1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ KIM
HÌNH THỨC NHÂN VẬT KỂ CHUYỆN TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số : 60 22 32 Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHÙNG MINH HIẾN
kể chuyện trực tiếp khiến cho con đường khám phá, tiếp cận đối tượng vừa
thấm thía, vừa hấp dẫn.
1. 2. Ý nghĩa thực tiễn
Với việc nghiên cứu nhân vật kể chuyện, ta có được một công cụ có
tính chất con đường để đi vào phân tích, khám phá tác phẩm của những nhà
3
văn cụ thể, lí giải được một trong những yếu tố trung tâm làm nên nét đặc sắc
trong phong cách nghệ thuật của họ. Tác giả mà chúng tôi chọn để nghiên cứu
ở đây là Nam Cao vì Nam Cao là một tài năng lớn, một nhà văn xuất sắc đã
góp phần cách tân và hiện đại hoá nền văn xuôi quốc ngữ. Ông đóng vai trò
quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Cả cuộc đời Nam Cao là
một quá trình phấn đấu không khoan nhượng cho một nhân cách cao đẹp –
nhân cách trong cuộc đời và nhân cách trong sáng tạo nghệ thuật.
Là nhà văn – chiến sĩ liệt sĩ. Nam Cao khép lại đời văn ở tuổi 35. Ông
để lại trong kho tàng văn chương dân tộc một gia tài không đồ sộ về số lượng
nhưng lại luôn ẩn chứa sức sống, sức bền lâu của một giá trị văn chương vượt
lên trên “các bờ cõi và giới hạn”, có được những tri kỷ, tri âm. Nam Cao là
một trong những nhà văn được lựa chọn để giảng dạy trong chương trình môn
Văn ở trường phổ thông với tư cách tác gia lớn của văn học dân tộc.
Xét riêng trong lĩnh vực lí luận văn học, Nam Cao có những đóng góp
khá đặc sắc, trong đó phải kể đến nghệ thuật kể chuyện mới mẻ, độc đáo
trong truyện ngắn đó là hình thức nhân vật kể chuyện. Chính vì thế, tìm hiểu
nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao sẽ giúp ta lí giải được phần
nào tài năng nghệ thuật, lí giải được một trong những yếu tố quan trọng hình
thành nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của ông và đánh giá được khả năng
tự sự mà Nam Cao mở ra cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.
1. 3. Lịch sử vấn đề
1.3.1. Các nhà nghiên cứu Liên Xô xung quanh G.N.Pôxpêlôp trong “
Dẫn luận nghiên cứu văn học”(1960) có nêu: “ Trần thuật tự sự bao giờ cũng
được tiến hành từ phía một người nào đó. Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích,
5
chuyện: Người kể chuyện lớn hơn nhân vật; người kể chuyện bằng nhân vật
và người kể chuyện bé hơn nhân vật [ 19, tr.126].
1.3.4. Ở Việt Nam, khái niệm “ người kể chuyện” đã được các nhà
nghiên cứu quan tâm và đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Đó là quan niệm của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi trong
“Từ điển thuật ngữ văn học”. Theo đó, “ người kể chuyện là hình tượng ước
lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu
chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình
tượng của chính tác giả, có thể là nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra hoặc
có thể là một người biết một câu chuyện nào đó”[2, tr.191]. Và “ không phải
bao giờ cũng có thể đồng nhất người trần thuật với bản thân tác giả”
[7, tr.213]. Phùng Văn Tửu trong chuyên luận “ Tiểu thuyết Pháp hiện đại,
tìm tòi đổi mới ” cũng khẳng định: “ Nói đến người kể chuyện là nói đến
điểm nhìn được xác định trong hệ đa phương không gian, thời gian, tâm lí, tạo
thành góc nhìn. Người kể chuyện là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện
chính bản thân mình, khoảng cách về không gian từ nơi sự việc xảy ra đến
chỗ đứng của người kể chuyện cũng như độ lệch thời gian giữa lúc sự việc
xảy ra và khi sự việc được kể lại vẫn thường được các nhà tiểu thuyết quan
tâm từ lâu” [42, tr.205]. Ông còn chỉ ra một số loại người kể chuyện: “ Một
dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống là người kể chuyện giấu mặt, coi
như đứng ở một vị trí nào đấy trong không gian, thời gian, bao quát hết mọi
diễn biến của câu chuyện và thuật lại với chúng ta. Chuyện được kể ở ngôi
thứ ba số ít Một dạng phổ biến khác của tiểu thuyết là lối kể ở ngôi thứ nhất
với người kể chuyện xưng tôi ”[42, tr. 207].
Với những quan niệm này, chúng ta có thể hình dung rõ hơn về người
kể chuyện ở cả ngôi thứ nhất (người kể trong cuộc, xưng “ tôi”) và cả ngôi
thứ ba ( người kể đứng ngoài cuộc) trong tác phẩm tự sự.
6
1.3.5.Tuy nhiên, việc nghiên cứu hình thức kể chuyện, phân biệt hình
2. 3. So sánh nét riêng giữa hai hình thức “nhân vật kể chuyện ” và
“ người kể chuyện”, từ đó tìm ra ưu, nhược điểm riêng của từng hình thức kể.
2.4. Từ đó, tác giả luận văn hi vọng cùng bạn đọc cảm thụ được sâu sắc
hơn cái hay, cái đẹp của truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói chung và truyện
ngắn Nam Cao nói riêng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Tìm đọc các tài liệu để từ đó có thể hệ thống hoá những vấn đề lí
luận liên quan đến nghệ thuật kể chuyện nói chung và hình thức “ nhân vật kể
chuyện” nói riêng, từ đó xây dựng một quan niệm đúng đắn về vấn đề này.
3.2. Khảo sát và phân tích kĩ một số truyện ngắn của Nam Cao để thấy
được sự độc đáo, đặc sắc của hình thức nhân vật kể chuyện.
3.3. Khảo sát, phân tích và so sánh giữa hình thức “ nhân vật kể
chuyện” và “người kể chuyện” để thấy được ưu thế của mỗi hình thức trong
sáng tác của Nam Cao.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến nghệ
thuật kể chuyện và đặc biệt là hình thức “nhân vật kể chuyện”.
4.2. Những tài liệu và công trình nghiên cứu về Nam Cao.
4.3. Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến nhân vật
trong tác phẩm tự sự.
4.4. Hà Minh Đức (biên soạn)( 2003), Tuyển tập Nam Cao Tập I,II,
Nxb Văn học. Cụ thể là những truyện ngắn có hình thức “nhân vật kể chuyện”
như:
8
Trước Cách mạng có các truyện: Đui mù; Dì Hảo; Lão Hạc; Quái dị;
Thôi đi về; Điếu văn; Cái mặt không chơi được; Những truyện không muốn
viết; Mua nhà; Truyện tình.
Sau Cách mạng có các truyện: Đường vô Nam; Đôi mắt; Trên những
con đường Việt Bắc; Từ ngược về xuôi; Bốn cây số cách một căn cứ địch; Vui
dân công; Vài nét ghi qua vùng giải phóng; Hội nghị nói thẳng
gọi là “ người trần thuật”, có người đồng nhất hai hình thức kể chuyện theo
ngôi thứ nhất – chủ thể xưng “ tôi” trong tác phẩm với hình thức tự sự theo
ngôi thứ ba và gọi chung là “ người kể chuyện”. Thực ra, sự phân biệt này
cũng có lí riêng của nó. Trong luận văn này, chúng tôi mong muốn chỉ ra sự
khác biệt giữa hai hình thức kể chuyện này.
Về mặt nội hàm khái niệm, cũng có nhiều cách hiểu. Theo Pôxpêlôp thì
“người trần thuật là một người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và
người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra”
[6, tr.88 ]. Trong quan niệm của W.Kayser, thì: “Người trần thuật – đó là một
hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học. Ở
nghệ thuật kể, không bao giờ người trần thuật là vị tác giả đã hay chưa nổi
danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận ” [Dẫn theo I.P.Ilin/20,
tr. 245 ]. Todorov thì lại cho rằng: “ Người kể chuyện là một nhân tố chủ
động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu. Chính người kể chuyện là hiện thân
của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá”[ 23, tr. 490 ].
Ở Việt Nam, nhóm Trần Đình Sử, Lê Bá Hán trong giáo trình Lý luận
văn học (1987) và Từ điển thuật ngữ văn học (1992) đã kế thừa khái niệm
người trần thuật của các nhà lí luận Nga, các nhà lí luận Phương Tây, nhưng
nếu như các nhà lí luận Nga và Phương Tây còn “băn khoăn” khi dùng các khái
niệm này thì nhóm Trần Đình Sử lại khẳng định rằng: “người kể chuyện là hình
10
tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào
câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình
tượng của chính tác giả, có thể là nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra hoặc
có thể là một người biết một câu chuyện nào đó” và “Người trần thuật là hình
thái của hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật, là người mang
tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi” [14, tr.191]. Như vậy,
các khái niệm này chưa phân biệt hai hình thức kể chuyện từ ngôi thứ nhất và
thứ ba, đánh đồng hai hình thức này và gọi chung là “người kể chuyện”.
Đến Phùng Minh Hiến, khái niệm này mới có nội hàm chính xác.
nghệ thuật sẽ có điều kiện phát huy đối đa khả năng liên tưởng, tưởng tượng
của mình, có khả năng thâm nhập, đồng sáng tạo với người kể chuyện. Mỗi
người đọc với vốn sống, vốn văn hoá, với sở thích riêng có thể tự hình dung
ra câu chuyện theo cách riêng của mình. Điểm khác biệt thứ hai giữa người kể
chuyện thực tế với người kể chuyện trong văn bản nghệ thuật là người kể
chuyện thực tế hoàn toàn có thể điều chỉnh câu chuyện theo phản ứng của
người nghe còn người kể chuyện trong văn bản nghệ thuật thì không có quyền
đó. Câu chuyện mà họ kể ra đã được cố định trong văn bản, không thể thêm
bớt hay sửa chữa gì Thứ ba, người kể chuyện trong đời sống thực tế thường
là kể câu chuyện theo tuần tự thời gian, theo trật tự tuyến tính để người nghe
dễ theo dõi. Còn kể chuyện trong văn bản nghệ thuật thì có thể sử dụng lối kể
đảo tuyến, đan xen giữa hiện tại, quá khứ và tương lai để làm tăng sức hấp
dẫn cho câu chuyện mình kể.
1.1.2. “Nhân vật kể chuyện” là một dạng nhân vật đặc biệt trong tác phẩm
tự sự
Nhân vật kể chuyện là một nhân vật nhưng là một kiểu nhân vật đặc
biệt, nó có những điểm khác so với các nhân vật trong tác phẩm. Tính chất
đặc biệt của nhân vật kể chuyện thể hiện ở những điểm sau:
12
Trước hết, nhân vật kể chuyện không chỉ là một nhân vật tham gia
trong tác phẩm mà còn có chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, tổ chức các
nhân vật khác.
Thứ hai, nhân vật kể chuyện còn hướng dẫn bạn đọc tiếp cận với các
nhân vật khác trong tác phẩm.
Thứ ba, nhân vật kể chuyện thường là nhân vật chính, tham gia vào sự
kiện, biến cố của cốt truyện và đứng cùng bình diện với các nhân vật khác.
Trong trường hợp này, ta hoàn toàn có thể nhận ra nhân vật kể chuyện thông
qua những dấu hiệu như tên, nghề nghiệp, hình dáng, tính cách. (Bé Hồng
trong Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thuần trong Tướng về hưu của
Nguyễn Huy Thiệp, Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của
trường đại học của tôi) ta phần nào đó thấy được cuộc đời cơ cực gian khổ và
những nỗ lực không ngừng vươn lên tới đỉnh cao văn hoá của tác giả Gorki.
Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng là những kỉ niệm sâu sắc về thời thơ ấu
của nhà văn. Những đắng cay, tủi nhục, những khát khao, ước mơ mà nhân
vật tôi trải qua cũng chính là những cảm giác, tâm trạng mà Nguyên Hồng đã
từng nếm trải trong quá khứ. Phong Lê khi đọc xong tác phẩm này đã bày tỏ
xúc động: “Tôi cứ ngẩn ngơ hoài trước một tuổi thơ sao mà cay cực thế, mà
sao nhà văn có thể thành thực đến thế. Một sự thành thực đến tận cùng chi tiết
khiến người ta đọc đến mà sững sờ, mà nổi gai lên trong tâm trí, mà run rẩy
đến từng xúc cảm” [37, tr.131].
Như vậy, giữa người kể chuyện và tác giả có nét thống nhất nhưng ta
tuyệt đối không được đồng nhất với nhau.
Thứ nhất, tư tưởng của tác giả rộng hơn tư tưởng của nhân vật kể
chuyện; tư tưởng của tác giả được thể hiện trong toàn bộ tác phẩm – qua cả
14
nhân vật và qua cả chủ thể kể chuyện. Hay nói một cách khác, quan hệ giữa
tác giả và nhân vật kể chuyện giống như mối quan hệ giữa tổng đạo diễn với
nhân vật của họ trong sân khấu, điện ảnh. Chẳng hạn, để hiểu được tư tưởng
của Leptônxtôi trong Chiến tranh và hoà bình ta phải tổng hợp tư tưởng của
tất cả các nhân vật như: Anđrrây, Pie, Natasa Nếu chúng ta dựa vào nhân
vật kể chuyện để đánh giá, phán xét tác giả thì sẽ là cực đoan, phiến diện.
Một số người đã phê phán Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn không có tâm, đã
bôi nhọ lịch sử, hạ thấp thần tượng cũng bởi chính lí do này. So với tư tưởng
của nhân vật kể chuyện, tư tưởng của tác giả thường là khái quát hơn.
Chẳng hạn, trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn, nhận thức của chủ thể kể
chuyện xưng tôi – người điên chỉ mới là những nhận thức cụ thể, trực tiếp,
cảm tính còn nhận thức của tác giả là nhận thức mang tính khái quát, tổng
hợp. Cái mà nhân vật kể chuyện xưng tôi gọi là “ ăn thịt người” thì chỉ là ăn
thịt về thể xác còn hàm ý “ ăn thịt người” của tác giả là ăn thịt về tinh thần.
Những kẻ ăn thịt người mà nhân vật tôi nói đến là những con người cụ thể
mong manh, mơ hồ, nó thay đổi diễn biến rất tinh tế theo thời gian. Khi đọc
Chân dung một hoạ sĩ thời trẻ của Jam Joyce, W.y.Tindall khẳng định:
“Stephen không phải là Joyce mà là quá khứ của Joyce”. Khi tác giả kể lại
câu chuyện có thật đã từng xảy ra trong cuộc đời mình thì bản thân tác giả
trong hiện tại tức là nhân vật kể chuyện trở thành người quan sát, phán xét,
bình luận còn bản thân tác giả trong quá khứ lại trở thành đối tượng của sự
quan sát, phán xét đó. Và rõ ràng, giữa nhân vật kể chuyện với tác giả bây giờ
có một khoảng cách rất rõ rệt.
16
Từ sự phân tích trên, chúng tôi tạm thời đưa ra một khái niệm chung về
nhân vật kể chuyện như sau: Nhân vật kể chuyện là một công cụ có tính chủ
thể hành động do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện. Nhân vật kể chuyện là
một nhân vật nhưng là một dạng nhân vật đặc biệt không những có chức năng
tổ chức các nhân vật khác, tổ chức kết cấu của tác phẩm mà còn đồng thời là
đối tượng của sự khám phá nghệ thuật như những nhân vật khác. Giữa nhân
vật kể chuyện và tác giả có một mối liên hệ mật thiết với nhau. Qua nhân vật
kể chuyện ta có thể thấy được tư tưởng, quan niệm của tác giả nhưng ta tuyệt
đối không được đồng nhất giữa nhân vật kể chuyện với bản thân tác giả.
1.2. Chức năng của nhân vật kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Việc tác giả lựa chọn kiểu nhân vật nào để kể chuyện không phải là
một sự ngẫu nhiên mà nó mang tính quan niệm, nhằm mục đích chuyển tải tư
tưởng, nội dung một cách hiệu quả nhất. Ta hiểu vì sao tác giả của những
khúc ngâm rất đậm chất tự sự như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm là đàn
ông nhưng nhân vật kể chuyện trong tác phẩm này lại là nữ. Có lẽ chỉ có thể
nhân vật kể chuyện là nữ thì mới có thể nói được một cách chân thực nhất khi
hạnh phúc bị chia li, không trọn vẹn. Thử hỏi nếu Chinh phụ ngâm, Cung oán
ngâm được kể theo điểm nhìn của người kể chuyện đứng từ bên ngoài thì tâm
lí nhân vật có được mô tả chân thực, tinh tế hay không? Hay trong những năm
gần đây ta thấy trong truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai - một nhà văn nữ lại
hay xuất hiện hình tượng nhân vật kể truyện xưng tôi là nam. Phải chăng
cho sự nối kết tài hoa và khéo léo của nhân vật kể chuyện. Tác phẩm gồm
nhiều câu chuyện khác nhau, có vẻ như không liên quan đến nhau. Đó là câu
chuyện đáng buồn của một xã hội đã lừng lẫy tiếng tăm với đủ thứ luận chứng
cờ thưởng nay lâm vào khủng hoảng bị dồn vào ngõ cụt. Câu chuyện thứ hai
18
kể về nghề viết văn trong thời kinh tế thị trường. Bản thảo đã bị trả lại, cuộc
sống của người cầm bút trở nên lao đao, mất ổn định. Câu chuyện thứ ba kể
về cuộc đời ông Cậy – chủ của một gia đình đã từng làm ăn rất phát đạt, bây
giờ sa sút, thua lỗ, con cái phải tha hương khắp nơi. Chính nhân vật kể chuyện
với sự tài tình, khéo léo của mình đã kết nối các sự kiện riêng lẻ ấy thành một
mạch truyện thống nhất, liền mạch để làm nổi bật vấn đề “anh hùng vĩ bận”.
Với các cách kể khác nhau, cách tổ chức hệ thống sự kiện khác nhau,
nhân vật kể chuyện sẽ hình thành nên các dạng cốt truyện khác nhau: cốt
truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lí, cốt truyện “ chuyện lồng chuyện” Có
tác phẩm chỉ có một người kể chuyện và cũng chỉ kể một câu chuyện
(Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan; Ngôi nhà xưa của Đặng Nhật
Minh). Có tác phẩm chỉ có một nhân vật kể chuyện nhưng kể nhiều câu
chuyện khác nhau ( Đất kinh kì của Nguyễn Khải; Phố nhà binh của Chu Lai).
Có tác phẩm trong đó có nhiều người kể chuyện cùng kể về một câu chuyện
( Khách ở quê ra của Nguyễn Minh Châu). Cũng có tác phẩm trong đó nhiều
nhân vật kể chuyện kể nhiều câu chuyện khác nhau (Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu)
Tóm lại, nhân vật kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc tổ chức kết
cấu tác phẩm. Chính Timofiev cũng khẳng định: “Hình tượng này có tầm
quan trọng hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm,
các biến cố xẩy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ
cá nhân người kể chuyện” [ 11, tr.44].
1.2.2. Nhân vật kể chuyện với chức năng dẫn dắt, định hướng người đọc
Gorki khẳng định: “Trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn, những con
người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác giả
20
sự phản ứng của người đọc, chọc tức người đọc, buộc người đọc phải lên
tiếng, phải đối thoại. Trong Kiếm sắc, Đặng Phú Lân đã bị Gia Long chém
chết bằng chính thanh bảo kiếm của mình. Nhưng sau đó nhân vật kể chuyện
lại điềm nhiên kể: “Lân và Hoa trốn lên Đà Bắc, giả làm người Mường, về
sau lập trai sinh con ở đấy trở thành tổ phụ của ông Quách Ngọc Minh”.
Trong truyện ngắn Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật kể chuyện đưa
ra kết thúc khác về số phận của Ngô Thị Vinh Hoa: “ Ít lâu sau, ở vùng
huyện lỵ Đà Bắc, người ta vớt được một xác phụ nữ quý tộc nổi trên sông,
trên tay có bế một đứa bé còn sống. Quan sở tại báo việc này về triều đình.
Vua Gia Long cho người lên xem xét nhận ra người chết giống hệt
Ngô Thị Vinh Hoa ” Nhân vật kể chuyện đã đẩy người đọc vào những tình
huống hỗn độn, buộc người đọc không thể tin cậy hoàn toàn vào những lời
anh ta kể mà phải tìm tòi để đưa ra một cách kiến giải của riêng mình.
Nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải là một người rất
có ý thức trong việc lôi kéo người đọc cùng tham gia vào câu chuyện, buộc họ
phải phản ứng. Ngôn ngữ của nhân vật kể chuyện chứa đựng nhiều đối thoại
ngầm. Trong Anh hùng bĩ vận, lời kể như là lời đối thoại của hai ý thức độc
lập – nhân vật kể chuyện xưng tôi đã phân thân để đối thoại với chính mình
về nghề viết: “Anh viết chính trị quá, cao siêu quá bạn đọc sẽ khó mua. Bạn
đọc nào? Bạn đọc của tôi vẫn trung thành với tôi mà? Bạn đọc quen thuộc của
anh đã tới tuổi về hưu rồi, đã về hưu tiền ăn còn chả đủ lấy đâu tiền mua
sách”. Có nhiều khi lời kể còn mang tính khiêu khích người đọc: “Này các
bạn trẻ, các bạn chớ có vội cười, các bạn chớ có nghĩ một cách tự phụ rằng
chỉ có lứa tuổi các bạn mới biết mãnh lực tình yêu. Không nên chủ quan như
thế! Các bà nội cũng vẫn có, nếu như cái ma lực ấy các cụ không tiêu xài quá
phung phí lúc thiếu thời ”. Không còn là bạn đọc chung chung nữa, nhân vật
21
kể chuyện hướng đích danh đến các bạn trẻ, buộc họ phải nhập cuộc, đồng
tình hoặc phản đối.
độ đau buồn vì xã hội thối nát đã làm vẩn đục tình cảm con người, tạo nên
một bức tường ngăn cách người với người: “ Tôi đã lớn tiếng yêu cầu xoá bỏ
sự ngăn cách giữa người lao động với trí thức, đạp đổ bức tường do chế độ
phong kiến dựng lên”. Trong Nhật ký người điên, nhân vật kể chuyện đã phê
phán những kẻ ăn thịt người; đã kêu gọi xã hội hãy “cứu lấy trẻ em”.
Bên cạnh quan niệm về cuộc sống, qua nhân vật kể chuyện ta còn thấy
được quan niệm của nhà văn về văn chương nghệ thuật. Đọc truyện ngắn
Nam Cao, nếu ta tập hợp những suy nghĩ của nhân vật kể chuyện lại thì có thể
thấy được quan niệm văn chương tương đối hoàn chỉnh, hệ thống và nhất
quán của nhà văn. Đó là quan niệm về mối quan hệ giữa văn chương và hiện
thực: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa
dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm
than” (Giăng sáng). Đó còn là quan niệm về tính sáng tạo độc đáo của văn
chương nghệ thuật: “ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay,
làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những
người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo
những gì chưa có” (Đời thừa). Nhân vật kể chuyện trong Những truyện không
muốn viết đã chế giễu những nhà văn a dua, chạy theo mốt thời thượng, “thấy
người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”. Và trong truyện ngắn Nhỏ nhen, cũng
qua lời nhân vật kể chuyện, Nam Cao bộc lộ quan điểm coi trọng vai trò của
chủ thể trong sáng tạo văn học: “Nhà văn phải biết cách dùng những câu
chuyện chẳng có gì để nói những cái sâu sắc”.
23
Qua nhân vật Thuần - nhân vật kể chuyện xưng Tôi trong Tướng về hưu,
Nguyễn Huy Thiệp đã nói được cảm nhận của mình về bản chất của sự sáng
tạo nghệ thuật. Thuần “cứ mơ hồ cảm thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những
con người cô đơn khủng khiếp”. Trong Đất kinh kỳ, Nguyễn Khải cũng đã gửi
gắm một quan niệm khá sâu sắc về văn chương qua nhân vật kể chuyện:
“Văn chương đâu phải là thứ để dành được, ướp lạnh được, không dùng trước
thì dùng sau hoặc dùng dần. Nó là sự sống mà lại là phần thiêng liêng mong
mình mà kể về những gì mình chứng kiến. Càng rắc rối và dễ gây lúng túng
nữa khi lầm lẫn “ tôi” với tác giả. Nhân vật kể chuyện có thể có tên, có thể
không có tên chỉ xưng “tôi” trong tác phẩm . Trong những năm gần đây, các
tác phẩm sử dụng phương thức tự sự ở ngôi thứ nhất với nhân vật xưng tôi
ngày càng nhiều. Điều đó phần nào cho thấy ưu thế của nó so với hình thức kể
chuyện truyền thống (kể từ ngôi thứ ba).
1.3.2. Nhân vật kể chuyện có cuộc sống xã hội - văn hoá và số phận cá
nhân ít nhiều được hình thành trong tác phẩm
Trong Lão Hạc, nhân vật kể chuyện xưng tôi - ông giáo –là một người
biết đồng cảm, chia sẻ với nỗi đau khổ của lão Hạc; là người có vai trò dẫn
chuyện, chắp nối các sự kiện, tạo điều kiện cho nhân vật chính xuất hiện trong
những tình huống, cảnh ngộ nhất định. Nhưng cũng chính qua các tình huống
cảnh ngộ ấy ta có thể thấy cuộc sống, số phận của ông giáo. Sau khi nghe lão
Hạc bảo: “Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!”. “Tôi (ông giáo) ngồi lặng
lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi Không! Lão Hạc ơi! Ta có
quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào
đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi…”[46, tr.105-106]. Hoá ra ông giáo
cũng có một gia cảnh nặng nề chẳng kém gì lão Hạc; vì thế dù thông cảm
muốn giúp đỡ lão Hạc nhưng đành bất lực: “Tôi nói chuyện lão với vợ tôi.
25
Thị gạt phắt đi: - Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão
khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con
mình cũng đói […]. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão
Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất
cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi
dần dần…” [46, tr.113-114].
1.3.3. Nhân vật kể chuyện với tư cách người trong cuộc
Trong truyện ngắn Đôi mắt, nhân vật Độ - một nhà văn kiểu mới, thuộc
về nhân dân, nhân vật xưng “tôi” trong tác phẩm - là một nhân vật không có
gì nổi bật, thậm chí chân dung anh hoà lẫn với hình ảnh những người kháng