cái
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 12



3. Các thủ pháp phối hợp
Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn vận dụng các thao tác thống kê, phân loại. phân
tích, hệ thống hóa và tổng hợp vấn đề để nhận thức các hiện tượng văn học có cơ sở lý luận
và thực tiễn chắc chắn.
5. CÂU TRÚC LUẬN ÁN:
DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5. CÂU TRÚC LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ NAM CAO VÀ LỖ TẤN
1.1. NAM CAO (1917-1951)
1.1.1. Thời đại Nam Cao
1.1.2. Tư tưởng sáng tác nghệ thuật của Nam Cao
1.1.3. Truyện ngắn Nam Cao
1.2. LỖ TẤN (1881-1936)
1.2.1. Thời đại Lỗ Tấn
1.2.2. Tư tưởng sáng tác nghệ thuật của Lỗ Tấn
1.2.3. Truyện ngắn Lỗ Tấn
CHƯƠNG 2: BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
2.1. BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT LÀ GÌ?
2.2. VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT XÂY DƯNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
VĂN HỌC
2.3. BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGĂN
NAM CAO VÀ LỖ TẤN
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 14

Tháng Tám (1945). Ông có vinh dự cùng sát cánh với những người cần lao trong đội quân
Cách mạng, xông lên cướp chính quyền ở phủ huyện như nước vỡ bờ. Từ một nhà văn trong
trào lưu hiện thực phê phán của những năm 1940 - 1945, Nam Cao đã trở thành nhà văn Cách
mạng, người chiến sĩ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đẳng, vì một lý tưởng sống cao đẹp.
Thời đại Nam Cao là thời đại hào hùng cả dân tộc đứng lên làm chủ vận mệnh đất nước, sẵn
sàng đương đầu với mọi kẻ thù để bảo vệ độc lập tự do đã giành được.
1.1.2.Tư tưởng sáng tác nghệ thuật của Nam Cao:
1.1.2.1. Trước Cách mạng Tháng Tám (1945)
Nam Cao viết văn từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mới bước vào tuổi thanh niên
(1936). Ngòi bút của ông đã thử qua nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện ngắn, sau này có cả
truyện dài và tiểu thuyết, nhưng tài hoa của ông được khẳng định xuất sắc ở truyện ngắn và
tiểu thuyết.
Viết văn sớm cho nên ảnh hưởng của nhà trường chế độ cũ rất rõ đối với Nam Cao.
Thơ văn lãng mạn Pháp và cả thơ văn lãng mạn Việt Nam đương thời đã làm cho cây bút của
cậu học trò tập viết văn hướng về những cảm hứng thơ mộng, phiêu lưu. Những sáng tác của

1
Văn học Việt Nam (1900 - 1945) - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục - 1998, trang 471
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 16

Nam Cao ở thời kỳ này, từ thơ đến truyện ngắn và kịch đều xoay quanh chủ đề tình yêu lãng
mạn. Giáo sư Hà Minh Đức đã có nhận xét.
"Trong những ngày sôi nổi của tuổi trẻ lớn lên, cũng như buổi đầu đến với văn học,
Nam Cao làm một số thơ lãng mạn và viết những truyện tinh thơ mộng. Ở thời kỳ này, ngòi
bút của Nam Cao đang dò dẫm để tìm một lối đi, tâm hồn Nam Cao đang dần đổi thay để có
được một cách nhìn đúng đắn cuộc sống"0TP7F
(1)

Quả vậy ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời trong sáng tác của Nam


nghệ thuật. Ông đã đoạn tuyệt và tuyên chiến với thứ văn chương lãng mạn tiêu cực "của bọn
nhàn rỗi quá", thể hiện kết quả "nhận đường" trong tư tưởng nghệ thuật. Quan điểm tuyên
ngôn nghệ thuật của Nam Cao có thể gói gọn trong một câu sau đây:
"Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia,
thoát ra từ những kiếp lầm than, vang lên mạnh mẽ" (Nam Cao toàn tập, tập 2 ưang 64).
Sau Trăng sáng Nam Cao viết Đời Thừa (1943). Đây là cái mốc đánh dấu sự phát triển
về tư tưởng nghệ thuật của Nam Cao. Qua nhân vật Hộ, nhà văn muốn đặt ra nhiệm vụ lớn
lao của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ chân chính luôn luôn bị thôi
thúc bởi một lý tưởng sống cao đẹp, không thể lấy nghệ thuật ra để mưu sinh. Nam Cao có
một yêu cầu thật nghiêm khắc với ngòi bút sáng tạo nghệ thuật. Bởi "văn chương chỉ dung
nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những
cái gì chưa ai có" (Nam Cao toàn tập, tập 2 trang 80). Ông không chấp nhận thứ văn chương
"vô vị, nhạt phèo, gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông". Ông khẳng định "sự cẩu thả trong
văn chương thì thật đê tiện" (Nam Cao toàn tập, tập 2 trang 80).
Như vậy, sau Trăng sáng, Đời thừa sáng tác của Nam Cao không còn tơ vương với
văn chương lãng mạn. Ngòi bút của ông ngày càng xuất sắc trong khuynh hướng sáng tác
hiện thực chủ nghĩa. Tuy đến với trào lưu văn học hiện thực muộn hơn so với những cây bút
lão luyện như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng nhưng
Nam Cao không non kém so với bất cứ ai. Ông đã tìm ra cho mình một con đường đến với
chủ nghĩa hiện thực. Hai mảng đề tài lớn Nam Cao phản ánh là người nông dân và người trí
thức. Đề tài thì không mới, nội dung truyện xem ra có phần vụn vặt với "những chuyện không
muốn viết", vậy thì cái gì đã làm nên tài năng tuyệt vời của Nam Cao? Các nhà nghiên cứu
chỉ ra rằng: Nếu như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan nói về cái nghèo thì đúng là nghèo
thật, nhưng Nam Cao nói về cái nghèo thì không dừng lại ở đó mà ông đi xa hơn, ông nói về
những khía cạnh cái nghèo gặm nhấm nhân cách con người, cái nghèo phá vỡ những quan hệ
tốt đẹp trong gia đình Ông phát hiện và đào sâu phân tích, phê phán, tìm ra ý nghĩa nhân
bản, nhân văn của vấn đề với một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Vì vậy, ngòi bút hiện thực của
Nam Cao có phần vượt trội so với bút pháp tả thực thuần túy. Các sáng tác sau này của ông
đã thể hiện đúng như quan niệm:

con người mới khi Nam Cao viết về Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến vĩ đại của
dân tộc.
Truyện ngắn Đôi mắt kể về cuộc gặp gỡ của Độ, một nhà văn kháng chiến với vợ
chồng Hoàng, tại nơi tản cư của thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Hoàng là nhà văn lớp
đàn anh của Độ, chưa nhập cuộc với kháng chiến. Từ sinh hoạt đến lời nói và cách nghĩ,
Hoàng không chịu chuyển mình theo cuộc sống gian khổ trong chiến tranh. Đối với quần
chúng nông dân, Hoàng chỉ một giọng giễu cợt, khinh khi. Y thà giao du với lớp cặn bã
thượng lưu của chế độ cũ, với những ông đốc, ông phủ, ông phán để đánh bài, đánh chén và
nói xấu nhau chứ nhất định không chịu làm việc với những người dân quê. Hoàng tin tưởng
và sùng bái lãnh tụ nhưng lại hoài nghi và coi thường quần chúng cách mạng. Nhân vật Độ
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 19

tuy chưa hết những ấn tượng cũ nhưng đã thấy ở những anh chàng thôn quê "răng đen, mắt
toét" ấy có những hành động Cách mạng dũng cảm, đang đóng vai trò tích cực trong cuộc
kháng chiến của cả dân tộc.
Như vậy, Nam Cao đã sử dụng nhân vật Hoàng và Độ để thể hiện hai cách nhìn, hai
quan điểm đối với quần chúng cách mạng và cuộc kháng chiến. Cách nhìn của Hoàng đã lỗi
thời. Cách nhìn của Độ là quan điểm của nhà văn mới đến với Cách mạng, đang biến chuyển
tích cực.
Với Đôi mắt, ngòi bút hiện thực của Nam Cao đã phê phán triệt để những biểu hiện bảo
thủ lỗi thời vừa đề cập đến vấn đề có tính bản chất cho một nền văn học mới. Nền văn học đó
là nền văn học của nhân dân, cần có một đội ngũ nhà văn của nhân dân, mà nguồn sống và
sức mạnh của nó là hiện thực cuộc sống cách mạng lớn lao của quần chúng. Rõ ràng tư tưởng
nghệ thuật trong Đôi mắt đã thể hiện một phương thức sáng tác mới. Quần chúng cách mạng
và cuộc kháng chiến gian khổ của cả dân tộc đã trở thành trung tâm phản ánh trong tác phẩm
văn chương của Nam Cao. Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao vẫn viết. Ông làm tất cả để
phụng sự kháng chiến. Các sáng tác của ông ở thời kỳ này đều từ cuộc sống sôi động nóng
bỏng của chiến tranh mà ra như: Đường vô Nam, Cách mạng, Đời thừa, Ở rừng, Trên
những con đường Việt Bắc, Từ ngược về xuôi, Bốn cây số cách một căn cứ địch Ở

Dì Hảo). Con trai lớn lên vì nghèo không lấy nổi vợ đành bỏ làng ra đi (Lão Hạc). Cơm
không có mà ăn, người ta phải sống bằng rau má, củ chuối và sung luộc (Lão Hạc)
Nhìn tổng thể, truyện ngắn của Nam Cao viết về đề tài người nông dân có một số loại
nhân vật như sau:
1.1.3.1.1. Người nông dân đói nghèo nhưng vẫn giữ tròn phẩm chất trong sạch.
Điển hình về loại nhân vật này là lão Hạc (Lão Hạc). Đời lão nhiều bất hạnh nhưng lão
rất thương con. Tiền bán chó lão dành dụm cho con. Lão thà ăn củ chuối, sung luộc chứ nhất
định không chịu bán vườn. Cái chết đau đớn của lão là sự hy sinh thầm lặng to lớn để bảo vệ
nguyên vẹn tài sản cho con. Con người đôn hậu, từng ân hận, cảm thấy như có lỗi vì trót đánh
lừa một con chó cũng là người rất tự trọng. Lão Hạc đói nghèo, cô đơn nhưng không chịu
nhận bất kỳ sự giúp đỡ của ai. Chó thân tình xóm giềng, ông giáo mời ăn khoai, uống nước,
lão cũng khất "Xin ông giáo để cho khi khác". Đến cái chết, lão cũng chu tất cho mình. Lão
gửi lại ông giáo mảnh vườn cho con và 30 đồng bạc để "lỡ có chết'' gọi là "của lão có tí chút"
không muốn làm phiền ai.
Cuộc đời lão Hạc đầy nước mắt. Nam Cao đã miêu tả bi kịch cuộc đời ây với cả tấm
lòng xót thương trân trọng. Nhà văn muốn gìn giữ những gì tốt đẹp nhất có được ở người
nông dân nghèo. Bởi phẩm chất trong sạch tốt đẹp của lão Hạc quả có sức tỏa sáng trong xã
hội thực dân phong kiến tối tăm, vẩn đục.
1.1.3.1.2. Người nông dân biến chất lưu manh hóa trong cuộc sống bị áp bức bóc lột.
Điển hình loại nhân vật này là Chí Phèo. Ngoài ra còn có cả Binh Chức, Năm Thọ Họ
đều là những nông dân lương thiện, hiền lành ở làng Vũ Đại, bị đè nén, áp bức đến con
đường cùng thì trở nên ngang ngược, liều mạng. Sau bảy, tám năm ở tù, Chí Phèo trở thành
con quỷ dữ về làng, dám gây sự với Bá Kiến, bốn đời làm tổng lý. Chí Phèo không SỢ đánh

(1)
Nam Cao - Đời văn và tác giả - Hà Minh Đức - NXB Văn học - 1997 trang I
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 21

đập, tù tội. Thân một mình, không đất, không nhà, nên hắn chẳng SỢ mất gì, chẳng sợ liên

giống như tên "hắn" trên kia. Nhà nghèo, vợ con đói khổ không màng, chỉ biết bòn tiền ăn
nhậu, bao nhiêu nợ nần đổ lên đầu vợ.
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 22

Ở loại nhân vật này, ngòi bút hiện thực của Nam Cao vừa phân tích phê phán, vừa
châm biếm. Giọng văn hài hước, khinh bạc như muốn cảnh báo về một thói hư tật xấu đang
gặm nhấm nhân cách con người.
1.1.3.1.4. Người phụ nữ bất hạnh
Tiêu biểu cho loại nhân vật này là cô bé Dần (Một đám cưới), bà cái đĩ (Một bữa no)
và dì Hảo (Dì Hảo). Đây là những điển hình về nhân vật phụ nữ mà cuộc đời đầy bất hạnh
đau thương.
Dần sinh ra trong đói nghèo, vừa cất nhắc nổi vài việc đã phải đi ở. Mẹ mất sớm nên
Dần phải cùng cha gánh vác việc nhà. Dần đi lấy chồng cũng là lúc gia đình ly biệt, tan tác.
Dì Hảo còn bé đã phải làm con nuôi trừ nợ cho mẹ. Là người phụ nữ lanh lợi, giàu tình cảm
nhưng số phận không may. Dì lấy phải người chồng tệ bạc, rượu chè say sưa, phũ phàng. Để
vợ đói nghèo một mình, hắn bỏ nhà ra đi. Khi trở về hắn còn đem theo một con vợ bé. Dì Hảo
chỉ còn biết cắn răng trước những bất công, tàn nhẫn diễn ra ngay trong nhà, do chính người
mình đã từng yêu thương hành hạ. ở những nhân vật bất hạnh này, ngòi bút Nam Cao thể
hiện rất rõ thái độ đồng cảm xót xa. Nhà văn muốn thông qua những cuộc đời đầy nước mắt
để phơi bày một thực trạng xã hội: Những người phụ nữ đang bị chôn vùi cuộc đời trong tay
những người đàn ông đã bị hủy hoại nhân cách bởi chế độ xã hội thực dân phong kiến thối
nát.
1.1.3.1.5. Những nhân vật ngoại hình xấu xí
Tiêu biểu về loại hình nhân vật này có Chí Phèo, thị Nở (Chí Phèo), ngoài ra còn có
Lang Rận, và mụ Lợi (Lang Rận).
Đây là những nhân vật được Nam Cao miêu tả với những đường nét bề ngoài xấu xí
quá mức. Tuy là số ít nhưng để lại ấn tượng nặng nề trong, tác phẩm. Chúng tôi thiết nghĩ,
nếu tả thực nguyên mẫu cũng không thể có ở ngòi bút giàu tính nhân đạo của Nam Cao;
không phải vô cớ truyện ngắn Nam Cao lại xuất hiện những nhân vật xấu xí quá mức ấy. Chí

Cao có những đặc điểm như sau:
1.1.3.2.1. Vỡ mộng
Xuất thân từ những làng quê nghèo, tù túng, lạc hậu, tuổi trẻ trí thức bước vào đời hăm
hở với những mộng ước cao đẹp ở chốn thành thị tấp nập đua chen. Các nhân vật Điền Trăng
sáng, Hộ Đời thừa, Hài" Quên điều độ đều muốn đem hết tài năng ra thực hiện mong ước
của mình. Hộ đã từng "mang một hoài bão lớn", "chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn mỗi
ngày một nảy nở",. Hắn ''nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết tất cả các tác phẩm khúc
cùng ra một thời ", một tác phẩm ''vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn". Nói chung,
đó là những ước mơ chân chính, hướng tới một mục đích sự nghiệp thành đạt rực rỡ.
Bi kịch đầu tiên đến với Hộ và những trí thức trẻ trong truyện ngắn Nam Cao là bi kịch
vỡ mộng từ khi có vợ, có con, gia đình.Hộ sống càng co hẹp cực khổ. Hộ điên người vì kiếm
tiền không đủ để ném vào những khoản chi phí. Lý tưởng nghệ thuật cao siêu đành phải
BÚT PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN
Luận án Thạc sĩ 24

nhường bước cho những bài văn viết vội, những cột báo cẩu thả. Có như thế mới giành giật
được với cuộc sống đói nghèo, bệnh hoạn.
Vỡ mộng chính là nguyên nhân xã hội. Bàn tay độc ác của chế độ thực dân phong kiến
đã bóp chết những tài năng non trẻ, đẩy người trí thức vào ngõ cụt cuộc sống. Ngòi bút hiện
thực phê phán của Nam Cao đã nói lên được ý nghĩa sâu sắc đó.
1.1.3.2.2. Phả định thực tại
"Vỡ mộng" là trạng thái tinh thần chung của những người trí thức vấp phải hoàn cảnh
xã hội không vượt qua được. Họ vốn là những người có khả năng nhận thức, phân tích cuộc
sống xã hội và con người; cho nên khi rơi vào tâm trạng "Vỡ mộng" thường dẫn đến tuyệt
vọng và liền theo đó là thái độ phủ định thực tại.
Là nhà văn như Điền (Trăng sáng) và Hộ (Đời thừa) họ đã nhìn thẳng vào sự thật,
dùng ngòi bút để phơi bày thực trạng đen tối của xã hội, chĩa mũi nhọn tố cáo vào bọn thống
trị thối nát. Trong "Trăng sáng". Điền đã nói rõ quan điểm phủ định đó:
"Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật
có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ".


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status